DANH MỤC BẢNG
|
|
|
Trang |
|
Bảng 1. |
Hệ thống di tích ở tỉnh Ninh Thuận năm 2024 |
19 |
|
Bảng 2. |
Quan điểm, chủ trương, đường
lối văn hóa
của Đảng |
21-22 |
|
Bảng 3. |
Chính sách, chiến lược văn hóa và pháp luật về di sản văn hóa của Việt
Nam và các luật liên
quan |
22 |
|
Bảng 4. |
Văn bản pháp
quy về di tích và hoạt động
quản lý, bảo tồn di tích ở Việt
Nam |
22 |
|
Bảng 5. |
Quy định về công tác quản lý di sản và bảo tồn di tích ở tỉnh Ninh Thuận |
23 |
DANH MỤC HÌNH ẢNH
|
|
|
Trang |
|
Hình 1. |
Bản đồ hành chính
tỉnh Ninh
Thuận |
18 |
MỤC LỤC
|
Trang |
|
|
MỞ ĐẦU |
|
|
1. Lý do chọn
đề tài |
4 |
|
2. Mục đích nghiên
cứu |
5 |
|
3. Tổng
quan tình hình
nghiên cứu |
5 |
|
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu |
6 |
|
5. Lý thuyết, câu hỏi và giả thuyết
nghiên cứu |
6 |
|
6. Phương
pháp nghiên cứu |
7 |
|
7. Ý nghĩa
khoa học và thực tiễn của đề
tài |
7 |
|
8. Bố cục của
tiểu luận |
7 |
|
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH Ở TỈNH NINH THUẬN |
8 |
|
1.1. Các khái niệm liên quan |
8 |
|
1.1.1. Khái niệm
về di sản
văn hóa |
8 |
|
1.1.2. Khái niệm
về di tích |
8 |
|
1.2. Quan điểm bảo tồn di sản văn hóa |
9 |
|
1.2.1. Quan điểm khoa học |
9 |
|
1.2.2. Quan điểm,
chủ trương và đường lối của Đảng |
13 |
|
1.3. Hệ thống di tích ở tỉnh Ninh Thuận |
14 |
|
1.3.1. Khái quát
vùng đất Ninh Thuận |
14 |
|
1.3.2. Đặc điểm
hệ thống di tích ở Thuận |
19 |
|
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG
TRIỂN KHAI CHÍNH
SÁCH, CHIẾN LƯỢC VÀ PHÁP LUẬT TRONG QUẢN LÝ DI TÍCH Ở TỈNH NINH THUẬN |
20 |
|
2.1. Hệ thống chính sách, chiến lược văn hóa và pháp luật về di sản văn hóa ở Việt Nam và các
văn bản quy định của Ninh Thuận |
20 |
|
2.2. Thực
trạng triển khai
các chính sách,
chiến lược và pháp luật về di sản văn hóa vào công tác
quản lý di tích ở Ninh Thuận |
23 |
|
2.2.1. Thuận lợi và kết quả đạt
được |
23 |
|
2.2.2. Thách thức
và khó khăn |
25 |
|
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP XÂY DỰNG
CÁC VĂN BẢN QUY ĐỊNH VÀ CHIẾN LƯỢC
QUẢN LÝ DI TÍCH Ở NINH THUẬN |
27 |
|
3.1. Giải
pháp xây dựng
các văn bản quy định
và chiến lược
quản lý di tích ở tỉnh Ninh Thuận |
27 |
|
3.2. Kiến nghị và đề xuất đến các bên liên quan trong
hoạt động bảo tồn và phát
huy giá trị
di tích |
28 |
|
KẾT LUẬN |
29 |
|
TÀI LIỆU THAM KHẢO |
30 |
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ là không gian hội tụ nhiều yếu tố
đặc trưng của di sản văn hóa các dân tộc, cả ở phương diện văn hóa vật thể và
phi vật thể. Đặc biệt ở Ninh Thuận có di sản Champa phong phú trong nền văn hóa
Việt Nam đa dạng và thống nhất; không chỉ hiện diện ở Việt Nam mà còn để lại dấu
ấn tại một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới, qua các công trình kiến
trúc, nhưng di tích đang được hồi sinh.
Di sản văn hóa là một bộ phận quan trọng của văn hóa dân tộc. Đó là những
giá trị văn hóa có sức sống trường tồn, đã vượt qua được sử thẩm định của thời
gian để từ quá khứ đến được với hiện tại [13, tr.5]. Với lịch sử hình thành, tiếp
biến và phát triển qua hàng ngàn năm, tỉnh Ninh Thuận là vùng đất có bề dầy lịch sử
- văn hóa và điều kiện thiên
nhiên đã tạo cho Ninh Thuận như một kho tàng di sản văn hóa quý
giá đó là hệ thống cơ sở di tích với sự phong phú và đa dạng về các loại hình.
Hệ thống di tích ở Ninh Thuận đã tạo
nên bức tranh văn hóa đa sắc màu bởi
sự dung hợp, giao lưu giữa dòng văn hóa tộc người chủ thể - người Việt, người
Chăm, Raglai, Chu Ru, Cơ Ho và dòng văn hóa của người Hoa.
Trong thời gian qua, kể từ khi Quốc hội ban hành Luật Di
sản văn hóa số 28/2001/QH10 ngày 29/6/2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Di sản văn hóa số 32/2009/QH12 ngày 18/6/2009 và Nghị định
98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di
sản văn hóa [15]. Đồng thời, để tạo được cơ sở pháp lý phục vụ tốt cho công
tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích, Tỉnh ủy ban hành Chỉ thị số 14-CT/TU ngày 15/6/2016, về việc tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa
vật thể và phi vật thể trên địa bàn tỉnh; UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số
3835/KH-UBND ngày 20/9/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận về việc triển
khai thực hiện Chỉ thị 14-CT/TU ngày 15/6/2016 của Tỉnh ủy;
Do vậy, công tác quản
lý di tích ở Ninh Thuận đã có những chuyển biến tích cực vì được sự quan tâm nên các di tích
trọng điểm được đầu tư trùng tu, tôn tạo, đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ văn
hóa của cộng đồng. Tuy nhiên, thực tiễn vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế như việc
tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước về quản lý
di tích đến cộng đồng chưa được thực hiện đầy đủ; còn chồng chéo giữa các văn bản quy định; các thủ tục,
trình tự hồ sơ còn rườm rà, phức tạp; thời hạn tiếp nhận giải quyết hồ sơ kéo
dài gây mất nhiều thời gian lẫn công sức; phân bổ chính sách đầu tư cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích còn hạn hẹp. Đây là những
vấn đề đặt ra đối với cơ quan quản lý di tích ở tỉnh Ninh Thuận trong bối cảnh
đô thị hóa và hội nhập quốc tế. Cho đến nay (2024), đã có một số
nghiên cứu tổng quan về công tác quản lý di sản văn hóa, tuy nhiên chưa có công
trình nào nghiên
cứu chuyên sâu, có tính hệ thống về lý luận và thực tiễn trong việc xây dựng,
hoạch định các chính sách,
chiến lược và văn bản quy định về
quản lý di tích phù hợp với đặc điểm,
điều kiện ngữ cảnh của một địa phương
cụ thể. Trước những thực trạng và sự cấp thiết của vấn đề nghiên cứu, dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn, đồng
thời kế thừa những công trình khoa học đã công bố, chúng tôi quyết định chọn đề
tài “Chính
sách, chiến lược và pháp luật về quản lý di tích ở tỉnh Ninh Thuận” làm nội dung nghiên cứu cho tiểu luận này.
2.
Mục đích nghiên cứu
Nhận diện thực trạng triển khai các chủ trương, chính sách
và pháp luật về di sản văn hóa trong công tác quản lý di tích ở tỉnh Ninh Thuận.
Đề xuất giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực thi các
chủ trương, chính sách và pháp luật về di sản văn hóa trong công tác quản lý di
tích ở tỉnh Ninh Thuận trước bối cảnh đô thị hóa và hội nhập quốc tế.
3.
Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong bối cảnh của Việt Nam hiện nay, Đảng và
Nhà nước dành sự quan tâm
tới các di sản văn hóa với nhiều chính sách nhằm bảo vệ, lưu giữ và phát huy các giá
trị của chúng. Đề tài tiểu luận đã tham khảo và kế thừa có dẫn nguồn một số kết quả của những công trình nghiên cứu như: Một số vấn đề về di tích lịch sử văn hóa của
tác giả Lưu Trần Tiêu [18]. Tác giả Đặng Văn Bài trong Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa [1]. Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình
đổi mới và hội nhập quốc tế của hai tác giả Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn (đồng chủ
biên) [5]. Quản lý văn hóa đô thị trong điều kiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất
nước của Lê Như Hoa [7]. Tác giả Hà Văn Tấn trong bài viết Bảo vệ
di tích lịch sử văn hóa trong bối cảnh công nghiệp
hoá hiện đại hóa đất nước [16].
Bài viết Tầm
nhìn tương lai đối với di sản văn hóa và hệ thống bảo vệ di tích ở nước ta của tác giả
Nguyễn Quốc Hùng [10]. Đề tài nghiên cứu Bảo
vệ di sản văn hóa trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc
tế của Nguyễn Thế Hùng [11]. Công trình nghiên cứu Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể Thăng Long - Hà Nội do
tác giả Nguyễn Chí Bền chủ biên [3].
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên
cứu chính của tiểu luận là thực trạng triển khai các chủ
trương, chính sách và pháp luật về di sản văn hóa và giải pháp thực thi đối với
công tác quản lý di tích ở tỉnh Ninh Thuận trong bối cảnh đô thị hóa và hội nhập quốc tế.
4.
Lý thuyết, câu hỏi và giả thuyết nghiên
cứu
Đề tài vận dụng lý thuyết duy vật biện chứng
kết hợp với các quan điểm
khoa học về bảo tồn di sản cùng với những chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, chiến lược văn hóa và pháp luật về di sản văn hóa ở Việt Nam trong hoạt động thực thi quản lý di tích ở
tỉnh Ninh Thuận.
Đề tài đặt ra câu
hỏi và giả thuyết nghiên cứu như sau: Thực trạng triển khai các chính sách, chiến
lược và pháp luật về di sản văn
hóa trong hoạt động
quản lý di tích ở Ninh Thuận hiện nay ra sao? Làm thế nào để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn và phát
huy giá trị của các di tích ở Ninh
Thuận. Trên cơ sở đó, đưa ra giả thuyết vùng đất Ninh Thuận sớm là nơi tụ cư các tộc người Việt, Chăm, Raglai, Hoa… nên các loại hình di tích ở Ninh Thuận hiện nay là sản
phẩm của sự dung hợp đa văn hóa trên nền tảng văn hóa chủ thể tộc người Việt, Chăm,
Raglai, Hoa… ở Nam Trung bộ. Tuy nhiên, chưa được nhận diện đầy đủ về
đặc điểm, giá trị nên công tác triển khai thực thi chính sách, chiến lược và
pháp luật về hoạt động quản lý di tích chưa được hoàn thiện, chưa đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương.
5.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp được sử dụng chủ yếu trong luận án là phương pháp định tính gồm các nhóm thao
tác nghiên cứu: Tổng hợp, phân tích tài liệu thành văn; điền dã, quan sát tham
dự và phỏng vấn thực địa.
6.
Ý
nghĩa khoa học và thực tiễn của
đề tài
Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở lý luận khoa học và
thực tiễn góp phần nhận diện có hệ thống
về công tác quản lý di tích ở tỉnh Ninh
Thuận. Đồng thời, cung cấp các
nhóm giải pháp và kiến nghị có
cơ sở khoa học và mang tính ứng dụng thực
tiễn góp phần nâng cao hiệu
quả quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của các di
tích ở tỉnh Ninh Thuận.
7.
Bố cục của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, tiểu luận gồm có 03 chương như sau:
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ
LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH Ở TỈNH NINH THUẬN
Diễn giải các khái niệm liên quan đến đề tài để làm cơ sở lý luận và giới
thuyết vấn đề nghiên cứu như: di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể); di tích,
bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích; quan điểm khoa học về bảo tồn di sản; quan điểm, chủ trương của Đảng và giới thiệu
tổng quan vùng đất Ninh Thuận và đặc điểm của hệ thống di tích ở tỉnh Ninh Thuận.
CHƯƠNG 2. THỰC
TRẠNG TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH, CHIẾN LƯỢC VÀ PHÁP LUẬT TRONG QUẢN LÝ DI TÍCH Ở TỈNH
NINH THUẬN
Trình bày về hệ thống chính
sách, chiến lược văn hóa và pháp luật về di
sản văn hóa ở Việt Nam và các văn bản quy định của Ninh
Thuận. Phân tích về
vai trò của Nhà nước và chính quyền địa phương trong việc quản lý di tích ở Ninh
Thuận. Đồng thời, phân tích thực trạng triển khai các
chính sách, chiến lược và pháp luật về di sản văn hóa vào công tác quản lý di tích ở Ninh Thuận. CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP XÂY DỰNG CÁC VĂN BẢN QUY ĐỊNH
VÀ CHIẾN LƯỢC QUẢN LÝ DI TÍCH Ở NINH
THUẬN
Đề xuất nhóm giải pháp xây dựng các văn bản quy định và
chiến lược quản lý di tích ở địa phương. Kiến nghị các bên liên quan trong việc
thực thi chính sách, chiến lược và pháp luật về di sản vào hoạt động quản lý, bảo tồn và
phát huy giá trị di tích ở tỉnh Ninh Thuận trước bối cảnh đô thị hóa và hội nhập
quốc tế.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH
Ở TỈNH NINH THUẬN
1.1. Các khái niệm liên quan
1.1.1. Khái niệm về di sản văn hóa
Di sản văn hóa là tài sản quý giá có vai trò quan trọng
và đóng góp tích cực vào sự phát triển xã hội, vì lợi ích của xã hội và phát
huy truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các tộc người,
quan điểm này đã được khẳng định tại Luật Di sản văn hóa (2009) như sau: “Di sản văn hóa Việt
Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn
hóa nhân loại, có vai trò to
lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” [15]. Đồng thời,
theo Luật này quy định di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể,
tất thảy đều là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được
lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở Việt Nam. Luật Di sản văn hóa (2001)
phân chia di sản thành hai loại cơ bản, đó là: “Di sản văn hóa vật thể” là sản
phẩm vật chất có giá trị
lịch sử, văn hoá, khoa học, bao
gồm di tích lịch sử - văn
hoá, danh lam thắng cảnh, di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia. “Di sản văn hóa phi vật thể” là sản phẩm tinh thần gắn
với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị
lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được
tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng,
truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác (2009).
1.1.2. Khái niệm về di tích
Di tích lịch sử - văn hóa
và các loại hình di tích
khác không phải là toàn
bộ hệ thống di sản văn hóa của
một cộng đồng hoặc một quốc gia, nhưng đó là
bộ phận rất quan trọng để
cấu trúc nên hệ thống di sản văn hóa của cộng đồng,
quốc gia, dân tộc đó. Loại hình
di sản vật thể này trong
một thời gian dài được xếp vào loại hình di sản quan trọng nhất bởi vì nó thật sự dễ dàng nhận biết so với các loại hình di sản phi vật thể. Do vậy, di tích được định nghĩa cụ thể trong Luật Di sản văn hóa (2001) của Việt Nam, đó là: “di tích lịch sử - văn hóa là
những
công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc
công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học”.
Với định nghĩa nêu trên của Luật Di sản văn hóa đã phân biệt di tích lịch sử văn hóa với các hình thái di sản
vật thể khác như danh thắng, cổ vật và các sản phẩm thủ công truyền thống.
Trong một di tích lịch sử - văn hóa hay một di
tích nói chung,
gồm có ba thành tố cấu trúc, đó là: thành tố “động sản” là đồ thờ tự, đồ lưu niệm, đồ dùng sinh hoạt v.v..; thành tố “bất động sản” là địa điểm,
công trình xây dựng v.v..; thành tố “ngữ cảnh” là môi trường cảnh quan, hệ sinh
thái, không gian kiến trúc v.v. Di tích có thể là một loại hình hoặc một công
trình di tích đơn lẻ (di tích lịch sử - văn hóa, di tích kiến trúc nghệ thuật,
di tích khảo cổ), nhưng bên cạnh đó còn có một quần thể di tích hay một tổng
thể di tích liên kết bởi nhiều
công trình di tích đơn lẻ ở các địa điểm khác nhau
hoặc bao gồm cả một khu vực trong cùng địa phương hoặc nhiều địa phương để hợp thành. Bên cạnh di tích lịch sử văn hóa thì “danh lam thắng cảnh” cũng
được đề cập trong Luật này như sau: “danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp
giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm
mĩ, khoa học” (2001).
1.2. Quan điểm bảo tồn di sản văn hóa
1.2.1. Quan điểm khoa học
1.2.1.1. Bảo tồn nguyên
trạng
Bảo tồn nguyên trạng là những cách thức và biện pháp để bảo
vệ sự tồn tại của sự vật - hiện
tượng mà vẫn đảm bảo giữ nguyên trạng thái tồn tại như vốn có của nó trong
những thời điểm nhất định của lịch sử. Bảo tồn nguyên trạng giữ được hình ảnh
nguyên gốc nói lên thuộc tính ý nghĩa và phản ảnh được lịch sử gắn với sự vật -
hiện tượng đó. Chính vì vậy, bảo tồn nguyên trạng đem đến ưu thế nổi bật cho
công chúng cái nhìn chính xác và chân thật hoặc không bị sai lệch về sự vật hiện tượng do nhãn quan lịch
sử mang lại. Nhưng với hình thức bảo tồn này cũng có những khó khăn nhất định.
Đó là, việc bảo quản giá trị di sản văn hóa luôn khó, không chủ động trước được các yếu tố tác động trực tiếp. Nguyên
tắc bảo tồn này cũng gặp khó
khăn trong việc quy tụ nhân tài và vật lực trong việc bảo tồn và kết quả của việc bảo tồn này ít
mang xu hướng của tính thời đại. Trên thực tế công tác bảo tồn nguyên trạng
được áp dụng khá phổ biến trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể, đặc biệt
là loại hình di sản tín ngưỡng dân gian.
1.2.1.2. Bảo tồn
trên cơ sở kế thừa
Quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa những giá trị độc đáo
mang tính bản sắc của quá khứ dường như là một xu thế bảo tồn phổ biến hiện
nay. Trên thực tế cho thấy, với quan điểm này thì tính chân thật của giá trị tín ngưỡng nữ thần chỉ được tôn trọng một phần, phần còn lại nằm ở vấn đề ý thức xã hội áp đặt lên cả ý thức cá nhân và cộng đồng.
Chính vì thế, dẫn
đến thực trạng tại Ninh Thuận có một số ngôi miếu bị hoán đổi thần vì lý do chủ quan nào đó của người
dân phụ trách trông coi ngôi miếu và cũng dẫn đến thực trạng chế lược hoặc thậm chí là cắt bỏ
những thành tố cấu thành nên chỉnh thể của điểm thờ nữ thần như: không bài vị,
không có tượng, hoặc là sự tùy tiện của người
trông coi dẫn đến thực trạng một ngôi miếu chứa nhiều yếu tố tín ngưỡng khác nhau nên đã làm thay đổi nguyên trạng, hình thức, nội dung và
đặc điểm của tín ngưỡng chính thể trong ngôi miếu mặc dù những thay đổi đó có
thể tốt hơn hoặc xấu hơn nhưng
cũng tác không nhỏ đến giá trị của các loại hình tín ngưỡng ở Ninh Thuận nhất là ở một số miếu Ngũ Hành.
1.2.1.3. Bảo tồn theo hướng phát triển
Đối với quan điểm bảo tồn phát triển, Nguyễn Xuân Hồng có nêu “quản
lý một loại hình di sản (lấy ví dụ là lễ hội) không còn là vấn đề tìm những biện
pháp để bảo tồn nguyên vẹn di sản, mà quan trọng hơn là làm thế nào để di sản
tồn tại song hành với xã hội đương đại của chúng ta. Vì vậy, cần có những biện
pháp quản lý di sản một cách thích hợp với những yêu cầu của thời đại hiện nay” [9, tr.176]. Những yêu cầu của thời đại luôn
được đặt trong một bối cảnh
chính trị - kinh tế - xã hội và văn hóa nhất định. Mối quan hệ giữa giá trị di sản và
những bối cảnh nêu trên là mối quan hệ biện chứng,
hai chiều, tương hỗ lẫn
nhau. Bảo tồn phát triển là những cách thức và biện pháp khác nhau để nhằm mục đích bảo vệ sự tồn tại và tạo ra những giá trị hình thái mới cho một sự vật hiện
tượng nào đó để nó phù hợp với bối cảnh lịch sử
- xã
hội hiện tại. Bảo tồn phát
triển là sự kế thừa trên
cơ sở những cái đã có trước
đó và làm cho nó phát
triển hơn nữa, nâng nó lên một tầm cao mới mang tính thời đại cho phù hợp và
đáp ứng những yêu cầu của hiện tại và những định hướng cho tương lai. Đặc điểm nổi bật của bảo tồn phát triển là đem đến cho công chúng những sắc thái văn hóa
mới trên nền tảng giá trị căn bản của di sản trong quá khứ.
Như vậy, bảo tồn phát triển là quan điểm có tính vận động
dựa trên cơ sở nhu cầu của xã hội là chính chứ không hoàn toàn bị chi phối bởi
các quan niệm bảo thủ. Bảo tồn phát
triển góp phần giúp cho giá trị di sản tăng cả về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, không phải xu hướng bảo
tồn phát triển nào cũng đem đến lợi ích tích cực mà nó cũng có những hạn chế làm cho đối tượng
công chúng khó nhận diện được chân thật về nội dung và giá trị thực của di sản
hàm chứa trong đó. Đối với quan điểm này có được lợi thế là làm cho
giá trị văn hóa thêm phần phong phú, đa dạng, nhưng với quan điểm này thì hệ
thống văn hóa sẽ không tạo ra được những giá trị đích thực mà chủ yếu là mang
tính bề nổi của xu thế. Với quan điểm này, khi tiến hành có thể là quá trình
làm phá vỡ những giá trị truyền thống, phá vỡ tính bền vững được tích tụ và
hình thành qua bề dầy trầm tích của quá trình lịch sử.
1.2.1.4. Khai thác giá trị di sản văn hóa
Quan điểm về khai thác giá trị di sản văn hóa là những cách thức và biện pháp thích hợp nhằm phát huy tối đa
những ưu điểm giá trị về mọi mặt mà di sản văn hóa đó hàm chứa góp phần làm cụ
thể hóa những giá trị của kho tàng di sản, đem lại những lợi ích cụ thể, thiết thực cho từng đối tượng cư dân khác
nhau. Trong quá trình tổ chức khai thác giá trị của di sản văn hóa luôn tồn tại
những quan điểm không nên khai thác hoặc chưa khai thác mà phải xem xét tùy theo tình hình và điều kiện cụ thể đối với loại hình di sản nếu không sẽ tạo
ra tác động tiêu cực đến giá trị di sản và làm tổn hại đến đời sống tinh thần của
cộng đồng ở nơi mà di sản đang tồn tại. Hoặc là khai thác hạn chế, khai thác có giới hạn những lĩnh vực và nội dung
khai thác đối với một di sản hay toàn bộ hệ thống di sản của địa phương để phù
hợp với tình hình và điều kiện thực tế xã hội. Thế nhưng cũng có ý kiến cho
rằng cần khai thác toàn diện, khai thác tối đa những giá trị di sản văn hóa ở
nhiều mặt khác nhau.
1.2.1.5. Phát triển di sản văn
hóa
Phát triển di sản văn hóa là quá trình mở rộng cả về hình
thức và nội dung của một hay toàn bộ hệ thống di sản văn hóa ở địa phương
nhằm đạt được những mục đích khác nhau trong từng giai đoạn. Trong quá trình tiến hành phát
triển giá trị di sản văn hóa ở Ninh Thuận, các cấp chính quyền cũng cần xem xét đến
những định hướng phát triển được áp dụng phổ biến
đối với nhiều loại hình di sản hiện nay, đó là phát triển giá trị di sản theo chiều sâu nghĩa là tùy thuộc
vào điều kiện thực tế cho phép để lựa chọn một số giá trị nổi bật của di
sản và tập trung vào đó phát triển nhằm đạt
được mục đích tốt nhất. Bên cạnh đó, hướng phát triển bền vững và phát triển
toàn diện các giá trị di sản cũng là một lựa chọn phù hợp vì hướng này chú
trọng đến toàn bộ yếu tố cấu thành, tạo điều kiện thuận lợi cho các giá trị di
sản văn hóa đó được phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng và đáp ứng cho nhu
cầu hiện tại mà không làm giảm bớt đi khả năng đáp ứng cho nhu cầu của
thế hệ mai sau.
1.2.2. Quan điểm, chủ trương và đường lối của Đảng
Di sản văn hóa góp phần sáng tạo những giá trị văn hóa
mới, góp phần làm giàu kho tàng di sản văn
hóa của một quốc gia và mở
rộng giao lưu văn hóa quốc tế, đặc biệt là trong bối cảnh
toàn cầu hóa hiện nay. Để tiếp tục phát huy những giá trị và vai trò nòng cốt của di
sản thì “Nhà nước thống
nhất quản lý di sản văn
hoá thuộc sở hữu toàn dân; công nhận và bảo vệ các hình thức sở hữu tập thể, sở hữu chung của cộng đồng, sở hữu tư nhân và các hình
thức sở hữu khác về di sản văn hoá theo quy định của pháp luật” (2001). Chính
sách quản lý của Nhà nước luôn quan tâm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn
hóa nhằm nâng cao đời sống tinh thần của người dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; khuyến khích các
tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài cùng chung tay đóng góp, tài trợ cho hoạt động
bảo tồn và phát huy giá trị
di sản văn hóa. Đồng thời, Nhà nước luôn khuyến khích và tạo điều kiện cho tổ chức,
cá nhân tiến hành hoạt động nghiên
cứu, sưu tầm, bảo quản,
truyền dạy và giới thiệu di sản văn hóa vật thể và phi vật thể nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và làm giàu kho tàng
di sản văn hóa của cộng đồng các tộc người ở Việt Nam.
Quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển
văn hóa và quản lý văn hóa nói chung
và quản lý, phát huy giá trị
di sản văn hóa nói riêng
thì được thể hiện toàn diện, sâu sát trong các nghị quyết, văn kiện đại hội và
các kỳ hội nghị của Đảng như: Đề cương
văn hóa Việt Nam (1943); Sắc lệnh số 65/SL (ngày 23/11/1945); Nghị quyết TƯ 5
(khóa VIII, ngày 16/7/1998); Nghị quyết 33 (NQ TƯ 9, khóa XI, ngày 09/6/2014); Nghị quyết Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng
(01/12/2021); Hội nghị Văn hóa toàn quốc - lần thứ nhất (khai mạc ngày 24/11/1946);
Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (ngày 24/11/2021).
Trong các nghị quyết, văn kiện nêu trên, đề tài tiểu luận
tập trung vào phân tích, diễn giải bảy nhóm quan điểm, chủ trương, đường lối quan trọng của Đảng
liên quan đến văn hóa và di sản văn hóa như sau: (1) Đảng lãnh đạo, Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn
hóa và bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa của Việt Nam; (2) Đảm bảo
dân chủ, tự do sáng tạo và hoạt động
văn hóa, vun đắp tài năng, đề cao trách nhiệm cá nhân; (3) Xây dựng nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa trở thành
nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế
- xã hội; (4) Tiếp tục xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc, đồng thời, thực hiện xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt
Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước
trong thời kỳ hội nhập toàn
cầu hóa, giao lưu và hợp tác quốc tế; (5) Công tác quản lý văn hóa cần phải bám sát những đặc trưng văn hóa Việt Nam là nền văn hóa đa dạng nhưng
thống nhất giữa các vùng miền, các dân tộc trong toàn cõi Việt Nam; (6) Văn hóa Việt Nam luôn sẵn sàng tiếp thu những tinh hoa văn hóa
thế giới trên cơ sở kế thừa và phát huy các giá trị truyền
thống văn hóa của dân tộc để làm giàu bản sắc văn hóa của Việt Nam trên chính
trường quốc tế; (7) Nâng cao sức mạnh nội sinh của văn hóa, tăng cường sức đề
kháng cho văn hóa và văn hóa là sự nghiệp của toàn dân, tất thảy các thành viên của xã hội Việt Nam cho dù
ở trong nước hay ở ngoài nước đều tham gia
vào công cuộc gìn giữ, bảo vệ và phát huy các giá trị của di sản văn hóa dân
tộc.
1.3. Hệ thống di tích ở tỉnh Ninh Thuận
1.3.1.
Khái quát vùng đất Ninh Thuận
Theo quan điểm phổ biến hiện nay, vương quốc Champa ra
đời vào khoảng cuối thế kỷ thứ II và tồn tại đến đầu thế kỷ XIX, trãi qua nhiều
thời kỳ, giai đoạn khác nhau. Trên cơ sở kế thừa, phân tích các nhóm quan điểm,
chúng tôi nghiêng về quan điểm của Lafont P. B, chia lịch sử Champa ra thành 3
thời kỳ: thời kỳ Lập quốc - thời kỳ Champa Ấn hóa - Thời kỳ Champa Bản địa,
trong đó, thời kỳ Champa Ấn hóa chia làm các thời kỳ/giai đoạn nhỏ. Dựa trên
quan điểm đó, chúng tôi nhìn nhận lịch sử Champa trải qua các thời kỳ sau đây:
Thời kỳ Lâm Ấp (từ thế kỷ II - thế kỷ VII); Thời kỳ Champa Ấn hóa với các giai
đoạn (Hoàn Vương, thế kỷ VIII - IX, Indrapura, thế kỷ IX - X, Vijaya, đầu thế kỷ XI – giữa thế kỷ XV); Thời kỳ Champa Bản địa (từ giữa thế kỷ XV – Đầu
thế kỷ XIX). Như vậy, giai đoạn từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVII rơi vào 2 thời kỳ:
Champa Ấn hóa và Champa Bản địa.
Ninh Thuận hiện nay về địa lý
tự nhiên thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ, có vị trí từ 11018’14’’
đến 12009’15’’ độ vĩ Bắc và từ 108009’08’’ đến 109014’25’’
độ kinh Đông. Về kinh tế, văn hóa nghệ thuật thuộc vùng 7 - Đông Nam Bộ. Về
Quân sự thuộc Quân khu V – Nam Trung bộ. Phía Bắc giáp tỉnh Khánh Hòa, phía Nam
giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp tỉnh Lâm Đồng và phía Đông giáp biển Đông.
Cách Hà Nội 1.380 km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 350 km về phía
Nam; Nằm ở vị trí có đường bộ và đường sắt
Bắc Nam chạy qua, có quốc lộ 27 từ Phan Rang - Tháp Chàm lên Đà Lạt, quốc lộ
27B từ Cam Ranh đi qua huyện Bác Ái, nối với quốc lộ 27. Có sân bay quân sự
Thành Sơn và sân bay dân dụng Cam Ranh cách thành phố Phan Rang - Tháp Chàm 60
km về phía Bắc.
Với một tỉnh đa dạng địa hình:
miền núi, đồng bằng, ven biển. Đồi núi bao quanh đều khá cao, một bức thành
thiên tạo hình vòng cung bằng núi cao, chỉ có một cửa mở ra biển. Với địa hình
này, tạo nên khí hậu đặc biệt của Ninh Thuận là gió mùa, ít mưa và nắng nóng
quanh năm.
Ninh Thuận có 6 huyện và 1
thành phố; Theo Niên giám thống kê 2009,
Dân số toàn tỉnh có 565.677 người, gồm có 35 dân tộc anh em và 03 người nước
ngoài đang sinh sống. Các dân tộc theo ngữ hệ Mã Lai – Đa đảo mang yếu tố văn
hóa bản địa, còn lại các dân tộc khác chủ yếu là di cư theo biến động lịch sử của
vùng đất này.
Tỉnh Ninh Thuận được thành lập
muộn, lúc thì thuộc tỉnh Bình Thuận, lúc thuộc tỉnh Khánh Hòa. Vùng đất Ninh
Thuận vốn xưa kia được gọi là châu Panduranga. Năm Quý Tỵ (1653), phía Bắc sông
Dinh là phủ Thái Khang thuộc tỉnh Khánh Hòa, chúa Nguyễn Phước Tần đưa dân xứ
Thuận Quảng vào khai khẩn. Năm Đinh Sửu (1697), chúa Nguyễn Phúc Chu chia đất,
huyện An Phước và đạo Phan Rang thuộc phủ Bình Thuận. Năm Minh Mạng thứ 4
(1823), nhân cải tổ hành chính toàn quốc chia Bình Thuận thành hai phủ: phía
Tây Nam là phủ Hàm Thuận, phía Đông Bắc là phủ Ninh Thuận gồm cả huyện Tuy Phong
hiện nay. Năm Đồng Khánh thứ 4 (1888), trích huyện An Phước một phần thuộc Bình
Thuận, từ Lạc Nghiệp, Cà Ná trở ra là phủ Ninh Thuận đổi thành đạo Ninh Thuận,
gồm huyện An Phước, huyện Thổ và huyện Mán thuộc tỉnh Khánh Hòa. Năm Thành Thái
thứ 14 (1901), thành lập tỉnh Phan Rang - tiền thân của tỉnh Ninh Thuận, bao gồm
phủ Ninh Thuận được đặt là đạo Ninh Thuận, huyện An Phước và một huyện miền núi
là Tân Khai. Năm Duy Tân thứ 7 (1913), xóa bỏ tỉnh Phan Rang thành đạo Ninh Thuận
thuộc tỉnh Khánh Hòa, nhưng qua năm 1915 lại cải thành phủ Ninh Thuận, gồm huyện
An Phước và 5 tổng, thuộc tỉnh Khánh Hòa. Năm Khải Định thứ 7 (1922), phần đất
Ninh Thuận tách khỏi tỉnh Khánh Hòa để thành lập đạo Ninh Thuận. Cho đến năm Bảo
Đại thứ 17 (1942) đạo Ninh Thuận mới đổi thành tỉnh Ninh Thuận.
Từ năm 1945 đến 1975, Ủy ban
Kháng chiến tỉnh Ninh Thuận, tuỳ theo tình hình trên chiến trường mà khi thì
chia tỉnh thành 4 huyện (Thuận Nam, Thuận Bắc, Bác Ái, Anh Dũng); lúc thì chia
thành 5 vùng kháng chiến, trong đó có 3 căn cứ và 4 chiến khu; có lúc chia
thành 5 huyện thị (Thuận Nam, Thuận Bắc, Bác Ái, Anh Dũng và Phan Rang).
Cũng trong giai đoạn trên, năm
1957, Phủ Tổng thống Việt Nam cộng hòa chia Ninh Thuận thành 3 quận: Thanh Hải,
Bửu Sơn và An Phước. Năm 1960, thành lập thêm quận Du Long, trong đó có sáp nhập
thêm một số xã thuộc Cam Ranh tỉnh Khánh Hòa, nhưng đến năm 1967 lại trả các xã
đó về tỉnh Khánh Hòa. Năm 1971, thành lập thêm quận Sông Pha. Tỉnh Ninh Thuận
dưới chế độ cũ gồm có 5 quận, 27 xã và 121 ấp.
Sau ngày giải
phóng tỉnh Ninh Thuận 16/4/1975 và thống nhất đất nước (30/4/1975), tỉnh Ninh
Thuận sáp nhập các tỉnh Bình Thuận, Tuyên Đức, Lâm Đồng thành tỉnh Thuận Lâm. Đến
tháng 2/1976, giải thể tỉnh Thuận Lâm, Ninh Thuận cùng với tỉnh Bình Tuy và
Bình Thuận thành tỉnh Thuận Hải.
Ngày
01/4/1992, tỉnh Ninh Thuận tái thành lập gồm 4 huyện, thị: Ninh Phước, Ninh Hải,
Ninh Sơn và thị xã Phan Rang – Tháp Chàm. Năm 2000 tái lập huyện Bác Ái; Năm
2005 tái lập huyện Thuận Bắc; Năm 2010 tái lập huyện Thuận Nam.
Dự kiến 01/7/2025,
Ninh Thuận hợp nhất với tỉnh Khsnh Hòa thành tỉnh Khánh Hòa.
Chính điều kiện địa lý tự
nhiên và xã hội khá đặc thù đã tạo nên cho Ninh Thuận những nét khác riêng biệt
về lịch sử, văn hóa và quân sự. Do đó, chính sách, chiến lược và pháp luật về
Quản lý di tích ở Ninh Thuận sẽ có những nét khác riêng biệt về lịch sử, văn
hóa và quân sự.
Hình 1. Bản đồ hành chính tỉnh Ninh Thuận
1.3.2. Đặc điểm hệ thống di tích ở Ninh Thuận
Hệ thống di tích ở Ninh Thuận đã tạo nên bức tranh văn hóa đa sắc màu
bởi sự dung hợp, giao lưu giữa dòng văn hóa tộc người chủ thể: người Việt, người Chăm, Raglai và văn hóa tộc người Hoa -
Khmer.
Trên phạm vi
toàn tỉnh Ninh Thuận (kết quả khảo sát đến tháng 4/2025) có tổng số 83 di tích đã
được xếp hạng với
đa dạng các loại hình như: Lịch sử cách mạng, Lịch sử lưu niệm, Kiến trúc nghệ thuật, Khảo cổ, Văn hóa Phi vật thể
Bảng 1. Hệ thống di tích ở tỉnh Ninh Thuận tháng 4 năm 2025
|
Số lượng |
Phân cấp xếp hạng |
Loại hình |
|
02 |
UNESCO |
Văn hóa Phi vật thể |
|
02 |
Quốc gia đặc biệt |
Kiến trúc
nghệ thuật Và
khảo cổ |
|
18 |
Di tích Quốc gia |
Kiến trúc
nghệ thuật, Lịch sử cách mạng, VH
Phi vật thể Và
danh lam thắng cảnh |
|
61 |
Di tích Cấp tỉnh |
Kiến trúc
nghệ thuật, Lịch sử cách mạng Và
danh lam thắng cảnh |
(Nguồn: Tài liệu do tác giả lưu giữ, thống kê từ 1993 đến 4/2025)
Chương 2
THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CHÍNH
SÁCH, CHIẾN LƯỢC
VÀ PHÁP LUẬT TRONG QUẢN LÝ DI TÍCH Ở TỈNH NINH THUẬN
2.1. Hệ thống chính sách, chiến lược văn hóa và pháp luật về di sản văn hóa
ở Việt Nam và các văn bản quy định của Ninh Thuận
Hệ thống chính
sách, chiến lược và pháp luật là một tổng thể nguyên tắc
hoạt động, quyết định phương thức thực hành, các phương pháp quản lý hành chính
và phân phối ngân sách cho một lĩnh vực hoạt động nhất định của đời sống xã hội. Văn hóa nói chung và di sản văn hóa nói riêng
là một lĩnh vực hoạt động đặc biệt của đời sống xã hội, vì
vậy mà các quốc gia đều có những quy định, quy hoạch cho riêng mình một hệ thống chính sách quản lý riêng biệt và đảm bảo tương thích, gắn
kết với thực tiễn xã hội của quốc gia đó. Theo đó, định nghĩa của tổ chức
UNESCO về chính sách văn hóa, đó là: “Chính sách văn hóa là một tổng thể các
nguyên tắc hoạt động quyết định các cách thực hành, các phương pháp quản lý hành chính
và phương pháp ngân sách của
nhà nước dùng làm cơ sở cho các hoạt động văn hóa” [13, tr.261]. Trên cơ
sở các định nghĩa về chính sách văn hóa, bài tiểu luận này đưa ra định nghĩa
về “chính sách di sản văn hóa”
để giới thuyết vấn đề nghiên cứu như sau: “Chính
sách di sản văn hóa là một hệ thống hữu cơ các thực hành của địa phương và cộng đồng theo những nguyên tắc, chủ trương,
định hướng của Đảng và các chính sách, pháp luật của Nhà nước tác động vào di
sản để đáp ứng mục tiêu quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa”. Mục tiêu của chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa là sử
dụng tối ưu các nguồn lực gồm nhân lực, vật lực, tài lực mà xã hội, cộng đồng đang có để làm phong phú hơn cho nguồn vốn di sản của cộng đồng được bảo tồn và
phát huy giá trị, đáp ứng nhu cầu thụ hưởng
văn hóa của người dân và
bối cảnh phát triển của xã hội trong quá trình
toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay. Một hệ thống chính sách quản lý, bảo
tồn và phát huy giá trị di sản văn
hóa thường bao gồm: Luật pháp và các
chiến lược, quy định về bảo tồn, phát huy di sản văn hóa; tổ chức bộ máy quản lý nhà nước trong hoạt động bảo tồn
và phát huy di sản văn hóa; chính sách phân bổ nguồn vốn ngân sách cho bảo tồn,
phát huy; xây dựng cơ sở hạ tầng, thiết chế phục vụ cho quản lý, bảo tồn và
phát huy giá trị di sản văn hóa.
Bên cạnh việc xây dựng các chủ trương, chính sách
quản lý nhà nước về di sản văn hóa còn bao gồm cả việc xây
dựng hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế vận hành, hướng dẫn thực thi, quy
hoạch, kế hoạch, chiến lược và các chương trình
hành động cụ thể đối với bảo
tồn, phát huy giá trị di sản
văn hóa. Trong nội dung tiểu luận này, chúng tôi
đã tổng hợp một cách có hệ thống các văn bản pháp quy của Đảng, Nhà
nước cùng với các quy định địa phương để xem
xét hiện trạng thực thi chính sách trong
hoạt động bảo tồn và phát huy giá
trị di sản văn hóa, cụ thể là công tác quản lý di tích ở tỉnh Ninh Thuận hiện nay.
Đối với các quan điểm, chính sách, chiến lược văn hóa và pháp luật về di sản
văn hóa của Việt Nam cùng với các quy định cụ thể của tỉnh Ninh Thuận, trong
phạm vi tiểu luận này chúng tôi thực hiện thao tác tổng hợp và phân tích diễn
giải theo các hướng tiếp cận như sau: Quan điểm, chủ trương, đường lối văn hóa
của Đảng. Chính sách, chiến lược văn hóa và pháp luật về di sản văn hóa của
Việt Nam và các luật liên quan. Văn bản pháp quy về di tích và hoạt động quản lý, bảo tồn di tích ở Việt Nam. Quy định về công tác quản lý di sản và bảo
tồn di tích ở tỉnh Ninh Thuận (xem thêm Bảng 2, Bảng 3, Bảng 4, và Bảng 5).
Bảng 2. Quan điểm, chủ trương,
đường lối văn hóa của Đảng
|
STT |
Trích yếu nội dung |
Thời gian ban hành |
|
1 |
Đề cương văn hóa Việt
Nam |
1943 |
|
2 |
Sắc lệnh số 65 |
23/11/1945 |
|
3 |
Hội nghị Văn hóa toàn quốc
lần 1 |
24/11/1946 |
|
4 |
Nghị quyết TƯ 5 (khóa
VIII) |
16/07/1998 |
|
5 |
Nghị quyết
33 (TƯ 9, khóa XI) |
09/06/2014 |
|
6 |
Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần 2 |
2021 |
|
7 |
Nghị quyết
Đại hội XIII |
01/12/2021 |
(Nguồn: Tài liệu do tác giả thu thập và thao tác hóa, năm 2025)
Bảng 3. Chính sách, chiến lược văn hóa
và pháp luật về di sản văn hóa
của Việt Nam và các luật liên quan
|
STT |
Trích yếu nội dung |
Thời gian ban hành |
|
1 |
Luật Di sản văn hóa
(Bản mới hiệu lực từ 7/2025) |
2001 |
|
2 |
Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa |
2009 |
|
3 |
Luật tín ngưỡng, tôn giáo |
2016 |
|
4 |
Luật Du
lịch |
2017 |
|
5 |
Chiến lược
phát triển văn hóa đến năm 2030 |
2021 |
(Nguồn: Tài liệu do tác giả thu thập và thao tác hóa, năm 2025)
Bảng 4. Văn bản pháp quy về di tích và hoạt động quản lý, bảo tồn di tích
ở Việt Nam
|
STT |
Trích yếu nội dung |
Số lượng |
Nội dung liên quan |
|
|
1 |
Nghị định Chính
phủ |
11 |
Quản lý, trùng
tu, |
|
|
tôn tạo, trưng
bày triển lãm, đầu tư, quy hoạch, sử dụng |
||||
|
2 |
Quyết
định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ |
6 |
||
|
ngân sách, sưu tầm, kiểm kê, khai thác và phát huy giá
trị di sản/di tích |
||||
|
3 |
Thông tư của Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch. Thông
tư liên tịch giữa Bộ Văn hóa và các Bộ khác |
20 |
||
|
4 |
|
12 |
||
|
Quyết định,
Chỉ thị của
Bộ Văn hóa, |
|
|||
|
Thể thao
và Du lịch |
|
|||
|
5 |
Thông tư của Bộ Tài chính có nội |
2 |
|
|
|
dung liên
quan |
|
(Nguồn: Tài liệu do tác giả thu thập và thao tác hóa, năm 2023)
Bảng 5. Quy định về công tác quản lý di sản và bảo tồn di tích ở tỉnh Ninh Thuận
|
STT |
Trích yếu nội dung |
Thời gian ban hành |
|
1 |
Chỉ
thị số 14-CT/TU ngày 15/6/2016, về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối
với công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật
thể trên địa bàn tỉnh |
2016 |
|
2 |
Kế hoạch số 3835/KH-UBND ngày
20/9/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận về việc triển khai thực hiện
Chỉ thị 14 |
2016 |
(Nguồn: Tài liệu do tác giả thu thập và tham
mưu năm 2016)
2.2. Thực trạng triển khai các chính sách,
chiến lược và pháp luật về
di sản văn hóa vào công tác quản lý di tích ở Ninh Thuận
2.2.1. Thuận lợi và kết quả đạt được
Một là, kiện toàn cơ cấu và tổ chức bộ máy quản lý di tích. Trong thời gian
gần đây, tổ chức bộ máy ngành văn hóa, thể thao và du lịch ở tỉnh Ninh Thuận đang được kiện
toàn, ổn định và trẻ hóa về đội ngũ. Về cơ bản, bảo đảm được chức năng quản lý nhà nước để các bộ phận vận hành và hoạt động. Nhiều
địa phương trong Tỉnh đã tiến hành nghiên cứu, thể nghiệm các mô hình tổ chức
và nhiều lần rút kinh nghiệm, nhằm tìm ra các hướng đi phù hợp hơn. Theo Nghị
quyết số 01/2007/QH12 ban hành ngày 31/07/2007 cơ cấu tổ chức của Chính phủ
thì cơ cấu của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được thành lập với
chức năng, nhiệm
vụ quản lý nhà nước từ trung
ương đến địa phương, ngành được tổ chức theo mô hình bốn cấp: Cấp Trung
Ương có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; cấp Tỉnh (thành phố) có
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; cấp Huyện (quận, thị xã) có Phòng Văn hóa - Thông tin - Thể thao; cấp Xã (phường) có Ban Văn hóa thông tin hoặc
Ban Văn hóa xã hội.
Hai là, đội ngũ
cán bộ được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý di tích:
Ngành văn hóa ở tỉnh Ninh Thuận trong thời gian qua đã có những thay đổi tiến bộ rõ nét trong việc thực
hiện dân chủ hóa và công khai hóa về công tác cán bộ. Công tác đào tạo và bồi
dưỡng cán bộ nhìn chung đã được quan tâm, gắn với quy hoạch cán bộ, chú ý đào
tạo, bồi dưỡng cả về chuyên môn, nghiệp vụ lẫn năng lực quản lý. Hệ thống trường lớp, cũng như nội dung,
chương trình đào tạo đã dần được chấn chỉnh.
Ba là, các thiết chế, cơ sở hạ tầng được nâng cấp: Chính quyền địa phương tỉnh Ninh Thuận đã xây dựng được một hệ thống thiết
chế văn hóa khá đầy đủ từ Tỉnh đến tận cơ sở như hệ thống nhà hát, sân vận động, thư viện, bảo
tàng, trung tâm thể thao, nhà văn
hóa, trung tâm điện ảnh, trung tâm triển lãm và quảng cáo, các bưu điện văn hóa xã... Các thiết chế này đã góp phần tích cực phục vụ nhu cầu tinh thần của người
dân và nâng cao mức hưởng thụ văn hóa xuống tận cấp xã phường. Bên cạnh việc
tập trung đầu tư có trọng điểm cho các thiết chế văn hóa, các cơ sở di tích tiêu biểu ở vùng đô thị, chính quyền tỉnh Ninh Thuận cũng
đã quan tâm xây dựng hệ thống
thiết chế văn hóa ở nông thôn; trùng tu, tôn tạo các cơ sở di tích
đang có dấu hiệu xuống cấp và hư hỏng tại các xã phường trong tỉnh.
Bốn là, bối cảnh đô thị
hóa đã có những
đóng góp tích cực cho công tác quản
lý di tích ở Ninh Thuận: Với chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện
đại hóa, hội nhập nền kinh tế thị trường và định hướng quy hoạch phát triển đô thị đã giúp cho các địa phương có sự
phát triển mạnh mẽ về kinh tế. Kinh tế của các tỉnh/ thành phố phát triển nhanh
theo hướng bền vững, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và luôn đạt tỷ lệ cao hơn
so với cùng kỳ của năm trước. Với sự phát triển kinh tế như vậy thì các địa phương đã dành nhiều kinh phí đầu tư cho các lĩnh vực trong đó có bảo tồn di sản
văn hóa. Cùng với nguồn kinh phí từ trung ương hỗ trợ chống xuống
cấp cho các di tích,
hàng năm ngân sách của tỉnh/thành phố dành một
lượng đáng kể để trùng tu, tu bổ cho nhiều di
tích. Nhiều di tích trong tình trạng xuống cấp trầm trọng đã được khôi phục, bảo vệ, gìn giữ. Bên cạnh đó, nguồn ngân sách của tỉnh/thành phố cũng đã cấp
để huyện xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng cơ sở để tôn thêm vẻ đẹp và tạo điều
kiện cho du khách đến các khu di tích: làm đường, trồng cây xanh, công viên,
sân vườn cho nhiều điểm di tích.
2.2.2. Thách thức và khó khăn
Một là, các văn bản pháp quy của Nhà nước chưa đủ để ngành văn hóa, thể thao
và du lịch tỉnh Ninh Thuận xác lập mô hình tổ chức mới về phương thức quản lý ngành
ở địa phương. Vì vậy, cơ cấu tổ chức còn cồng kềnh, chồng chéo, chưa đồng bộ, dẫn đến hiệu quả
hoạt động chưa cao, chưa đáp ứng kịp những thay đổi nhanh chóng của thực tiễn.
Một số văn bản đã ban hành cần được điều chỉnh,
bổ sung hoặc bãi bỏ cho phù hợp với tình hình mới. Mô hình
tổ chức bộ máy hiện tại vẫn còn bộc lộ một số bất cập như có nhiều đầu mối, cơ cấu chưa hợp lý, vai trò của các bên liên quan chưa phân cấp rõ ràng, cụ thể,
phạm vi quản lý còn hạn chế, mối liên kết giữa các bộ phận còn lỏng lẻo. Hoạt động quản lý và thực thi nghiệp
vụ từ Tỉnh đến xã phường còn yếu, nhất là ở cấp huyện/xã nơi đang diễn ra những biến động phức tạp trên mặt trận tư tưởng về văn hóa và gìn giữ di sản văn
hóa.
Hai là, đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý di tích có tính năng động, sáng tạo chưa cao và nhận thức về công tác quản lý di tích chưa sâu sát. Một số
công chức chưa được đào tạo, bồi dưỡng đầy đủ về chuyên môn, nghiệp vụ, đặc
biệt là nghiệp vụ quản lý, bảo tồn di tích. Hiện nay, đội ngũ cán bộ của ngành,
nhất là ở xã phường, còn thiếu về số lượng, yếu về chuyên môn. Tuy ngành đã quan tâm đến công tác bồi dưỡng, nâng cao nghiệp
vụ, nhưng vẫn còn
nặng về hình thức, thiếu thực chất. Chất lượng
đào tạo và bồi dưỡng
cán bộ còn hạn chế, còn chạy theo
chứng chỉ bằng cấp để đáp ứng yêu
cầu chuẩn hóa cán
bộ. Nội dung chương
trình, phương pháp tổ chức bồi dưỡng còn chậm đổi mới, chưa chú trọng đào tạo, rèn luyện cán
bộ qua thực tiễn. Cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật dùng để bảo quản, trị liệu cho các
di tích, di vật, hiện vật còn thiếu về số lượng
và chưa được hiện đại hóa đúng với nhu cầu phát triển thực tế của địa phương.
Ba là, hệ thống chế độ chính
sách đãi ngộ chưa có tác dụng khuyến khích các lực lượng xã hội tham gia vào
hoạt động văn hóa, bảo tồn di tích hoặc tài trợ cho các đơn vị văn hóa, cơ sở
di tích hay hoạt động xã hội hóa nói chung. Đội ngũ cán bộ quản lý di tích vẫn
còn theo phương pháp hành chính, truyền thống, làm theo mệnh lệnh hoặc chỉ đạo, chưa có phương pháp tư duy thực sự
phù hợp và sáng tạo để thích ứng
với cơ chế kinh tế thị trường.
Công tác thanh tra, kiểm tra ở một số cơ sở di tích
còn thiếu chủ động, lúng túng và bộc lộ nhiều sơ hở.
Bốn là, trong quá trình tăng cường hội nhập quốc tế, những thành tựu của công
nghệ thông tin sẽ tạo các điều kiện thuận lợi cho sự ảnh hưởng qua lại giữa các nền văn hóa, góp phần ứng
dụng các giải pháp công nghệ vào hoạt
động quản lý, trùng tu, tôn tạo di tích ở Ninh Thuận, thế nhưng cũng tiềm tàng không ít yếu tố phản văn hóa, lai căng từ nước ngoài
xâm nhập vào, gây ra hiện
tượng “sốc” trong văn hóa hoặc rối loạn thẩm mỹ của một bộ phận công chúng
và nhất là giới trẻ. Vì vậy, qua việc nhận diện hiện trạng thực thi chính sách,
chiến lược và pháp luật về di sản văn hóa của Việt Nam và các quy định của địa phương
thì mới thấy được những
mặt mạnh, điểm yếu của công tác quản lý di
tích, cũng như qua việc phân tích các tác động tích cực, tiêu cực của bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế, có thể dự đoán được những
thuận lợi, những khó khăn để trên cơ sở đó đề ra những đường
hướng phù hợp hơn, những giải pháp ứng dụng thực thi tốt hơn trong công tác
quản lý di tích ở tỉnh Ninh Thuận.
Chương 3
GIẢI
PHÁP XÂY DỰNG CÁC VĂN BẢN QUY ĐỊNH VÀ CHIẾN LƯỢC QUẢN LÝ DI TÍCH Ở NINH THUẬN
3.1. Giải pháp xây dựng các văn bản quy định và chiến lược quản lý
di tích ở tỉnh Ninh Thuận
Với hệ thống quan điểm, chính sách, chiến lược văn hóa và pháp luật về di sản văn hóa của Việt Nam và quy
định của tỉnh Ninh Thuận được nêu ở Chương 2 đã tạo ra hành lang pháp lý quan trọng góp phần
nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa và hoạt động bảo tồn di sản văn hóa; ngăn ngừa những biểu hiện tiêu cực trong công tác phân cấp quản lý, trùng tu, tôn tạo di tích, từng bước khôi
phục ý thức trách nhiệm trong hoạt động quản lý di tích của địa phương, tạo
được sự thống nhất trong nhận thức và thực thi pháp luật về văn hóa
và di sản văn hóa trong toàn tỉnh Ninh Thuận. Trên cơ sở
khung lý thuyết về quan điểm bảo tồn,
chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, chiến lược văn hóa và pháp luật
của Nhà nước, tiểu luận này đề
xuất các giải pháp để xây dựng các văn bản quy định và chiến lược quản lý di tích ở tỉnh Ninh Thuận. Chính sách quản lý di sản văn hóa thường nhằm để bảo tồn và phát
triển di sản văn hóa, bao gồm các loại hình di tích và các yếu tố văn hóa quan
trọng khác của địa phương. Các chính sách này được vận dụng ở
mức độ khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh,
điều kiện cụ thể của mỗi
huyện thị ở tỉnh Ninh Thuận, nhưng tựu
trung lại các giải pháp này thường hướng đến nhóm vấn đề như sau:
(1) Bảo
tồn và bảo vệ di sản: Chính sách quản lý di sản văn hóa thường đề cao việc bảo tồn và bảo vệ các giá trị của di sản văn hóa này khỏi sự tổn thất,
hư hại do thời gian, thiên tai hoặc do hoạt động con người tạo nên.
(2) Triển
khai hoạt động nghiên cứu và giáo dục: Đây là việc thúc đẩy nghiên cứu sâu rộng
về di sản văn hóa để hiểu rõ hơn về giá trị của chúng. Chính sách này thường
bao gồm việc tạo điều kiện để các nhà nghiên cứu, học
giả
có thể nghiên cứu sâu rộng về di sản này và cung cấp thông tin cho công chúng
thông qua các chương trình giáo dục, triển lãm và các hoạt động tương tự có
liên quan.
(3) Quản
lý và bảo tồn di tích đô thị: Trong các thành phố, khu vực đô thị thường có nhiều di tích lịch sử và kiến trúc cổ, công tác quản lý quy hoạch,
phát triển đô thị vẫn phải bảo đảm cho hoạt động bảo tồn và bảo vệ di sản văn hóa là một phần quan trọng của
chính sách quản lý di tích ở tỉnh Đồng Tháp hiện nay. Điều này có thể bao gồm việc thiết
lập các khu vực bảo tồn, quy định
xây dựng và các biện pháp phòng ngừa môi trường xâm hại.
(4) Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực di sản văn hóa: Hoạt động hợp tác với cộng đồng quốc tế và các tổ chức quốc
tế trong việc bảo tồn di sản văn hóa là một phần quan trọng của chính sách.
Điều này có thể bao gồm trao đổi kiến thức,
kỹ thuật hoặc tài trợ để hỗ trợ bảo tồn và phát triển di sản văn
hóa của địa phương trong bối cảnh đương đại.
Chính sách quản lý di sản văn hóa thường đòi hỏi sự kết hợp giữa các cấp quản
lý từ cấp quốc gia, địa phương cho đến cộng đồng, cũng như sự tham gia của
nhiều bên liên quan như chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, và cộng đồng dân
cư. Điều này giúp đảm bảo rằng di sản văn hóa được bảo tồn và phát triển một
cách bền vững và có ý thức.
3.2. Kiến nghị và đề xuất đến các bên liên quan trong hoạt động khai
thác và phát huy giá trị di tích ở tỉnh Ninh Thuận
Tổ chức khai thác và phát huy các giá trị của di sản văn hóa là hoạt động
biến các giá trị của di sản văn hóa trở thành nguồn lực góp phần phát triển kinh
tế - xã hội của địa phương thông qua các hoạt động như sau: Tổ chức các chương
trình giáo dục truyền thống, giáo dục di sản cho học sinh và du khách tham quan trực tiếp trải nghiệm
các giá trị của di sản
tỉnh Ninh Thuận. Tổ chức
các buổi trình diễn, quảng
bá, triển lãm về di sản văn hóa vùng đồng bào Chăm - Raglai. Thiết kế các tour du lịch gắn kết với các
khu điểm di tích và sử dụng giá trị
của từng di tích làm hoạt động trải
nghiệm cho du khách. Tổ chức các buổi nói chuyện
chuyên đề, sinh hoạt thường
lệ của
các câu lạc bộ, hội quán. Tổ chức các hoạt động văn hóa tinh thần trong
khuôn viên di tích để thu hút sự quan tâm, khơi gợi tình yêu thương của
cộng đồng đối với di tích ở địa phương.
KẾT LUẬN
Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương, đường lối, chính
sách và chiến lược bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm nâng cao đời
sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của nhân dân;
khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đóng góp, tài trợ cho
việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.
Chính quyền tỉnh Ninh Thuận đã xây dựng và thực hiện các chương
trình mục tiêu bảo tồn di sản văn hóa. Khen thưởng tổ chức, cá nhân có
thành tích trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Nghiên
cứu áp dụng thành tựu khoa
học công nghệ vào quản lý, bảo tồn và phát huy
giá trị di sản, di tích trên địa bàn. Thăm dò, khai quật khảo cổ; bảo quản, tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị di tích;
Thẩm định, quản lý sưu tập, bảo quản hiện vật, chỉnh lý, đổi mới
nội dung, hình thức trình
bày và hoạt động giáo dục của bảo tàng. Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên
môn trong lĩnh vực bảo vệ và phát huy giá trị của di sản văn hóa. Khuyến khích và tạo điều kiện cho công tác xã hội hóa các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di tích. Mở rộng các hình thức hợp
tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ở địa
phương./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Đặng Văn Bài (1995), “Tu bổ tôn tạo
các di tích lịch sử văn hóa là hoạt động có tính đặc thù chuyên ngành”, In
trong cuốn Một con đường tiếp cận di sản
văn hóa, Cục Di sản văn hóa, tập 3, Hà Nội.
2.
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Tháp (2014), Địa chí tỉnh Đồng Tháp, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.
3.
Nguyễn Chí Bền (chủ biên) (2010), Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật
thể Thăng Long - Hà Nội, Nxb Hà Nội, Hà Nội.
4. Đình
Hy (Chủ biên) (2016), Địa danh tỉnh Ninh
Thuận Xưa và Nay, NXB. Văn hóa - Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh.
5. Phan Hồng Giang, Bùi Hoài Sơn (2012), Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi
mới và hội nhập quốc tế, NXB Chính trị quốc gia, tr.486.
6. Phan
Quốc Anh (2001), Văn hóa Raglai những gì
còn lại, NXB. Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.
7.
Phan Quốc Anh (2004), “Hệ thống
chủ lễ của người Chăm Bà-la-môn ở Ninh Thuận”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á,
số 3, tr. 66 - 80.
8. Phan
Quốc Anh (2006), Nghi lễ vòng đời của
người Chăm Ahiér ở Ninh Thuận, NXB. Văn hóa dân tộc, Hà
Nội.
9. Nguyễn
Xuân Hồng (2014), Lễ hội truyền thống của
người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long vấn đề bảo tồn và phát huy, NXB Văn
hóa thông tin, Hà Nội.
10. Nguyễn Quốc Hùng (2004), “Tầm nhìn tương lai đối với
di sản văn hóa và hệ thống bảo vệ di tích ở nước ta”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 9, tr.3-
11. Nguyễn Thế Hùng (chủ nhiệm) (2013), Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế, Đề tài NCKH cấp Bộ, Cục Di sản văn hóa,
Hà Nội.
12. Nguyễn
Kim Loan và Nguyễn Trường Tân
(2014), Bảo tồn và phát huy di sản văn
hóa Việt Nam, tr.5, NXB Văn hóa - Thông tin. Hà Nội.
13. Quốc
hội (2009). Luật Di sản văn hóa năm 2001
được sửa đổi, bổ sung năm 2009. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
14. Hà
Văn Tấn (2005), “Bảo vệ di tích lịch sử văn hóa trong bối cảnh công nghiệp hóa
- hiện đại hóa đất nước”, In trong cuốn Một
con đường tiếp cận di sản văn hóa, Cục Di sản văn hóa, tập 2, tr.44-54, Hà
Nội.
15. Lưu Trần Tiêu (2011), Mấy vấn đề về hoạt động tu bổ, phục
hồi di tích lịch sử văn hóa, Tạp chí Di sản
văn hóa, số 3, tr.3 - 7.