Lớp VH Chăm 2022_ NỘI DUNG THUYẾT TRÌNH Đề tài: Nghi lễ vòng đời của Chăm Bà ni ở Ninh Thuận - Bình Thuận

 NỘI DUNG THUYẾT TRÌNH

Đề tài: Nghi lễ vòng đời của Chăm Bà ni ở Ninh Thuận - Bình Thuận

1. Tổng quan

1.1. Tộc danh

Tên gọi: người Chiêm, Chiêm Thành, Hời, Cam, Champa, Chàm

Ngữ hệ Nam Đảo (Malayo - Polinesien): Chăm, Jarai, Êđê, Churu, Raglai

Tộc danh của người Chăm ở Ninh Thuận - Bình Thuận còn được gọi ghép theo tôn giáo.

1.2. Lịch sử tộc người

          Người Chăm vốn ở Duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên văn hóa rực rỡ và ảnh hưởng sâu sắc của Văn hóa Ấn Độ, ngay từ những thế kỷ đầu công nguyên cho tới thế kỷ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm Pa. Hiện tại cư dân gồm 2 bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà-la-môn( một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni và Chăm Hroi ở Phú Yên, Bình Định). Ngoài ra còn có bộ phận người Chăm sống ở Campuchia, Mã Lai, Đảo Hải Nam, Thái Lan.


1.3. Dân số, địa bàn cư trú, đặc điểm dân cư

Do đặc điểm cư trú, tính chất tôn giáo và sắc thái văn hóa mang tính vùng miền, người Chăm ở Việt Nam được chia thành 3 nhóm cộng đồng chính là: Chăm H'roi, Chăm Ninh Thuận - Bình Thuận, và Chăm Nam Bộ.

Chăm H'roi (Chăm hời) bao gồm những người Chăm sống rải rác ở miền núi các tỉnh Gia Lai, Phú Yên, Bình Định, trong đó tập trung chủ yếu ở huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định và huyện Đồng Xuân, Sơn Hòa của Phú Yên; tổng số khoảng 33.000 người. Người Chăm Hroi có nguồn gốc từ những người Chăm cổ là một bộ phận của cộng đồng Chăm Việt Nam và từ lâu được gọi là Chăm Hroi. Người Chăm Hroi theo tín ngưỡng dân gian thờ đa thần và tổ tiên, ngày nay có số theo Tin lành đặc biệt là ở Gia Lai.

Chăm Panduranga hay Đông Chăm gồm những người Chăm cư trú ở Ninh Thuận, Bình Thuận, có tên gọi là Chăm Panduranga (Chăm Phan Rang); tổng số khoảng 119.000 người (Ninh Thuận: 72.000; Bình Thuận: 47.000), đây là nhóm cộng đồng Chăm lớn nhất chiếm khoảng 67,60% tổng số người Chăm ở Việt Nam. Người Chăm Ninh Thuận-Bình Thuận có 2 nhóm chính phân theo tín ngưỡng là Chăm Ahiêr (Chăm ảnh hưởng Bà La Môn) và Chăm Awal (Chăm Bàni - Chăm ảnh hưởng Hồi giáo). Ngoài ra còn có một nhóm nhỏ người Chăm Bà Ni đã cải sang theo Hồi giáo chính thống vào thập niên 1960 do tiếp xúc với người Chăm Nam Bộ.

Chăm Nam Bộ hay còn gọi những tên khác nhau, như Tây Chăm, Cham Baraw, Cham Muslim, Jawa Ku bao gồm những người Chăm sinh sống chủ yếu ở An Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Đồng Nai và nhiều tỉnh khác nhau tại Nam Bộ số 37.000 người.

Người Raglai được coi như một nhánh gần gũi của dân tộc Chăm. Họ cư trú chủ yếu ở tỉnh Ninh Thuận và được công nhận là một trong 54 dân tộc tại Việt Nam. Ngoài ra những dân tộc theo ngữ hệ Nam Đảo sinh sống tại cao nguyên Tây Nguyên như người Churu, Ê Đê và Gia Rai đều có liên hệ về mặt chủng tộc, lịch sử, văn hóa, kinh tế... mật thiết với người Chăm.

1.4. Nghề thủ công

Chăm là một dân tộc có nhiều ngành nghề truyền thống lâu đời như thêu, dệt, làm đồ gốm, làm gạch, chế tạo công cụ sản xuất, buôn bán, đóng thuyềnđánh cáđiêu khắc... đặc biệt là nghề trồng lúa nước được người Chăm phát triển từ rất sớm và luôn có những cải tiến về giống và thủy lợi.

Người Chăm sống ở đồng bằng, có truyền thống sản xuất lúa nước là chính. Kỹ thuật thâm canh lúa nước bằng các biện pháp giống, phân bón, thủy lợi khá thành thạo. Hai nghề thủ công nổi tiếng là đồ gốm và dệt vải sợi bông. Trước kia, người Chăm không trồng cây trong làng vì cho rằng cây sẽ là nơi cư trú của ma quỷ.

Vì có nét sinh hoạt văn hóa đặc biệt nên làng Chăm Đa Phước thuộc huyện An Phú cũng là địa điểm du lịch thu hút du khách đến xem kỹ thuật dệt thổ cẩm. Vải Chăm có mẫu mã đặc sắc khác hẳn những hàng dệt của sắc tộc khác. Cách thức dệt còn theo lối truyền thống trên khung cửi nhưng đến thế kỷ 21 thì nguyên liệu sợi và phẩm màu không còn sản xuất ở địa phương nữa mà là mua ở nơi khác mang về dệt.

1.5. Trang phục, trang sức

 

Trong truyền thống nam giới Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận thường mặc xà rông (hoặc quần váy, tiếng Chăm là bek khăn). Đó là một tấm vải khổ rộng trên một mét, chiều dài gấp rưỡi vòng bụng. Khi mặc trước và sau lưng. Phụ nữ Ninh Thuận, Bình Thuận mặc váy (tiếng Chăm là khăn) và áo (ao). Váy dài buông chùng quá gót chân. Vải may váy thường được chọn màu đen, màu sẫm Áo dài, không xẻ tà, thắc chui đầu, khi mặc phủ trùm lên váy.

 

Đàn ông và phụ nữ khi ra đường xa, làm ruộng, đều đội khăn. Khi phụ nữ thường dài từ 1,2m đến 1,5m. có trang trí bằng hoa văn đột, Khăn đàn ông ngắn hơn.

Người Chăm ở An Giang, đàn ông mặc xà rồng (khăn hoặc khi rộng). Đó là loại váy dài từ hông đến mắt cá chân. Vài làm xà thing là vấn kẻ sọc hoặc ca rô, khổ vải vừa với chiều cao của người, bề ngang vải gấp đôi vòng bụng, khi mặc mới được dắt bên hông. Mặc do chiva màu trắng - chiếc áo dài quá mông, rộng, xẻ ngực, đỉnh khuy đồng. Ở ních to lối thêm vải khiến áo thêm rộng. - Trong các nghi lễ Hồi giáo, các vị chức sắc Hồi giáo còn mặc áo achuba, màu trắng thân dài gần chấm gót. Áo mặc với xà rông trăng và đầu đội khăn haji cũng màu trắng.

Phụ nữ An Giang mặc loại váy tiếng Chăm gọi là khăn. Vy dài khi mặc phủ kín chân. Thiếu nữ mặc áo bà ba, sơ mi với váy. Chỉ trong các dịp lễ tết, chị em mới mặc trang phục truyền thống.

Phụ nữ Chăm Huoi mặc loại váy quấn, có một miếng lót ở đằng sau như váy phụ nữ Ba Na. Đàn ông và phụ nữ khi ra đường đều dùng khăn vải đối đầu.

Ở Ninh Thuận, Bình Thuận, trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy. Một số người còn xăm mình, xăm trên cánh tay, trên ngực, trên đùi như một cách trang trí độc đáo. Phụ nữ ở Ninh, Bình Thuận búi tóc thành lọn, cài trâm hoặc kẹp tóc, đội khăn khi đi ra ngoài đường, Phụ nữ còn hay đeo một loại nhẫn bằng kim loại có khảm mặt đá đen (karah). Đây là loại trang sức mang tính dấu hiệu của những người đồng tộc nhận ra nhau. Trong các dịp hội hè, lễ lạt, tốt nhất, con trai, con gái Chăm còn dùng đồ trang sức bằng chiếc thắt lưng do người Chăm tự dệt. Đó là một dải vải hẹp có nhiều hoa văn trang trí, màu sặc sỡ.

Ở An Giang, nam giới trang trí đơn giản, họ đeo nhẫn bằng bạc hoặc mã não. Phụ nữ An Giang đeo vòng tay bằng vàng, bạc được chạm trổ tinh vi, khéo léo. Thiếu nữ mới lớn còn đeo cả vòng chân. Các thiếu nữ còn rất thích đeo bông tai bằng vàng, cài trâm vàng, bạc, đồi mồi trên mái tóc. Và những chiếc thắt lưng dệt bằng kim tuyến.

1.6. Gia đình, dòng họ

Mỗi khu nhà là nơi cư trú làm ăn của một gia đình. Gia đình người Chăm là gia đình nhỏ, theo chế độ mẫu hệ (Chăm Bà-la-môn). Trong gia đình người mẹ có vị trí quan trọng quyết định mọi việc, Con cái sinh ra được tính theo dòng mẹ, con gái kế thừa tài sản, thờ phụng tổ tiên. Người Con trai khi lấy vợ sang cư trú bên nhà vợ, ăn theo quyền kế thừa tài sản của vợ, có thể được bố mẹ đẻ chia ít tài sản cố định như ruộng... nhưng chỉ được sử dụng khi còn sống, khi chết, tài sản đó phải trả lại cho bên cha mẹ đẻ. Người đàn ông thực hiện việc cúng tế trong gia đình - tổ  tiên, nhưng thông qua sự tổ chức của người phụ nữ. Tổ tiên ở đây là những người có quan hệ dòng máu với bà mẹ, coi họ hàng bên mẹ là nội, họ hàng bên cha là ngoại. Sinh con gái được coi là may mắn, là có người nối dõi tông đường.

Gia đình người Chăm là gia đình mẫu quyền (Chăm Bà-la-môn). Trong gia đình, người mẹ, người vợ có vị trí quan trọng, có quyền quyết định mọi việc: cưới xin, tang ma.

Chăm Bà-ni, sau khi tiếp thu đạo Hồi, gia đình của họ được tổ chức theo hình thái, vừa có tính phụ hệ, vừa có tính mẫu hệ.

Gia đình Chăm Hồi giáo được tổ chức hoàn toàn theo chế độ phụ hệ. Do ảnh hưởng của giáo luật và, vị trí phụ nữ ở đây bị coi nhẹ, họ phải giữ mình, che mặt khi ra ngoài và chỉ được ra khỏi nhà vào buổi chiều hoặc có người giám hộ. Phụ nữ không được đến thánh đường và nghĩa địa, bởi đây là những chỗ linh thiêng Quyền thừa kế tài sản thuộc về con trai. Gia đình của người Chăm Itslam là gia đình phụ quyền. Vai trò của người đàn ông được đề cao. Người đàn ông có quyền quyết định một việc quan trọng trong gia đình.

Dòng họ là những người cùng huyết thống. Người Chăm Bà-lamôn quan hệ với dòng mẹ rất sâu sắc. Người con trai khi lấy vợ phải cư trú bên nhà vợ, nhưng khi chết lại phải đưa xác về chốn tại dòng họ mẹ đẻ. Còn người Chăm Itslam thì tính dòng họ theo họ của cha.

2. Nội dung

2.1. Sinh đẻ

Khi đứa bé sinh ra đươc 3 tháng thì người thân trong nhà sẽ làm 1 mâm cơm cắt tóc - (Ew dhlam sang) đứa bé được khỏe mạnh, sự có mặt của đứa bé,…

Lễ vật: Gà, cơm, trầu cau, đèn cày,…

2.2. Nghi lễ trưởng thành

Theo phong tục của người Chăm Bà-ni, phải trải qua nghi lễ Kareh và Katal thì thanh niên nam nữ mới được thần linh công nhận là đã trưởng thành, mới được thực hiện những việc trọng đại trong đời mình.

Lễ Kareh - Katal của người Chăm thường được làm trong 3 ngày 2 đêm.

+ Ngày thứ nhất, mọi người trong gia đình lo chuẩn bị trang phục, làm rạp.(tối hôm đó các thiếu nữ Chăm được (Muk Puk) tập cho các cô gái Chăm cách lạy tạ Sư cả như thế nào cho đúng, sau đó các cô gái vào trong một căn phòng dành riêng cho các cô gái trong căn phòng đó: đốt đèn cày cho sáng).

+ Ngày thứ 2, làm bánh trái truyền thống như là chuối, nếp nổ, bánh ít.Thường thì gia đình phải chuẩn bị mỗi người được làm lễ một nải chuối, một khay nếp nổ, gạo, trứng, rượu, một con gà trống...

l  Sáng sớm (Muk Puk) bà chủ lễ sẽ dẫn các cháu gái đi tấm rửa, sau đó dẫn vào rạp phụ thực hiện nghi thức búi tóc.

Sau đó được một ông chủ lễ  dẫn các chàng trai vào trong rạp phụ làm lễ cắt da quy đầu

l  Khi sạch sẽ rồi dẫn sang rạp chính để các chức sắc làm lễ chính thức cho các cháu, trong đó có nghi thức cắt tóc và đặt tên thánh cho các cháu. Từ đó các cháu mới được thực hiện nghi lễ Kareh chính thức

Sau khi rửa tội tại sông, những thanh niên nam nữ lần lượt được đưa về rạp, nơi làm lễ chính thức.  Ngày nay,  nghi thức này chỉ được thực hiện một cách tượng trưng. Đối với nữ, sẽ thực hiện nghi lễ cắt tóc mái để xin thề không làm sai trái giáo luật.

2.3. Hôn nhân

Lễ cưới của mỗi dân tộc, mỗi tôn giáo đều có nét độc đáo riêng. Đối với người Chăm theo đạo Bà ni cũng vậy, muốn được dân làng công nhận là vợ chồng thì họ phải tổ chức lễ cưới truyền thống, được vị sư cả và chức sắc trong làng chúc phúc.

Tuổi tổ chức lễ cưới:

Người Việt Nam xưa nói chung và người Chăm xưa nói riêng, họ đều rất coi trọng vấn đề tuổi tác khi làm bất cứ việc gì. Tuổi tác hợp thì mọi chuyện mới tốt đẹp. Và đặc biệt trong chuyện cưới xin, một việc quan trọng của đời người thì việc xem xét tuổi tác của chàng trai và cô gái có hợp nhau không lại càng trở nên cần thiết. Ngày xưa, con trai con gái tới độ tuổi mười lăm, mười sáu trở lên là đã có thể lấy vợ lấy chồng. Không chỉ có thế, người ta còn tổ chức cưới cho con cái của mình từ năm mười hai, mười ba tuổi. Tục vợ chồng lấy nhau cứ hơn kém nhau một hai tuổi là vừa đôi...

Tháng, ngày, giờ tổ chức lễ cưới hỏi:

Người Chăm quan niệm là chọn “ngày phải lành, tháng phải tốt, giờ phải đẹp” mà họ gọi là harei siam tuk tanyruah. Theo lịch pháp của người Chăm, họ quan niệm tháng Giêng là tháng nhớ nhung, tương tư; tháng 2 và 8 là tháng tội lỗi; tháng 3 là tháng nhiều lúa gạo; tháng 4, 5 và 9 là tháng gây hấn; tháng 6 nhiều tiền tài của cải, danh lợi; tháng 7 là tháng ốm đau; tháng 10 phát tài; tháng 11 là sự thịnh vượng; tháng 12 là tháng lửa phát cháy.

Bởi vậy, người Chăm chọn tháng tổ chức lễ cưới hỏi thường vào các tháng: 3, 6, 10, 11 (theo lịch Chăm) và phải nhằm vào các ngày bingun, tức những ngày hạ tuần trăng (thuộc âm - từ đêm trăng tròn cho đến khi hết trăng). Ngày cưới phải rơi vào những ngày chẵn (các số thuộc âm): 2, 4, 6, 8, 10, 12, 14 Chăm lịch và phải vào ba ngày (thứ Ba, thứ Tư, thứ Năm) trong tuần. Trong ba ngày ấy, lễ cưới chính thức rơi vào ngày thứ Tư (harei suk), vì theo quan niệm người Chăm thứ tư là ngày đất nẻ, đất tốt. Lễ cưới vào ngày thứ tư mang ý nghĩa mưu cầu cho sự sinh sôi nảy nở, đôi vợ chồng sinh con đẻ cái đầy đàn. Giờ bắt đầu lễ cưới vào đầu buổi chiều (vì buổi chiều thuộc hệ âm). Cách tính ngày, giờ, tốt xấu của người Chăm khá phức tạp nhưng tuân thủ chặt chẽ theo những quy luật nhất định và phải thống nhất từ đầu đến cuối, lễ cưới thuộc âm và mang tính ‘mẹ’ rất rõ ràng. Đây là một phong tục thể hiện chế độ mẫu hệ xuyên suốt chiều dài lịch sử văn hoá dân tộc Chăm.

Về giờ khắc, phải chọn giờ lành tức vào khoảng từ buổi trưa đến xế chiều (thuộc giờ âm trong lịch pháp Chăm). Lễ cưới người Chăm Bà Ni xưa thường được tổ chức theo đúng ngày giờ, bất di bất dịch.

Nghi lễ cưới hỏi

Lễ cưới truyền thống của người Chăm mang một vẻ đẹp riêng, hôn nhân định cư bên nhà vợ. Người Chăm theo chế độ mẫu hệ, nhà gái sẽ chủ động trong việc hôn nhân. Sau quá trình tìm hiểu nhau, khi đôi nam nữ quyết định đi đến hôn nhân, nhà gái sẽ nhờ người mai mối mang lễ vật sang nhà trai để làm lễ dạm hỏi.

Lễ dạm hỏi:

Trước khi diễn ra lễ cưới:

- Nao Puei Lakei (bên nhà gái sẽ nhờ một người có uy tín qua làm quen, hỏi thăm, để xin phép cho đôi trái gái được tiến đến hôn nhâ)

- Nao Păng Ghuk (qua nhà Po Gru để coi ngày lành tháng tốt để tiến hành lễ cưới). Giải thích thêm

Giống với người Chăm Bà La Môn, Chăm Bà Ni cũng cho rằng đây là giai đoạn khó khăn nhất của gia đình nhà gái. Mọi việc phải được tiến hành âm thầm bí mật, càng kín đáo càng tốt. Vì e rằng chuyện mai mối không thành gây ảnh hưởng rất lớn đối với gia đình và thân phận cuộc đời của người con gái. Khi con gái trưởng thành, cha mẹ lo tìm kiếm trong làng hay vùng lân cận có chàng trai nào xứng đáng với con mình, chủ động tính toán cưới chồng cho con mình bằng cách nhờ ông mai mối (ôn binhuk) qua dò la, tìm hiểu. 

Giai đoạn dạm hỏi mọi việc luôn luôn diễn ra về đêm, trong âm thầm. Khi có kết quả tốt mới tiến hành ban ngày bằng lễ hỏi.

Lễ hỏi:

(Thường diễn ra vào sáng hoặc trưa, chiều thứ 3)

Lễ hỏi thường tổ chức ở giữa sàn nhà, mọi người ngồi trên hai dãy chiếu dài. Nghi thức đầu tiên là ông mai rót rượu khấn vái ông bà, tổ tiên đàng trai báo cho biết là ngày đính hôn của một thành viên gia đình, đồng thời cầu mong ông bà tổ tiên phù hộ. Sau khi nghi lễ kết thúc, nhà gái bày biện những thức ăn đã mang đến nhà trai để thết đãi họ đàng trai. Hai họ trò chuyện, ăn nhậu mừng buổi lễ thành công.

Lễ cưới:

(Thường diễn ra vào sáng hoặc tầm trưa thứ 4)

Lễ cưới của người Chăm Hồi giáo Bà Ni thường được tiến hành sau lễ hỏi ít ngày, nhưng không được quá 4 tháng, có lẽ do không muốn để lâu nhiều kẻ dèm pha gây khó khăn cho hôn nhân, ảnh hưởng không tốt cho việc cưới. Nhà nào có con gái lấy chồng cha mẹ phải đến gặp thầy Sư cả để xin ấn định ngày, trước lúc đó khoảng một tháng. Lễ cưới sẽ được diễn ra vào 2 ngày (thứ 3 - thứ 4) trong tuần.

Theo chế độ mẫu hệ, nhà gái đứng ra tổ chức đám cưới cho con. Để chuẩn bị cho lễ cưới chính thức, trước một ngày diễn ra lễ cưới, nhà gái chuẩn bị nguyên vật liệu để làm các loại bánh truyền thống dùng trong nghi lễ cưới hỏi như: pei nung, nònya, pay posk, sacada,…

Tới ngày cưới, nhà trai sửa soạn lễ rượu, trầu cau, cầu trời và ông bà, tổ tiên (prók) đã khuất chứng giám cho việc hôn nhân của con cái mình. Đến giờ lành, khoảng 1-2 giờ chiều, họ hàng đàng trai gồm cha đỡ đầu (ôn nưmư), cha mẹ chú rể, bà con dòng họ nhà trai ra khỏi nhà chuẩn bị đưa chú rể sang nhà gái.

Khi đoàn đưa rể đến, nhà gái bưng khay trầu, rượu, nước trà ra trước cổng để đón chú rể. Tại đây, mọi người trải chiếu, rót rượu, nước trà làm lễ chờ đến giờ lành để đưa chú rể bước vào cổng nhà gái. Đây là nét riêng đặc sắc trong đám cưới Chăm Bà Ni, và còn được xem là một nghi lễ quan trọng không thể thiếu trong nghi thức đón rể (raok matuw). Nếu không, chú rể sẽ bị xem là đi không ai đón, đến không ai mời.

Để tỏ lòng kính trọng đàng trai, nhà gái để một lu nước “khan ya” có một người đàn bà cầm gáo múc nước dội cho từng thành viên nhà trai rửa chân tay và mời họ theo hàng chiếu đã trải sẵn bước vào nhà. Các thành viên đàng trai được ông mai, cha mẹ và họ hàng đàng gái tiếp đón rất nồng hậu và không để mất lòng đàng trai. Nếu không nhà trai sẽ bắt lỗi và có thể dừng đám cưới. Trường hợp này xảy ra thì thường tộc trưởng hai bên đứng ra giải quyết. Nhà gái phải làm lễ “thú tội”, gọi là “mứk kai” (bắt lỗi).

Trong lễ cưới, trang phục của cô dâu chú rể là những bộ đồ truyền thống toàn màu trắng. Y phục của chú rể gồm áo “ao loák” (áo truyền thống của người Hồi giáo Bà Ni) hoặc áo trắng (kiểu áo sơ mi), sarong trắng và đặc biệt chú rể phải cột đầu bằng khăn “xếu” có tua hai bên màu trắng. Cô dâu cũng mặc y phục truyền thống gồm áo “ao may” (áo dài Chăm), váy, khăn choàng (khar drăm).

Sự khác biệt tỏng lễ cưới của người Chăm Bà ni ở Ninh Thuận - Bình Thuận: sự chứng kiến của hai bé trai khoảng 8-12 tuổi (Ninh Thuận) - sự chứng kiến cuộc hôn nhân và trên tay của các bé có cầm lễ vật của năm bé trai hoặc gái mặc đồ truyền thống (Bình Thuận).

2.4. Tang ma

Khi nói đến người Chăm Bà ni không có tục quàn thi hài trong nhà lâu, nếu mất buổi sáng, buổi chiều phải mang đi chôn ngay,còn mất vào buổi chiều, thì chôn vào sáng hôm sau.

Người Chăm Hồi giáo Bàni từ xa xưa đã coi cuộc đời con người đến cõi trần như “một chuyến đi buôn”, cuộc sống trên trần gian là nơi cư trú tạm bợ. Họ quan niệm mọi người từ thế giới bên kia đến cõi trần như “một chuyến đi buôn” rồi lại về thế giới bên kia, thế giới vĩnh hằng. Trong văn học dân gian Chăm, có một Ariya nổi tiếng là Ariya Nau Ikak(cuộc đời như một chuyến đi buôn). Nghi lễ tang ma là nghi lễ quan trọng nhất trong hệ thống nghi lễ vòng đời của người Chăm Bàni. Với quan niệm luân hồi giải thóat, cõi trần chỉ là cõi tạm, cõi chết mới là cõi cõi vĩnh hằng, là cái mà mọi con người đều hướng tới. Nhưng không phải khi chết, ai cũng được hóa giải lên thiên đàng. Để được lên thiên đàng, con người phải hội đủ các tiêu chuẩn khi còn sống và đến khi nhắm mắt xuôi tay, phải được làm lễ tang đầy đủ, trọn vẹn. Đó là những tiêu chuẩn về nguồn gốc đẳng cấp, không tàn tật, cuộc sống phải đầy đủ gia đình, có vợ có chồng, có con cái và đặc biệt phải qua nghi lễ nhập môn theo quy định của giáo lí của Tôn giáo Bàni và đặc biệt hơn nữa là chết phải lành lặn, chết trên giường ở nhà,

Khác với người Chăm Bà-la-môn theo tục táng, người Hồi giáo Bàni chôn người chết.
Ở người Chăm Hồi giáo Bàni cũng quan niệm về người chết giống người Chăm Bà-la-môn. Khi có người chết phải làm lễ tang ma để linh hồn của người đó được siêu hóat. Ngược lại nếu người quá cố không được làm lễ tang ma, linh hồn sẽ không siêu hóa, sẽ bắt tất cả những người thân trong dòng tộc của họ. Cho nên người Chăm Hồi giáo Bàni rất coi trọng tang ma.
Trong lễ tang ma có rất nhiều nghi lễ phức tạp, có sự khác nhau giữa đám tang người nghèo, người nghèo. Tục lệ còn quy định những đứa trẻ dưới mười lăm tuổi không được làm đám tang mà chỉ chôn bình thường. Đối với người chết cũng chia ra làm hai trường hợp: Chết bình thường và chết không bình thường.
+ Chết bình thường: Chết vì bệnh, được quyền làm tang ngay.
+ Chết không bình thường: Như chết trận, chết vì tai nạn giao thông không còn nguyên hiện trạng hoặc chết trong tháng chay tưởng niệm Ramưwan phải chôn một thời gian từ một đến ba năm, sau đó mới cải táng chôn cất tại địa và làm. đám tang. Tục lệ cũng quy định, khi người bệnh hấp hối tất cả những người trong gia đình và dòng họ phải đến thăm và canh chừng ngày đêm. Họ quan niệm rằng, khi người bệnh tắt thở phải có người thân cạnh chứng kiến mới được coi là “tốt”, nếu người chết không có chứng kiến của người thân là điều không lành, “xấu xấu” “mư tai bhaw ”. Cũng chính vì vậy mà họ có điều kiện để chuẩn bị rất chu đáo cẩn thận tất cả những nghi lễ liên quan đến đám tang từ áo quần, trầu cau, gạo…
Thường người Chăm Hồi giáo Bàni chôn người chết ngay vào buổi chiều nếu thân nhân tắt thở lúc sáng, hoặc chôn ngay buổi sáng sau nếu chết vào buổi chiều. Mọi người trong dòng họ và kể cả bàn con xóm làng đến thăm viếng cùng nhau dựng lên một cái nhà bằng tranh rất đơn sơ gọi là “chàn” dùng để thi hài người chết và là nơi các vị tăng liệt, bậc các Imưm , Ppo Gru đọc kinh cầu nguyện cho người chết. Người chết được người thân trong gia đình khi vào một cái lán mái tranh rất đơn sơ để tắm gội thật sạch sẽ, vì họ quan niệm rằng người chết phải tắm gội thật sạch sẽ, kỹ lưỡng trước khi vào “chhan” các nơi. gia tăng sẽ hủy đọc kinh cầu nguyện cho người quá cố.

- Đến lúc gần Ghur (nghĩa trang: thân nhân đưa thi thể qua cái giàn bằng tre có 8 đòn, bó hai lớp vải và buộc bằng bà sợi dây. Tiếp tục, thầy Imưm trong dòng họ sẽ dẫn đoàn tu sĩ, từ 6 đến 12 người tùy độ tuổi, cùng 8 người khiêng giàn đi. Đi được nửa đường, đoàn người dừng 4 vị Acar lại làm lễ trở đầu thi thể rồi đi tiếp về nghĩa trang.

- Nếu không tắm gột rửa sạch sẽ thì người chết coi như là xấu, là không tốt. Sau khi thi hài được tắm rửa theo sự chỉ đạo của thầy Imưm thì được đưa vào “pajang” đầu quay về hướng Bắc. Người ta phủ lên thi hài mấy bộ quần áo của người quá cố, mặt được phủ một chiếc khăn. Trong đêm đó, các tăng lữ được mời đến đọc kinh.
Tùy theo tuổi tác người chết như: Già, trung niên, trẻ mà Ppo Gru phân công các tăng lữ đến đọc kinh và đưa thi hài đến huyệt nghĩa trang gọi là Ghur. Người già chết làm mười hai ông tăng lữ đưa, trung niên sáu ông và nhỏ làm hai ông đưa. Qui tắc của Hồi giáo Bàni không để người chết quá hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Trong suốt đêm đó, việc tăng cường đọc kinh ba đợt, mong muốn cho mọi người được nghỉ ngơi thật tốt.
Sáng sớm hôm sau vào lúc sáu giờ sáng, thân nhân đưa thi hài đi tắm một lần nữa. Trong lúc này các cụ già, thanh niên tráng tre để làm quan tài. Quan tài thường làm bằng tre, chia làm ba ngăn, ngăn giữa dùng để đặt thi hài, ngăn hai bên để tăng lịch đọc kinh cầu nguyện. Sau khi tắm rửa xong, tăng lữ được phân công đọc kinh dẫn đường và là người điều khiển đưa quan tài đến huyệt, đập nước thánh vào thi hài, vừa đọc kinh. Sau đó lau khô rồi bắt đầu liệm thi hài bao gồm quần lót trắng, áo trắng, áo trắng. Đối với đàn ông mặc ba lớp, đàn bà mặc năm lớp. Xong, đưa thi hài vào Kajang. Các con, anh em đến gần coi mặt người chết lần cuối, sau đó các thân nhân đều hiện ba mặt.
Cuối cùng người ta khiêng thi hài bỏ vào quan tài, phủ khăn lại, quan tài mười hai người khiêng đi đến huyệt, đi đầu là tăng lữ được thầy Cả Ppo Gru chỉ định dẫn đường, tiếp theo là tăng lữ như Imưm , Ppo Gru và các tăng lữ khác cùng với người thân, tất cả bà con xóm làng đi theo sau quan tài tiễn đưa người quá cố. Thân nhân vừa đi, vừa khóc. Tục lệ người Hồi giáo Bàni cho thân nhân khóc và kể lể không như luật Hồi giáo Islam không cho thân nhân khóc vì cho rằng nước mắt sẽ trở thành cái ao nước làm Chặng đường của người quá cố đến với thượng đế. Khi quan tài được khi tiến gần đến nghĩa trang, tăng lữ dẫn đường ra lệnh đổi đầu thi hài, bằng cách xoay quan tài đưa chân ra phía trước. Vì họ cho rằng làm như thế sẽ làm lạc hướng lối đi, linh hồn người chết sẽ không trở về quậy phá người thân. Cách nghĩa trang mười đến hai mươi mắt, quan tài bị hạ (nếu người già chết), người ta phải khiêng luôn luôn tăng lữ ngồi hai bên quan tài để đọc kinh, đến nghĩa trang của dòng họ, chủ nhà (ppo sang) chỉ định nơi chôn, tăng lữ làm Xin phép, con cái và người thân cầu nguyện đồng thời, khe nơi huyệt, cầu Allah cho người mình nằm xuống lành, cầu hồn người quá cố được lên Thiên đàng tốt đẹp. Huyệt thường được đào sâu một mét ngang đến hai mét. Sau khi huyệt đào xong tất cả người thân lộ quan tài lần cuối cùng. Sau đó tăng lữ xuống huyệt làm lễ, ở trên huyệt được che một tấm khăn lớn, thi hài được đưa xuống huyệt từ từ, đầu hướng về Bắc, chân hướng về Nam, tăng lữ đặt nghiêng thi hài, đầu hướng về mặt trời lặn. chủ nhà (ppo sang) chỉ định nơi chôn, tăng lữ làm phép, con cái và người thân cầu nguyện đồng thời, nhớ nơi mộ, cầu Allah cho người mình nằm xuống lành, cầu hồn người quá cố lên Thiên Phù hợp tốt đẹp. Huyệt thường được đào sâu một mét ngang đến hai mét. Sau khi huyệt đào xong tất cả người thân lộ quan tài lần cuối cùng. Sau đó tăng lữ xuống huyệt làm lễ, ở trên huyệt được che một tấm khăn lớn, thi hài được đưa xuống huyệt từ từ, đầu hướng về Bắc, chân hướng về Nam, tăng lữ đặt nghiêng thi hài, đầu hướng về mặt trời lặn. chủ nhà (ppo sang) chỉ định nơi chôn, tăng lữ làm phép, con cái và người thân cầu nguyện đồng thời, nhớ nơi mộ, cầu Allah cho người mình nằm xuống lành, cầu hồn người quá cố lên Thiên Phù hợp tốt đẹp. Huyệt thường được đào sâu một mét ngang đến hai mét. Sau khi huyệt đào xong tất cả người thân lộ quan tài lần cuối cùng. Sau đó tăng lữ xuống huyệt làm lễ, ở trên huyệt được che một tấm khăn lớn, thi hài được đưa xuống huyệt từ từ, đầu hướng về Bắc, chân hướng về Nam, tăng lữ đặt nghiêng thi hài, đầu hướng về mặt trời lặn. Sau khi huyệt đào xong tất cả người thân lộ quan tài lần cuối cùng. Sau đó tăng lữ xuống huyệt làm lễ, ở trên huyệt được che một tấm khăn lớn, thi hài được đưa xuống huyệt từ từ, đầu hướng về Bắc, chân hướng về Nam, tăng lữ đặt nghiêng thi hài, đầu hướng về mặt trời lặn. Sau khi huyệt đào xong tất cả người thân lộ quan tài lần cuối cùng. Sau đó tăng lữ xuống huyệt làm lễ, ở trên huyệt được che một tấm khăn lớn, thi hài được đưa xuống huyệt từ từ, đầu hướng về Bắc, chân hướng về Nam, tăng lữ đặt nghiêng thi hài, đầu hướng về mặt trời lặn.
Ở trên một ngôi mộ, các tăng lữ đọc kinh cầu nguyện hiến dâng cho Allah. Tiếp đến người thân của người quá cố đọc kinh cầu nguyện cho linh hồn người chết sớm trở về cõi thiên đường, trong lúc này ba ông tăng li bì dưới huyệt tiếp tục đọc kinh và làm nghi thức đọc kinh nhắn nhủ với người quá cố. Xong phần nghi thức, các thân nhân người chết lấy từng người một nấm đất bỏ xuống huyệt, tiếp đến mấy người thân xuống huyệt dùng mồ hôi đất xuống phụ giúp tăng lữ. Nếu đất được lấp đầy huyệt cho là chết tốt, ngược lại không lấp đầy huyệt cho là chết xấu. Đặc biệt, huyệt được san bằng giống như cách chôn của người theo đạo Hồi giáo Islam chứ không làm nấm mồ như cách chôn của người Việt hay người Hoa. Thi hài được chôn xong họ lấy một nhánh cây dựng lên biểu tượng cho người chết. Mọi người về nhà. Khi ra về không quay lại nhìn mồ, Vì họ tin rằng làm như vậy linh hồn người chết sẽ theo họ về quậy phá. Họ hàng, gia đình tiếp tục làm đám tuần ở nhà trong ba ngày. Ngày đầu gọi là Rơp War, ngày thứ hai Mbeng Wan, ngày thứ ba Padhi

Rơp War:

Sau khi chôn người chết vào buổi sáng, buổi chiều gia đình tiến hành làm lễ Rơp War. Lễ này rất đơn giản gồm có gà, cơm. Đầu tiên gia đình mời anh tăng lữ trong đó có ông Ppo Gru, Imưm. Lễ bắt đầu vào khoảng bốn đến năm chiều. Tất cả tăng liệt vào Kajang làm lễ. Họ ngồi đối diện nhau ở giữa là khoảng trống dùng để lễ vật. Lễ do Thầy Cả điều khiển cùng với tăng liệt đọc kinh. Kinh vừa hạn cho mang đến cho mỗi thầy một mâm cơm, ăn xong, Thầy Cả làm lễ đọc kinh lần cuối rồi kết thúc. Gia đình thết đãi bà con đến dự.

Mbeng Wan:

Lễ này là lễ giết trâu, tuy nhiên nếu có người nghèo không đủ điều kiện kinh tế, người ta làm cá.
Lễ được bắt đầu trong khoảng thời gian. Đầu tiên thân chủ mời hai ông tăng lữ làm lễ giết trâu. Lễ được tiến hành ngay trước cổng nhà gia chủ. Họ đào hai cái hố sâu bốn tấc đến nửa mét, trâu được ngủ gật, dùng chân cột chân lại kéo đến hố đã được đào, mỗi hố một con, một ông tăng lữ đứng trước hai tang lễ vật bao gồm để giết trâu chặt, một bó nhánh cây, một bình đựng nước. Sau khi làm lễ đọc kinh xong, các ông tăng lữ tiến đến hống đã được đặt hai con trâu, mỗi ông ôm chặt và một nhánh cây, đọc vài câu kinh rồi bắt đầu cắt cổ trâu, xong phần lễ.
Đến bốn giờ chiều họ mời sáu tăng lữ, bao gồm Ppo Gru, hai ông Imưm và ba ông thầy Acar. Họ vào Kajang ngồi đối diện nhau, Ppo Gru đọc kinh trước rồi sau đó tăng lữ đọc theo, kinh vừa hạn, họ mang vào cho mỗi ông tăng lê một mâm chè, sau đó kế tiếp là mâm cơm rồi một mâm cơm gồm thịt, canh lá, nước mắm… Họ ăn từng đợt kế tiếp nhau. Cuối cùng tăng liệt đọc kinh một lần nữa, thân nhân thoáng cái kết thúc rồi chấm dứt buổi lễ. Gia đình thết đãi bà con xóm làng. Lần này số lượng bà con rất đông.
Tối đến, người thân và một số và con xóm làng giúp đỡ một số công việc như xếp đồ, quần áo, bánh trái được ngăn cản để chuẩn bị cho ngày hôm sau làm lễ Padhi.

Padhi:

Lễ được tiến hành vào buổi sáng. Khoảng cách từ giờ sáng tất cả tăng lữ được mời đến đọc kinh, Trước mặt tăng lữ (bốn Acar) là khoảng trống được sử dụng để đặt mâm lễ vật. Trong khi tăng lữ đọc kinh dưới sự điều khiển của Thầy Cả, tất cả những người thân đều vô nhà lễ Kajang để bày ra và cầu nguyện cho người quá cố được nghỉ ngơi tốt đẹp. Trước mặt nhà lễ là quần áo, vải vóc của người thân được xếp hạng cao một mét, và một hàng hoặc hai hàng “ciet” (giỏ vỏ trái cây, bánh kẹo…) của tất cả những vật lễ trên gửi về cho những người ở đó bên kia thế giới. Sau khi vừa đọc xong, thân chủ mâm cơm, mâm chè cho các vị tăng lữ, ăn xong tăng liệt đọc kinh lần cuối. Trong lễ Pok Naung này, người thân của người quá cố như con hay người anh, hoặc bạn, đã qua lễ “akrắk” (người được chứng nhận thuộc kinh Coran), đọc vài đoạn kinh dâng thánh Allah, cầu xin linh hồn người quá cố là siêu hóat. Sau khi kinh nguyện được đọc xong, người thân mang “xã hội” ra đứng hai hàng dọc. Đi đầu là các tăng lữ, vừa đi vừa đọc kinh, tiếp đến là thân nhân, họ hàng. Đoàn mang lễ vật đưa tiễn đến ngã tư đường, tăng lữ cho đoàn tiếp tục làm lễ đọc kinh để chấm dứt lễ.

Ngoài ra người Chăm Hồi giáo Bàni có tục chôn tạm (Ba nau paywa) và sẽ làm lễ cải táng sau một năm đến. Những người chết phải chôn tạm là những người chết bất đắc kỳ tử hoặc đàn bà chết lúc mang thai, chết lúc sinh đẻ. Những người chết trong trường hợp trên không được chôn ngay trong nghĩa trang mà họ phải nằm lẻ loi một thời, đợi lúc xác định tan hết thịt thì mới đào lên để làm lễ chôn cất tuần lễ vào khu nghĩa trang của dòng họ.
Nghĩa trang của người Chăm Hồi giáo Bàni phần lớn nằm ở cách dân cư ít nhất năm cây số trở lên, nghĩa trang được phân lô theo dòng tộc và chôn cất theo thứ tự theo bậc chức sắc Tôn giáo, già trẻ và sau đó đến người tàn tật. Hàng năm vào dịp lễ hội Ramưwan các cháu trong dòng tộc có trách nhiệm đi tảo mộ đọc kinh Coran mời ông bà tổ tiên về cùng sinh hoạt gia đình trong ngày diễn ra lễ hội.

2.5. Biến đổi

 

 

văn hóa học

Đăng nhận xét

Mới hơn Cũ hơn