|
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO |
BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH |
|
|
|
PHAN THỊ THÙY TRANG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ HOẠT
ĐỘNG
LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
CỦA NGƯỜI CHĂM THÔN BÀU TRÚC,
TỈNH NINH THUẬN
Quản lý nghề làm gốm truyền thống
của người chăm thôn Bàu Trúc ở tỉnh Ninh Thuận
Chuyên
ngành: Quản lý văn hóa
Lớp:
Quản lý văn hóa K8
Mã
số:
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS: Phan Quốc Anh
Tp. Hồ Chí Minh – 2021
LỜI CAM ĐOAN
Tôi
xin cam đoan luận văn là do tôi viết và chưa công bố. Các cứ liệu nêu ra trong
luận văn là trung thực, khách quan. Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời
cam đoan của mình.
Ninh
Thuận, Ngày
6 tháng 6 năm 2021
Học
viên
Phan
Thị Thùy Trang
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi
xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học văn hoá Thành phố Hồ Chí
Minh, khoá Sau đại học, cùng các thầy cô đã tạo
điều kiện giúp đỡ, động viên và truyền đạt cho tôi những kiến thức quí báo trong suốt chặn đường theo học lớp Cao học
Quản lý văn hoá K8.
Xin được gửi lời
cảm ơn sâu sắc đến PGS. TS. Phan Quốc Anh, là
người thầy đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình nghiên cứu, thu nhập, phân
tích tư liệu và hoàn thành đề tài này một cách tốt nhất.
Xin cảm ơn chính
quyền địa phương, các nghệ nhân cao tuổi, Ban chủ nhiệm hợp tác xã khu phố, các cơ sở gốm tại làng Bàu Trúc đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi được tiếp
cận các nguồn thông tin trong quá trình khảo sát thực tế.
Trong quá trình
nghiên cứu dù đã có nhiều nổ lực cố gắng, tuy
nhiên đề tài không tránh khỏi những hạn chế. Vì vậy, tôi
rất mong nhận được các ý kiến, góp ý của hội đồng phản biện, các thầy cô giáo, các nhà khoa học, nhà quản lý,
chuyên gia, bạn đọc quan tâm, để đề tài tiếp tục được hoàn thiện.
Xin chân thành cảm ơn.
Lưu ý:
Hình thức trình bày. Theo hướng dẫn của trường. phông
chữ, cỡ chữ, trang…
Dung lượng: số trang toàn luận văn
Phần mở đầu: Phương
pháp nghiên cứu và lý thuyết nghiên cứu
Phỏng vấn: Qua điện thoại…
Đối tượng khảo sát…
Số trang của từng chương mục, phần mở đầu
Tài liệu tham khảo
Tiểu kết, kết luận…
Cách làm:
Xây dựng đề cương chi tiết
Chi tiết hóa đề cương
Mục 1.1.
1.1.1.
1.1.2.
1.1.2.1.
- ý 1
- ý 2
- ý 3 (tư liệu ở đâu…trích dẫn TLTK nào?
Khi đọc tài liệu tham khảo: Bôi vàng bôi đen (sử dụng
vào mục 2.1.2…).
1.1.2.2.
--------
Viết danh mục TLTK
1.
Phan Quốc Anh
(2007), Nghi lễ vòng đời của người Chăm Ahier tỉnh Ninh Thuận, Nxb VHDT, Hà Nội.
2.
3.
PhAn An….
4.
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN
NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
CỦA NGƯỜI CHĂM THÔN BÀU TRÚC, TỈNH NINH
THUẬN
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp
thiết của đề tài[A1]
Giới
thiệu về làng nghề truyền thống Chăm Bàu Trúc
-
Giới thiệu về làng nghề Truyền thống Chăm (gốm, dệt) và những giá trị văn hóa ….
-
Một nghề truyền thống đang được đệ trình UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi
vật thể của nhân loại cần bảo tồn cấp bách
-
Giới thiệu những thực trạng đang gặp khó khăn trong công tác quản lý làng nghề
-
Bên cạnh những đề tài nghiên cứu các mã ngành khác về nghề gốm Bàu Trúc, chưa
có đề tài nào nghiên cứu về làng nghề gốm truyền thống Chăm Bàu Trúc dưới góc độ quản lý.
-
Là người con sinh ra và lớn lên ở vùng đồng bào Chăm Ninh Phước, nên tôi chọn đề
tài … làm luận văn tốt nghiệp cao học.
1.
Lịch sử vấn
đề nghiên cứu
Chia các nhóm vấn đề
1.1.
Nhóm các tài liệu nghiên cứu về người Chăm, văn hóa Chăm[1][01,tr.40]
1.2.
Nhóm các tài liệu Nghiên cứu về làng nghề truyền thống
1.3.
Nhóm các tài liệu Nghiên cứu về làng nghề Bàu Trúc
1.4.
Nhóm các văn bản quản lý nhà nước về làng nghề gốm Chăm Bầu Trúc (văn bản chỉ đạo của tỉnh ủy,
UBND tỉnh, các sở: Sở NN PTNT, Sở Công thương (website làng nghề Chăm), Sở
VHTTDL về việc xây dựng hồ sơ di sản văn hóa … UBND huyện NF, Thị Trấn Phước
Dân, Ban QL Khu phố 7, Ban Chủ nhiệm HTX gốm Bàu Trúc…nhà trưng bày.
Các văn bản chỉ đạo về bảo tồn và phát
triển làng nghề truyền thống của Việt Nam nói chung, của Ninh Thuận nói
riêng…(lên mạng: Sở NN, Sở Công thương, Sở VĂN HÓA..
2. Mục
đích nghiên cứu
Mục
đích 1: Thu thập tư liệu thành văn, khảo sát thực trạng làng nghề: Thuận lợi,
khó khăn, nguyên nhân
Muc
đích 2: Tìm ra những giải pháp đề nâng cao hiệu quả quản lý làng nghề
3.
Đối tượng
và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Nghệ nhân và bà con sinh sống bằng nghề làm gốm truyền thống Chăm ở làng Bàu
Trúc (bao nhiêu hộ? khẩu? tỷ lệ sống bằng nghề gốm…)
Đối tượng khảo sát:
-
Nghệ nhân làng nghề
-
Cán bộ trong hệ thống chính trị, các ban ngành cấp tỉnh liên quan như Sở VHTTDL
Sở Công thương, Sở Nông nghiệp phát triển nông thôn, lãnh đạo huyện Ninh Phước,
lãnh đạo thị trấn, ban chủ nhiệm Hợp tác xã Gốm
4.
Phương pháp
nghiên cứu
Đọc
các luận văn đi trước tương đồng (em xem thêm các luận văn khác để làm mục lý thuyết nghiên cứu mà em còn thiếu)
5.
Đóng góp của
luận văn
Đóng
góp về mặt lý luận
…………………………
Đóng
góp về mặt thực tiễn
……………………….
6.
Kết cấu của
luận văn
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN
1.1.
Cơ sở lý luận
1.1.1. Khái niệm
văn hóa
1.1.2. Khái niệm
làng nghề truyền thống
1.1.3. Khái niệm
quản lý, quản lý làng nghề truyền thống
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Khái
quát về làng nghề truyền thống Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận
1.2.1.1.
Làng nghề truyền thống Chăm ở Ninh Thuận (làng nghề dệt, nghề gốm)
1.2.1.2.
Làng nghề truyền thống Chăm ở Bình Thuận (làng nghề dệt nghề gốm)
1.2.2. Tổng quan về
làng nghề gốm truyền thống Chăm thôn Bàu Trúc
1.2.2.1.
Điều kiện tự nhiên (Điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý, điều kiện khí hậu, thổ
nhưỡng, điều kiện sản xuất;...có ruộng đất sét...nguyên liệu làm gốm...
1.2.2.2.
Điều kiện kinh tế - xã hội (Dân số, hộ, khẩu, văn hóa, tôn giáo,,,điều kiện
kinh tế, số hộ làm nghề gốm, tỷ lệ...các nghề khác... thu nhập bình quân đầu
người...)
1.2.2.2.
1.2.2.3.
Tiểu kết chương 1
Tiểu kết chương không phải là tóm tắt chương. Chương đó
đã giải quyết được vấn đề gì? Đúc kết được cái gì?
CHƯƠNG 2: Thực trạng quản lý làng nghề gốm truyền
thống của người Chăm Bàu Trúc.
(Em nên tham khảo ở một số luận văn
khác có nội dung tương tự)
2.1.
Lịch sử hình thành và phát triển nghề gốm truyền thống Chăm
2.1.1. Lịch sử hình thành
2.1.2. Nghề làm gốm truyền thống Chăm
2.1.2.1. Khái quát quy trình sản xuất và các loại hình sản phẩm
2.1.2.2. Các giá trị văn hóa nghề làm gốm…(giá trị lịch sử, giá
trị nghệ thuật, giá trị bản sắc văn hóa Chăm, giá trị xã hội, giá trị kinh tế…)
2.2.
Công tác quản lý làng nghề truyền thống Chăm
2.2.1.
Những thành tựu trong hoạt động quản lý làng nghề ….
Nguyên
nhân
TW,
tỉnh rất quan tâm
2.2.2.
Những hạn chế trong hoạt động quản lý… nguyên nhân
-
-
-
Tiểu
kết chương 2
Chương
3: Những đề xuất, khuyến nghị và các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý làng
nghề gốm truyền thống Chăm Bàu Trúc ở tỉnh Ninh
Thuận.
3.1.
Quan điểm và định hướng phát triển làng nghề gốm
3.1.1.
Quan điểm về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa làng nghề gốm truyền thống
Chăm Bầu Trúc. (đến các sở sưu tầm văn bản chỉ đạo)
- Quan điểm chỉ đạo về văn hóa (Sở
VHTTDL), trong đó dự báo sẽ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể
của nhân loại….
- Văn bản chỉ đạo về phát triển làng
nghề (sở Công thương và sở Nông nghiệp)
- Văn bản chỉ đạo về xây dựng nông thôn
mới. (tư liệu lấy ở Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới – sở Nông nghiệp phát
triển nông thôn, Phòng Kinh Tế hạ thần UBND huyện Ninh Phước, UBND thị trấn
Phước Dân, BQL KP7 thị trấn Phước dân.
3.1.2.
Định hướng phát triển (lưu ý thời gian)
Quy hoạch phát triển làng nghề…
Dự báo phát triển trong thời gian tới
(10 năm)
3.2.
Giải pháp quản lý làng nghề truyền thống gốm Bàu Trúc ở Ninh Thuận
Mục này em tham khảo thêm ở các luận
văn khác có nội dung tương tự
3.2.1. Giải pháp quy hoạch, kế hoạch
3.2.2. Giải pháp nâng
cao nguồn
lực
3.2.2.1.
Nguồn lực vốn đầu tư, quảng bá và tìm kiếm thị trường
3.2.2.2.
Giải pháp nâng cao nguồn nhân lực
3.2.3. Giải pháp nâng
cao hiệu quả quản lý làng nghề
-
Về tổ chức,
bộ máy (BQL Khu phố 7, Ban Chủ nhiệm HTX
-
Đổi mới phương thức tổ chức, quản lý các hoạt động làng nghề và nhà trưng bày
của HTX.
Tiểu kết chương 3
KẾT LUẬN
====================================================
Chương 3: Nâng cao hiệu quả
quản lý và đề xuất giải pháp pháp triển nghề làm gốm truyền thống Chăm Bàu Trúc
ở tỉnh Ninh Thuận.
3.1. Văn bản quản lý nhà
nước và các chính sách về việc quản lý và phát triển làng nghề truyền thống.
3.1.1. Văn bản quản lý
nhà nước và các chính sách từ trung ương
3.1.2. Văn bản quản lý
nhà nước và cụ thể hoá chính sách tại địa phương
3.1.3. Những vấn đề trong
quá trình hội nhập
3.1.4. Để pháp triển làng
nghề bền vững
3.2. Giải pháp quản lý
làng nghề truyền thống gốm Bàu Trúc ở Ninh Thuận
3.2.1. Giải pháp quy
hoạch, kế hoạch
3.2.2. Giải pháp về nguồn
vốn đầu tư, quản bá và tìm kiếm thị trường
3.2.3. Giải pháp về tổ
chức và quản lý nhà nước, đạo tạo nguồn nhân lực
tổng
quan vấn đề nghiên cứu
1.1. Cơ sở lý luận về làng nghề truyền thống
1.1.1.
Khái
niệm
1.1.2.
Vai
trò của làng nghề truyền thống trong việc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp , nông thôn.
1.2. Khái quát về làng nghề truyền thống gốm Bàu Trúc
1.2.1.
Điều
kiện tự nhiên
1.2.2.
Điều
kiện xã hội
Tiểu kết
Chương 2: Thực trạng quản lý
nghề làm gốm truyền thống của người
Chăm Bàu Trúc.
2.1. Đặc điểm gốm Bàu
Trúc
2.1.1. Qui trình sản xuất
và các loại hình sản phẩm
2.1.2. Ý nghĩa các hoa
văn trên gốm Bàu Trúc
2.2. Thực trạng hoạt động
của làng nghề gốm Chăm Bàu Trúc
2.3. Thực trạng quản lý
làng nghề gốm Chăm Bàu Trúc
Chương 3: Nâng cao hiệu
quả quản lý và đề xuất giải pháp pháp triển nghề làm gốm truyền thống Chăm Bàu
Trúc ở tỉnh Ninh Thuận.
3.1. Văn bản quản lý nhà
nước và các chính sách về việc quản lý và phát triển làng nghề truyền thống.
3.1.1. Văn bản quản lý
nhà nước và các chính sách từ trung ương
3.1.2. Văn bản quản lý
nhà nước và cụ thể hoá chính sách tại địa phương
3.1.3. Những vấn đề trong
quá trình hội nhập
3.1.4. Để pháp triển làng
nghề bền vững
3.2. Giải pháp quản lý
làng nghề truyền thống gốm Bàu Trúc ở Ninh Thuận
3.2.1. Giải pháp quy
hoạch, kế hoạch
3.2.2. Giải pháp về nguồn
vốn đầu tư, quản bá và tìm kiếm thị trường
3.2.3. Giải pháp về tổ
chức và quản lý nhà nước, đạo tạo nguồn nhân lực
1. Tính cấp thiết của đề
tài
Trong quá trình lao động sản xuất để tồn tại và phát triển, các cộng đồng
dân tộc đã sản sinh ra nhiều giá trị văn hóa độc đáo về bản sắc. Trong đó, nghề
làm gốm của người Chăm tại làng Bàu Trúc thị trấn
Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận là một ví dụ điển hình. Sự tồn tại
và phát triển của các làng nghề truyền thống không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh
tế, cải thiện đời sống vật chất của người dân, giải quyết phần lớn lực lượng
lao động tại chỗ, hạn chế vấn đề di dân mà còn góp phần quan trọng trong việc
giữ gìn, phát huy những giá trị đạo đức, văn hóa truyền thống.
Tuy nhiên trong quá trình sản xuất, làng nghề gặp không ít khó khăn và trở
ngại như: hoạt động sản xuất mang tính chất cầm chừng, có nguy cơ biến mất vì
tính kế thừa đang dần mai một. Đứng trước những thực trạng đáng lo ngại này,
học viên chọn đề tài “Quản lý nghề làm gốm truyền thống của người
chăm thôn Bàu Trúc ở thị trấn Phước Dân, huyện ninh Phước, tỉnh Ninh
Thuận” với mong muốn góp phần tìm ra những giải pháp khả thi khôi
phục, phát triển nghề làm gốm truyền
thống của người Chăm ở Ninh Phước, Ninh Thuận trong bối cảnh kinh tế xã hội
thay đổi của hiện tại.
2.
Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Phần này phải viết lại hoàn toàn vì em không nắm được tư liệu
Làng nghề truyền thống từ lâu là đối tượng nghiên cứu của
rất nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước. Tính đến nay đã có rất nhiều công
trình viết về nghề và làng nghề truyền thống ở Việt Nam như :
PGS.TS Nguyễn Viết Sự với
công trình : “ Tuổi trẻ với nghề truyền thống Việt Nam” do nhà xuất bản Thanh
niên ấn hành năm 2001. Nội dung công trình thể hiện cá nhìn cái quát về nghề
truyền thống Việt Nam, qua đó tác giả đi sâu vào tìm hiểu một số nghề truyền
thống thuộc lĩnh vực mỹ nghệ, trong đó có nghề làm gốm.
Công trình “ Làng nghề
thủ công truyền thống Việt Nam” của tác giả Bùi Văn Vượng [2] đã đưa ra một số
khái niệm nghề thủ công, làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam, cung cấp
thông tin cho đoc giảvề 16 làng nghề nổi tiếng trải dài 3 miền Nam Bắc.
Trong tác phẩm “Nghề cổ
nước Việt Nam” tác giả Vũ Từ Trang [3] đã nêu một cách khái quát về lịch sử
hình thành nghề thủ công Việt Nam, đồng thời đưa ra một số khái niệm làng nghề,
phường nghề và công nghệ của làng nghề.
Tác giả Phạm Công Sơn với
công trình: “ Du khảo nhân văn: làng nghề truyền thống Việt Nam” do nhà xuất
bản Văn Hoá Dân Tộc ấn hành năm 2004 [4]. Có khoảng 80 làng nghề của cộng đồng
các dân tộc Việt Nam được tác giả tập trung miêu tả và phân tích.
Ngoài
ra, việc phát triển làng nghề truyền thống theo hướng phát triển bền vững trong
quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước hay khái niệm về phát triển bền
vững với văn hoá cũng đã được các nhà nghiên cứu quan tâm, biểu hiện có một số
công trình như : trong tác phẩm “ Tạo việc làm thông qua khôi phục và phát
triển làng nghề truyền thống” của nhóm tác giả Nguyễn Văn Đại và Trần Văn Luận
[5], với những thông tin phong phú và sinh động từ những kết quả nghiên cứu
trong quá trình công tác thực tiễn đã phần nào khắc hoạ những bước phát triển
thăng trầm và những kết quả đã đạt được, những tồn tại khó khăn cần tháo gỡ để
đưa các ngành nghề truyền thống ở Việt Nam phát triển một cách bền vững trong
nên kinh tế thị trường. Trong tác phẩm “Phát triển làng nghề truyền thống trong
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá” của tác giả Mai Thế Hởn, Hoàng Ngọc
Hoà, Vũ Văn Phúc [13] đã nghiên cứu, làm rõ phạm trù làng nghề truyền thống,
đặc điểm hình thành và vị trí, vai trò của làng nghề truyền thống đối với phát
triển kinh tế - xã hội qua các thời kỳ lịch sử. Bên cạnh đó, tác phẩm còn phân
tích đánh giá tiềm năng, thực trạng của việc phát triển làng nghề truyền thống
trong những năm đổi mới và những tồn tại cần khắc phục, vạch rõ những phương
hướng và đề xuất những giải pháp đồng bộ có tính xác thực nhằm phát triển làng
nghề truyền thống.
Đặc biệt, có một số công
trình nghiên cứu trực tiếp và quan trọng đã cung cấp những thông tin, tư liệu
tổng hợp giới thiệu những nét văn hoá đặc trưng và làng nghề truyền thống gốm
chăm nói riêng như: công trình “Văn hoá Chăm” do tác giả Phan Xuân Biên làm chủ
biên [6] đã phát thảo một bức tranh toàn cảnh về các loại hình và các dạng thức
văn hoá Chăm với những đặc trưng phong phú đa dạng trong suốt tiến trình lịch
sử phát triển. Trong tác phẩm “ Văn hoá – xã hội Chăm nghiên cứu và đối thoại”
của tác giả Inrasara [8] là tập hợp những bài viết, nghiên một phần tác giả phân tích riêng thực trạng và
giải pháp về nghề làm gốm truyền thống của người Chăm Bàu Trúc tại Ninh Thuận.
Ngoài những tác phẩm kể
trên thì còn có rất nhiều luận văn tốt nghiệp, khoá luận, bài viết, bài tham
luận về văn hoá, du lịch đã nghiên cứu về làng nghề gốm truyền thống Chăm Bầu
Trúc điển hình như :
Trần Ngọc Khanh [9] đã khảo sát nghề gốm Bàu Trúc trong
luận văn tốt nghiệp đại học đề tài “ Một số đặc trưng văn hoá dân tộc trong
nghề gốm và nghề dệt cổ truyền của người Chăm ở Thuận Hải”. Trong luận văn này,
tác giả đã khảo tả làng gốm của người Chăm ở Bàu Trúc - Trì Đức và làng dệt Mỹ
Nghiệp.
Trần Công Nguyện [10] viết về gốm Chăm, nhưng chủ yếu
giới thiệu làng gốm Bàu Trúc - trong tác phẩm người Chăm Thuận Hai do VHTT - Thuận
Hải ấn hành. Tiếp đó, năm 1996, tác giả lây đề tài này thành một luận văn phố
tiến sĩ ngành Dân tộc học, lấy tên luận văn là “ Nghề thủ công cổ truyền của
người Chăm” bảo vệ tại hội đồng chấm luận án quốc gia tại Viện Khoa học Xã Hội
và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung luận văn của tác giả dành nhiều sự
quan tâm cho làng dệt Mỹ Nghiệp, gốm Bàu Trúc chỉ là một phần nội dung của luận
văn.
Lê Minh Phong [11] đã chọn gốm Bàu Trúc làm nội dung
chính cho luận văn thạc sĩ của mình với đề tài “ Làng gốm Chăm – Bàu Trúc tỉnh
Ninh Thuận”. Ở đề tài này gốm Chăm Bàu Trúc là đối tượng duy nhất được mô tả
trong nội dung của luận văn. Tác giả miêu tả khái quát về lịch sử làng nghề,
các giá trị văn hoá và sản phẩm tại làng nghề, khái quát về những nét hoa văn
truyền thống, cũng như đưa ra những kiến nghị và giải phát phát triển làng
nghề.
Tác giả Văn Món [15] đã bảo vệ thành công công trình
nghiên cứu “ nghề gốm cổ truyền của người Chăm Bàu Trúc – Ninh Thuận”, công
trình do chính phủ tài trợ sáng tạo đã đêm lại cho làng gốm Bàu Trúc những bước
tiến khả quan.
Có thể thấy rằng, những đề tại viết về nghề thủ công
truyền thống của người Chăm nói chung và nghề làm gốm truyền thống Bầu Trúc nói
riêng đã được quan tâm và nghiên cứu nhiều. Nhưng những công trình này. Chưa đề
cập sau đến vấn đề quản lý làng nghề, chưa phân tích những yếu tố tác động và
các nhóm giải pháp cụ thể. Trong giai đoạn hiện nay, làng nghề truyền thống
đang đứng trước những thách thức lớn, với nhiều sự thay đổi, tátc động từ cơ
chế kinh tế thị trường trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Vì vậy việc tổng hợp, đánh giá và phân tích thực trạng hoạt động của làng nghề
để đưa ra những đề xuất về định hướng quản lý, giải pháp tích cực nhằm hướng
làng nghề làm gốm Chăm truyền thống của người Chăm thôn Bàu Trúc theo hướng
phát triển bền vững là rất cần thiết. Vì lý do đó, học viên đã quyết định chọn
nội dung: Quản lý nghề làm gốm truyền thống của người Chăm Bàu Trúc ở Ninh
Thuận” làm hướng nghiên cứu của mình.
3. Mục đích nghiên cứu
Nhận diện những thuận lợi và
thách thức trong quá trình phát triển nghề làm gốm của người Chăm ở Ninh Phước hiện nay.
Giới thiệu nét độc đáo và riêng
biệt về làng nghề làm gốm của Người Chăm ở Ninh Thuận.
Tìm ra những giải pháp khả thi,
cho sự phát triển nghề làm gốm của người Chăm ở Ninh Phước trong tương
lai.
Nhằm kêu gọi sự quan tâm của các
cơ quan chức năng trong việc phát triển làng nghề.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: làng nghề truyền thống gốm Bàu Trúc.
- Không gian nghiên cứu: làng nghề gốm tại làng Bàu Trúc, thị Trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh
Thuận.
- Thời gian nghiên cứu: nghiên cứu từ năm 2015 đến năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để chọn phương phấp nghiên cứu phù hợp
cho đề tài này, Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu có tính liên ngành
của khoa học xã hội và nhân văn. Trong đó vận dụng linh hoạt các phương pháp
nghiên cứu của dân tộc học, nhân học văn hoá và văn hoá học. Các phương pháp
điền dã dân tộc học (quan sát, quan sát tham dự, phỏng vấn sâu…) phân tích tài
liệu, thống kê, so sánh… là những phương pháp được sử dụng trong luận văn.
Thực hiện đề tài này, sau khi sưu tầm,
phân tích, tổng hợp các nguồn tài liệu từ sách, báo in, báo điện tử, tạp chí,
bài giảng… chúng tôi tiến hành khảo sát, điền dã thực tế để so sánh, đối chiếu
các nguồn tư liệu khác nhau, từ đó làm rõ nội dung nghiên cứu của luận văn.
Trên
cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng, những thực trạng, những thuận lợi, khó
khăn, những cơ hội, thách thức nghề làm gốm của người Chăm tại địa phương trong
quá trình phát triển. Luận văn đề xuất chính sách quản lý làng nghề truyên
thống.
Khảo sát thực tế, đánh giá một cách
khách quan, thực trạng hoạt động và những tiềm năng phát triển của làng nghề
gốm truyền thống của người Chăm Bàu Trúc ở Ninh Thuận.
Đưa ra những đề xuất, chương trình và dự
án cụ thể trong việc quản lý và phát triển làng nghề truyền thống của người
Chăm theo hướng phát triển bền vững tại địa phương.
7. Bố cục các chương
Để đạt được các mục đích nghiên cứu, chúng tôi xây dựng bố cục của luận văn
gồm 3 chương:
·
Chương
1: Tổng quan đề tài nghiên cứu
·
Chương 2: Thực trạng quản lý nghề làm gốm truyền
thống của người Chăm Bầu Trúc.
·
Chương 3: Nâng cao hiệu quả quản lý và đề xuất giải pháp triển nghề làm gốm truyền thống của người Chăm Bàu Trúc ở tỉnh Ninh Thuận.
Chương 1
TỔNG
QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.
Cơ sở lý luận
1.1.1
Khái niệm
Văn hoá là một khái niệm thể
hiện hoạt động sáng tạo. chỉ riêng con người mới có, con người là chủ thể sáng
tạo văn hoá gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Văn
hoá là một khái niệm có ngoại diên rất rộng, bao gồm nhiều loại đối tượng, tính
chất và hình thức biểu hiện khác nhau. Khác niệm văn hoá có hàng trăm các định
nghĩa khác nhau, căn cứ vào gốc độ tiếp cận của các nhà nghiên cứu, phản ánh
những hướng quan tâm khác nhau đến sự phong phú, đa dạng của văn hoá. Ở phương
Tây, theo tiếng Anh và tiếng Pháp “ Culture” đều xuất phát từ chữ La tinh. “
Culture” có nghĩa là sự khai hoang, trồng trọt, sự vun trồng, sau đó từ culture
được mở rộng nghĩa, dùng trong lĩnh vực xã hội chỉ sự vun trồng, giáo dục về
mặt tinh thần của con người. Ở phương Đông, trong tiếng Hán cổ, từ “ văn hoá”,
bao gồm “Văn” là vẻ đẹp nhân tính, trí tuệ con người, “ hoá” là dạy dỗ, cảm
hoá, từ đó hình thành quan niệm “ văn trị hoá giáo” của người Truung Quốc. Như
vậy, trong từ của Phương đông và phương Tây, “văn hoá” đều có chung một nghĩa
căn bản là sự giáo hoá, vun trồng nhân cách con người.
Theo Fiderico Mayor, nguyên tổng giám đốc UNESCO: “ văn hoá
là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện tại. Qua các
thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các
truyền thống và các thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của từng
dân tộc”.
Hồ Chí Minh cho rằng: “ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích
của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo
đực, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh
hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo
và phát minh đó tức là văn hoá”.
Tác giả Trần Ngọc Thêm quan niệm về văn hoá: “Văn hoá là hệ
thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích
luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự trương tác giữa con người với
môi trường tự nhiên và xã hội của mình”.
Như vậy, có thể xem văn hoá là toàn bộ những sản phẩm do
con người sáng tạo ra, có giá trị, phù hợp với cộng đồng. Được cộng đồng chấp
nhận, lưu truyền và sử dụng cho đến ngày hôm nay.
Khái niệm di sản văn hoá:
Di sản văn hoá quy định tại
luật di sản văn hoá năm 2001( được bỏ sung năm 2009) bao gồm di sản văn hoá phi
vật thể và di sản văn hoá vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị
lịch sử,văn hoá, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.[16, tr.32-33]
Di
sản văn hoá phi vật thể
Công ước quốc tế về di sản văn
hoá phi vật thể của UNESCO được đưa ra tại cuộc họp tại hội đông, phiên họp thứ
32 tại Pari từ ngày 29/09 đến ngày 17/10 năm 2003 đã đưa ra công ước về bảo vệ
di sản văn hoá phi vật thể. Cụ thể như sau: “Di sản văn hoá phi vật thể được
hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, kỹ năng kèm theo đó là
những công cụ, những đồ vật, đồ tạo tác và không gian văn hoá liên quan mà các
cộng đồng, các nhóm người và trong một số là trường hợp là cá nhân, công nhận
là một phần di sản văn hoá của họ. Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ
khác, di sản văn hoá phi vật thể được cộng đồng và các nhóm người không ngừng
tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với
tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc
và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối phương với đa dạng văn hoá
và tinh thần sáng tạo của con người”.
Từ định nghĩa trên, UNESCO xác định di sản văn hoá phi vật
thể thể hiện ở những loại hình sau [17, tr.3]:
-
Các truyền thống và biểu đạt
truyền khẩu, trong đó có ngôn ngữ là phương tiện của di sản văn hoá phi vật thể;
-
Nghệ thuật trình diễn;
-
Tập quán xã hội, tín ngưỡng và
các lễ hội;
-
Tri thức và tập tục liên quan đến
tự nhiên và vũ trụ;
-
Nghề thủ công truyền thống.
Ở
Việt Nam, khái niệm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể. Được
quy định tại điều 4 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sản văn hoá
như sau:
Di
sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa
học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng,
diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công
truyền thống, tri thức về y, dược cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, trang phục
truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác.[16,tr.40-41]
Như
vậy, cả công ước quốc tế về Di sản văn hoá phi vật thể và Luật di sản văn hoá,
nghề thủ công truyền thống là một trong những loại hình của di sản văn hoá phi
vật thể của cộng đồng. Nghề thủ công và các chủ thể sáng tạo, lưu truyền là đối
tượng cần được bảo tồn và phát huy.
Khái
niệm quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống
-
Khái niệm quản lý:
Quản lý gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội,
nên trong thực tế có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý; nhân có một cách
tiếp cận được sự ủng hộ của nhiều nhà khoa học và nhà quản lý thực tiễn, đó là
quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể đối tượng quản lý
nhằm đạt mục tiêu dự kiến [6,
tr.9].
-
Khái niệm quản lý nhà nước
Quản
lý nhà nước là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng pháp luật làm
công cụ quản chủ yếu nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Những
hoạt động này nhằm đảm bảo cho hệ thống pháp luật quốc gia đi vào cuộc sống.
Đây là chức năng cơ bản của nhà nước. Hoạt động quản lý nhà nước đạt hiệu quả
cao phải trên cơ sở bảo đảm tính khoa học về hoạch định, tổ chức, điều hành,
kiểm tra, giám sát [18, tr.62]
-
Khái niệm quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống
Quản lý đối nhà nước đối với làng nghề truyền thống
là việc áp dụng hệ thống các công cụ quản lý bao gồm pháp luật, chính sách, quy
hoạch, kế hoạch tác động vào đối tượng quản lý để hướng dẫn các làng nghề
truyền thống của địa phương phát triển theo định hướng đã đặt ra trên cơ sở sử
dụng hiệu quả các nguồn lực nhà nước.
Quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống nhằm
phát triển làng nghề theo mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương,
quốc gia và kiểm soát làng nghề phát triển một cách bền vững. Vì vậy, để quan
lý làng nghề, nhà nước dùn các công cụ như pháp luật, chính sách,… trong hoạt
động quản lý nhà nước; cụ thể như:
+ Thông qua hệ thống pháp luật, một mặt, nhà nước
tuyên bố các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể hoạt động trong làng truyền
thống, đặc biệt là quyền và nghĩa vụ, chính sách của các cơ quan quản lý nhà
nước đối với làng nghề. Nếu hệ thống luật pháp tiến bộ và phù hợp, sẽ khuyến
kích làng nghề phát triển. Ngược lại, hệ thống luật pháp lạc hậu, bảo thủ sẽ
cản trở sự phát triển của làng nghề truyền thống.
+ Quản lý nhà nước không chỉ nhằm kiểm soát làng
nghề truyềnt hống mà quan trọng hơn là định hướng cho làng nghề truyền thống
phát triển. Trong hoạt động quản lý, nhà nước cần có các chiến lược, quy hoạch
để định hướng cho các làng nghề phát triển một cách bền vững. Mặc khác, có qui
hoạch, nhà nước mới kiểm tra, kiểm soát được sự phát triển của làng nghề truyền
thống, từ đó có các chính sách điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế.
Khái
niệm quản lý văn hóa
Quản
lý văn hóa thường được xem là một hoạt động đặc thù. Tuy mang tính đa ngành, có
mối quan hệ chặt chẽ với khoa học quản lý nói chung và nhiều ngành như xã hội
học, nhân học, kinh tế học... quản lý văn hóa vẫn chứa đựng nhiều sự khác biệt
so với hoạt động quản lý của các ngành khác. Bản chất các hoạt động giao dịch
trong quản lý văn hóa không phải là bán hàng như trong quản lý kinh tế mà là
thiết kế các hợp đồng về nghệ thuật. Các mục tiêu, ưu tiên và giá trị trong
quản lý văn hóa cũng có những điểm khác biệt . Theo tác giả Bùi Hoài Sơn cho rằng Quản
lý văn hoá là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc vận hành, tổ
chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp
luật trong lĩnh vực văn hoá, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế, xã hội
của từng địa phương nói riêng, cả nước nói chung. Cũng theo tác giả
Bùi Hoài Sơn: Về mặt lý thuyết thì mỗi một giai đoạn xã hội cụ thể đòi hỏi có
một hình thức quản lý phù hợp. Hình thức quản lý tiền kiểm không phải là hoàn
toàn không có tác dụng nhưng ở bối cảnh hiện nay thì rõ ràng cách quản lý này
không phù hợp. Xã hội hiện nay hiện nay coi trọng sự tự do sáng tạo của cá
nhân, các nghệ sĩ, xã
hội cũng phức tạp, đa dạng, biến đổi nhanh chóng hơn nhiều so với xã hội trước
kia. Trình độ xã hội cũng cao hơn trước; sự phổ biến của mạng xã hội; hội nhập
quốc tế sâu rộng... Tất cả đòi hỏi phải có một cách tiếp cận mới đối với chính
sách quản lý văn hoá để đáp ứng với bối cảnh xã hội đó.
Làm sao để quản lý văn hoá không chỉ đóng vai trò duy nhất
là kiểm soát sự phát triển của văn hoá mà quan trọng hơn phải trở thành công cụ
để tạo điều kiện hỗ trợ cho sự phát triển văn hoá. Như vậy có thể hiểu, Quản lý văn hoá là sự quản lý của
Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hoá của quốc gia bằng quyền lực của nàh
nước thông qua hiến pháp, pháp luật và cơ chế chính sách nhằm bảo đảm sự phát
triển của nền văn hoá dân tộc đi song hành cùng sự tăng trưởng của nền kinh tế
và sự tiến bộ xã hội, để quản lý văn hoá không chỉ đóng vai trò kiểm soát mà
còn là công cụ hỗ trợ cho sự phát triẻn văn hoá.
Khái niệm quản lý nhà
nước và quản lý nhà nước về văn hoá:
Quản lý nhà nước trong cuốn giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, các tác giả nêu khái
niệm về quản lý nhà nước như sau:
Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp
của nhà nước, đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng pháp luật nhà
nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy
trì, phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện
những chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong công cuộc chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Quản lý nhà nuớc bao gồm toàn bộ các hoạt động từ việc
ban hành các văn bản quy phạm pháp luật như: Luật, Nghị định, Thông tư và các
văn bản mang tính luật đến việc giám sát, chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối
tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tuợng quản lý. Hoạt động quản lý
nhà nước do các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương tiến
hành. Bất kỳ hoạt động kinh doanh nào cũng cần có sự quản lý nhà nước và tổ chức.
Cũng theo Giáo trình Luật hành chính Việt Nam của
truờng Đại học Luật Hà Nội có định nghĩa về quản lý nhà nước: Quản lý hành
chính nhà nước là hoạt động chấp hành, điều hành của cơ quan hành chính nhà
nước, của các cơ quan nhà nước khác và các tổ chức được nhà nước ủy quyền quản
lý trên cơ sở của luật và để thi hành luật nhằm thực hiện chức năng tổ chức,
quản lý, điều hành các quá trình xã hội của nhà nước. Như vậy, quản lý nhà nước
được hiểu là sự tác động có tổ chức và được điều chỉnh bằng quyền lực của nhà
nuớc đối với quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm để duy trì, phát
triển các mối quan hệ của xã hội, quy định pháp luật nhằm thực hiện những nhiệm
vụ, chức năng của nhà nuớc.Hoạt động quản lý nói chung, quản lý nhà nước nói
riêng là sự tác động giữa chủ thể quản lý lên khách thể quản lý (đối tượng quản
lý). Có nghĩa là ai quản lý, quản lý ai? Quản lý cái gì? Quản lý bằng cái gì?
(Công cụ quản lý), Quản lý bằng cách nào? (phương thức quản lý). Quản lý nhà
nước có các đặc điểm sau đây:- Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan, công
chức trong bộ máy nhà nước được trao quyền lực công, gồm: Quyền lập pháp, quyền
hành pháp và quyền tư pháp.
- Đối tượng quản lý của nhà nước là tất cả các cá
nhân, tổ chức sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổi quốc gia.- Quản lý
nhà nước có tính toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: Chính
trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao…
- Mục tiêu của quản lý nhà nước là phục vụ nhân
dân, duy trì sự ổn định và phát triển bền vững của xã hội.Quản lý nhà nước về
văn hóa:Quản lý nhà nước về văn hoá là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ
đích của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật và bộ máy của mình, nhằm phát triển
văn hóa, điều chỉnh hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực
văn hóa và liên quan, với mục đích giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa
truyền thống của Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần của nhân dân.Chủ thể quản lý nhà nước về văn hóa là Nhà
nước.
Nhà nước Việt Nam được tổ chức thống nhất từ
Trung ương đến các địa phương, quyền quản lý được phân cấp: Cấp trung ương, cấp
tỉnh (tỉnh và các thành phố trực thuộc Trung ương), cấp huyện (huyện thuộc
tỉnh, quận thuộc thành phố), cấp xã (xã thuộc huyện, phường thuộc quận). Quản
lý nhà nước về văn hóa ở cấp nào thì cơ quan nhà nước cấp ấy là chủ thể quản
lý. Quản lý nhà nước về văn hóa ở cấp xã thì ủy ban nhân dân xã là chủ thể quản
lý nhà nước. Công chức làm công tác văn hóa - xã hội ở cấp xã có trách nhiệm giúp
ủy ban nhân dân cấp xã quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn cấp xã.
Khái niệm làng nghề truyền
thống
Các
làng nghề truyền thống ở nước ta có từ lâu đời vời hàng nghề khác nhau. Từ xa
xưa, nghề truyền thống luôn gắn bó với cư dân Việt Nam trong quá trình sản xuất
nông nghiệp, sản phẩm của các làng nghề truyền thống trước hết để đáp ứng nhu
cầu sinh hoạt và đời sống với trình độ thẩm mỹ ngày càng được nâng cao. Khi sản
xuất chưa phát triển, các nghề truyền thống mang tính chất tự cung tự cấp, đáp
ứng nhu cầu của một cộng đồng người nhất định, phạm vi bó hẹp do nhiều nguyên
nhân khác nhau. Sau này khi mà sản xuất đã phát triển, nhu cầu xã hội ngày càng
tăng, lúc đó mới hình thành nên các làng chuyên nghề. Sản phẩm của các làng
nghề truyền thống ở nước ta đã nổi tiếng từ xa xưa và được xuất khẩu sang nhiều
quốc gia trên thế giới từ thế kỷ thứ 14, thế kỉ 15. Sản phẩm nghề truyền thống
vừa có giá trị kinh tế cao, vừa mang đậm bản sắc văn hoá truyền thống của dân
tộc, là cầu nối giữa dân tộc ta với các dân tộc khác. Các nghề truyền thống có
khả năng thu hút nhiều lao động, góp phần tích cực trong việc giải quyết việc
làm ở cả thành thị và nông thôn. Phát triển nghề truyền thống sẽ tạo thêm nhiều
sản phẩm đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, tăng
thu nhập quốc dân, tăng nguồn tích luỹ ngoại tệ cho đất nước[5].
Truyền
thống là thuật ngữ dùng để chỉ các giá trị, yếu tố, quan niệm của một cộng đồng
người hay của xã hội lưu giữ trong một thời gian dài từ thế hệ này qua thế hệ
khác. Truyền thống thể hiện tính kế thừa là chủ yếu, tuy nhiên cũng có sự phát
triển theo lịch sử [5]. Truyền thống được biểu hiện ở hình thức như truyền
thống hộc tập, lễ hội truyền thống, truyền thống dòng họ, nghề truyền thống.
Khái niệm “Làng nghề truyền thống được khái quát dựa trên hai khái niệm : “Làng
nghề” và “ Ngành nghề truyền thống”.
Khái
niệm làng nghề:
Làng nghề là một thiết chế xã
hội có từ rất lâu đời trong lịch sử nước ta, nó cũng thăng trầm cùng với quá
trình phát triển của một dân tộc. Nói đến đến làng nghề cần chú ý trước tiên
đến hai nhân tố cấu thành, đó là làng và nghề [5]. Trong quá trình phát triển
của lịch sử, làng xã Việt Nam có vị trí hết sức quan trọng trong sản xuất, cũng
như đời sống dân cư ở nông thôn. Qua những biến động thăng trầm, những lệ làng,
phép nước và phong tục tập quán ở nông thôn vẫn được duy trì, phát triển đến
nay. Làng xã Việt Nam thường gắn liền với nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
Theo kết quả nghiên cứu sử học: “ Làng xã Việt Nam, xuất hiện từ thời các vua Hùng
Vương dựng nước, những xóm làng định cư đã hình thành, dựa trên những cơ sở
công xã nông thôn. Mỗi công xã gồm một số gia đình sống quay quần trong một khu
vực địa giới nhất định. Đồng thời Làng là nơi gắn bó các thành viên với nhau
bằng khế ước sinh hoạt cộng đồng, tâm thức tính ngưỡng, lễ hội, tập tục, luật
lệ riêng nhằm liên kết với nhau trong quá trình sản xuất và đời sống” [19].
Cùng với quá trình phát triển đời sống kinh tế xã hội đòi hỏi sự hình thành và
phát triển các nghề thủ công phục vụ nhu cầu bản thân của con người. Làng xã
Việt Nam là nơi sản sinh ra nghề thủ công truyền thống và các sản phẩm mang dấu
ấn tinh hoa của nền văn hoá, văn minh dân tộc. Quá trình phát triển của làng
nghề là quá trình phát triển của tiểu thủ công nghiệp ở nong thôn. Lúc đầu sự
phát triển đó từ một vài gia đình, rồi đến cả họ và sau đó lan ra cả làng.
Thông qua lệ làng mà làng nghề định ra những quy ước như: không truyền nghề cho
người làng khác, không truyền nghề cho con gái, hoặc uống rượu không thể, không
để lộ bí quyết nghề nghiệp. Một số quan niệm về làng nghề:
Quan niệm thứ nhất: “ Làng nghề là nơi mà hầu
hết mọi người trong làng đều hoạt động cho nghề ấy và lấy đó làm nghề sống chủ
yếu. Nhưng với quan niệm như vậy thì làng nghề ấy hiện nay không còn nhiều” [19,tr.11].
Quan niệm thứ hai: Làng nghề là làng nghề cổ truyền làm nghề thủ công, ở đây không nhất thiết
tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Người thợ thủ công, nhiều khi cũng là người làm nông. Nhưng do yêu cầu
chuyên môn hoá cao đã tạo những người thợ chuyên sản xuất thủ công truyền thống ngay tại làng nghề hay
phố nghề ở nơi khác[19, tr11]. Tuy nhiên, quan niệm về làng nghề
như vậy là chưa đủ, để xác định làng đó có phải làng nghề hay không thì cần
phải xem xét tỷ trọng lao động hay số hộ làm nghề so với toàn bộ lao động và hộ
ở làng hay tỷ trọng thu nhập từ nghành nghề so với tổng thu nhập của làng.
Quan niệm thứ ba: “Làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, nơi quy tụ
các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên tâm làm nghề truyền thống lâu đời, có sự liên kết hỗ trợ
trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệ thống doanh nghiệp
vừa và nhỏ, và có cùng tổ nghề [19,tr.12]”. Song ở đây chưa phản ánh đầy đủ tính chất của làng
nghề, nó là một
thực thể sản xuất tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, là một đơn vị kinh tế tiểu thủ công nghiệp có tác dụng
to lớn đối với đời sống kinh tế - văn hoá-xã hội một cách tích cực.
Từ
những cách tiếp cận trên, ta có thể thấy khái niệm làng nghề liên quan đến các
nghề thủ công cụ thể. Tên gọi của làng nghề gắn với tên gọi các nghề thủ công
như nghề dệt vải, tơ lụa, đúc đồng, gốm sư. Trong làng nghề sẽ có làng có một
nghề và làng nhiều nghề tuỳ thuộc số lượng ngành nghề thủ công nghiệp dịch vụ
chiếm tỷ lệ ưu thế trong làng. Vậy “Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong
một thôn (làng) có một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh
doanh độc lập. Thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị
sản phẩm của toàn làng”[19,tr.12].
Việc phân loại làng nghề gặp nhiều
khó khăn bởi tính đa dạng về qui mô, lĩnh vực và lịch sử hình thành. Có thể
phân loại làng nghề theo các tiêu chí sau: theo lịch sử hình thành và phát
triển các làng nghề, theo ngành nghề sản xuất kinh doanh, theo qui mô làng
nghề, theo loại hình kinh doanh của làng nghề có tính phổ biến ở Việt Nam, theo
tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề.
Làng nghề để được công nhận
phải đạt 03 tiêu chí sau: có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các
hoạt động ngành nghề nông thôn, hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu
2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận, chấp hành tốt chính sách và pháp
luật của nhà nước [13].
Ngành
nghề truyền thống:
Phạm
trù ngành nghề truyền thống hiện nay đang là vấn đề tranh luận sôi nổi và có rất
nhiều tên gọi khác nhau như: nghề truyền thống, nghề cổ truyền, nghề phụ, nghề
tiểu thủ công nghiệp. Đối với ngành nghề được xếp vào ngành nghề thủ công
truyền thống nhất thiết phải có các yếu tố sau [19]:
Đã hình thành, tồn tại và phát triển từ lâu đời ở nước ta;
Sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề phố nghề.
Có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngủ thợ lành nghề
đông đảo; kỷ thuật và công nghệ khá ổn định của dân tộc Việt Nam; Sử dụng
nguyên liệu tại chỗ, trong nước là chủ yếu.
Sản phẩm mang tính chất truyền thống và độc đáo của Việt
Nam, có giá trị và chất lượng cao, vừa là hàng hoá vừa là sản phẩm văn hoá,
nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí trở thành các di sản văn hoá dân tộc, mang bản
sắc văn hoá Việt Nam.
Là nghề nghiệp nuôi sống bộ phận dân cư của cộng đồng, góp
phần đáng kể vào ngân sách nhà nước.
Tiêu chí để công nhận nghề
truyền thống như sau:
Nghề đã xuất hiện tại địa
phương trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận, nghề tạo ra những sản
phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc, nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiểu nghệ
nhân hoăc tên tuổi của một làng nghề [13].
Từ
những quan niệm trên ta có thể hiểu rằng” Ngành nghề truyền thống là những
ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển
kinh tế của nước ta, còn tồn tại đến ngày nay, bao gồm cả ngành nghề mà phương
pháp sản xuất được cải tiến hoặc sử dụng nhungữ máy móc hiện đại đẻ hổ trợ cho
sản xuất, nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống” [19, tr.17]. Có nhiều cách
phân loại nghề tuy nhiên có thể xem xét một số cách như sau:
Phân
loại theo trình độ kỹ thuật: Loại nghề
có kỹ thuật đơn giản, sản phẩm của những nghề này có tính chất thông dụng, phục
vụ nhu cầu hằng ngày của dân cư nông thôn. Loại nghề có kỹ thuật phức tạp, các
nghề này không chỉ có kỹ thuật công nghệ phức tạp mà còn đòi hỏi nhiều ở người
thợ sự sáng tạo và khéo léo. Sản phẩm có giá trị kinh tế, vừa mang tính văn
hoá, không chỉ tiêu thụ ở trong nước mà còn có thể xuất khẩu đi nhiều nước trên
thế giới.
Phân
loại theo tính chất kinh tế: Loại nghề phụ thuộc vào nền kinh tế nông nghiệp tự
nhiên, đây là nghề phụ của hầu hết gia đình nông dân, sản phẩm ít mang tính
chất hàng hoá, chủ yếu là phụ thuộc vào nhu cầu tại chỗ như: chế biến nông sản,
sản xuất công cụ như cày bừa, liềm hái; Loại nghề mà hoại động của nó độc lập
với quá trình sản xuất nông nghiệp, nhữn nghề này được phát triển bởi sự tiến
bộ của trình độ công nghệ và trình độ tay nghề của người thợ, sản phẩm thể hiện
tài năng sáng tạo và sự khéo léo của người thợ, đặc biệt sản phảm tạo ra troẻ
thành hàng hoá, đem lại thu nhập cao cho người sản xuất, tiêu biểu là nghề dệt,
gốm sứ, kim hoàn.
Tuy
nhiên, cách phân loại trên chỉ phụ thuộc vào điều kiện trước đây, ngày nay
trong nền kinh tế thị trương, nhiều nghề đã phát triển mạnh. Dựa vào giá trị sử
dụng của các sản phẩm, có thể phân loại ngành nghề truyền thống theo các các
nhóm sau: các ngành nghề sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như gốm sứ,
chạm khắc gỗ, chạm khắc đá, thêu, vàng bạc; Các ngành nghề phục vụ cho sản xuất
và đời sống như: nể, mộc, hàn, đúc đồng, thêu, vàng bạc; Các ngành nghề sản
xuất mặc hàng tiêu dùng: dệt vải, dệt chiếu, khâu nón; Các ngành nghề chế biến
lương thực thực phẩm như: xay xát, làm bún bánh, nấu rượu, nấu đường mật, chế
biến thuỷ sản.
Làng
nghề truyền thống
Từ
những phân tích của hai khái niệm “ làng nghề” và “ ngành nghề”, ta có các quan
niệm về “ Làng nghề truyền thống” như sau:
Quan
niệm thứ nhất: “ Làng nghề truyền thống là một cộng đồng dân cư, cư trú trong
phạm vi một địa bàn các vùng nông thôn tách rời khỏi sản xuất nông nghiệp, cùng
làm một hoặc nhiều nghề thủ công có truyền thống lâu đời, để sản xuất ra một
hoặc nhiều loại sản phẩm bán ra thị trường để thu lợi” [ 19, tr.13-15]. Quan
niệm này chỉ thể hiện được yếu tố truyền thống lâu đời của làng nghề, còn những
làng nghề mới, nhưng tuân thủ yếu tố truyền thống của vùng hay của khu vực chưa
được đề cập đến.
Quan
niệm thứ hai: “ Làng nghề truyền thống là những làng nghề làm nghề thủ công có
truyền thống lâu năm, thường là qua nhiều thế hệ” [19, tr.13-15]. Quan niệm này
cũng chưa đầy đủ. Bởi vì khi nói đến làng nghề truyền thống ta không thể chs ý
đến các mặt đơn lẻ, mà phải chú trọng đến nhiều mặt trong cả không gian và thời
gian, nghĩa là quan tâm đến hệ thống, toàn diện của làng nghề đó, trong đó yếu
tố quyết định là nghệ nhân, sản phẩm, kỹ thuật sản xuất, và thủ phát nghệ
thuật.
Quan
niệm thứ 3: “ Làng nghề truyền thống là những làng có tuyệt đại bộ phận dân số
làm nghề cổ truyền. Nó được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong
lịch sử, được nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác kiểu cha truyền con nối
hoặc ít nhất cũng tồn tại hàng chục năm. Trong làng sản xuất mang tính chất tập
trung, có nhiều nghệ nhân tài hoa và một nhóm người có tay nghề giỏi làm hạt
nhân để phát triển nghề. Đồng thời sản phẩm làm ra mang tính tiêu biểu độc đáo,
tinh xảo, nổi tiếng và đậm nét văn hoá dân tộc. Giá trị sản xuất và thu nhập,
tiểu thủ công nghiệp ở làng làng chiếm 50% so với tổng giá trị sản xuất và thu
nhập của làng trong năm” [19, tr.13-15], đây là một quan niệm tương đối đầy đủ.
Từ
cách tiếp cận và nghiên cứu trên có thể định nghĩa: “ Làng nghề truyền thống là
những thôn làng có một hay nhiều nghề thủ công truyền thống được tách ra khỏi
nông nghiệp để sản xuất kinh doanh đem lại nguồn thu nhập chiếm phần chủ yếu
trong năm. Những nghề thủ công đó được truyền từ đời này qua đời khác, thường
là nhiều thế hệ. Cùng với thử thách của thời gian, các làng nghề thủ công này
đã trở thành nghề nổi trội, một nghề cổ truyền, tinh xảo, với một tầng lớp thợ
thủ công chuyện nghiệp đã chuyên tâm sản xuất, có quy trình công nghệ nhất định
và sống chủ yếu bằng nghề đó. Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ và đã trở thành
hàng hoá trên thị trường”[19].
Tiêu
chí để công nhận làng nghề truyền thống: làng nghề truyền thống phải đạt tiêu
chí làng nghề và có ít nhất một nghề theo quy định.
Tiêu
chis để công nhận nghệ nhân: công dân Việt nam làm việc trong các ngành nghề
tiểu, thủ công nghiệp, thủ công mỹ nghệ truyền thống của Việt Nam được xét danh
hiệu nghệ nhân nếu đủ điều kiện sau[20]:
Là
người thợ giỏi, có trình độ kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp điêu luyện, khả năng
sáng tác mẫu mã và sao chép mẫu đạt trình độ nghệ thuật cao mà người thợ bình
thường không làm được.
Chấp
hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, cos phẩm
chất đạo đức được những người trong nghề, trong lĩnh vực người đó hoạt động tôn
vinh, thừa nhận.
Có
tác phẩm đạt trình độ nghệ thuật cao, đạt huy chương vàng, huy chương bạc trong
các cuộc thi, triễn lãm quốc gia hoặc quốc tế.
Đối
với những người không đủ điều kiện tham gia các cuộc thi, triển lãm thì phải có
tác phẩm đạt trình độ nghệ thuật cao được hội đồng cấp trung ương xét công nhận
tương đương.
Có
công đông đóng góp trong việc giữ gìn, phát triển, đào tạo và truyền dạy nghề
cho thế hệ trẻ.
Tiêu
chuẩn, quy trình, thủ tục và hồ sơ xét tặng danh hiệu nghệ nhân nhân dân, nghệ
nhân ưu tú; trong đó đối tượng được đề nghị xét tặng danh hiệu nghệ nhân ưu tú
phải đạt được các tiêu chí sau [21].
Trung
thành với Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.
Có
phẩm chất đạo đức tốt, tận tuỵ với nghề, gương mẫu, thực sự là tấm gương sáng
cho mọi người và đồng nghiệp noi theo.
Là
người thợ giỏi tiêu biểu được đồng nghiệp thừa nhận, có thâm niêm trong nghề
tối thiểu 15 năm, có trình độ kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp điêu luyện, sáng tác
thiết kế được 10 mẫu sản phẩm đạt trình độ nghệ thuật cao đã trực tiếp làm ra
trên 15 tác phẩm có giá trị kinh tế, kỹ thuật, mỹ thuật; Là người có ảnh hưởng
rộng rãi trong ngành và xã hội.
Có
hiều thành tích trong việc giữ gìn, truyền nghề, dạy nghề cho trên 100 người,
sáng tạo và phát triển ngành nghề thủ công mỹ nghệ.
Là
nghệ nhân đầu đàn tiêu biểu được đồng nghiệp thừa nhận, quần chúng mến mộ, kính
trọng.
Có
tác phẩm đạt trình độ nghệ thuật cao, được tặng giải ( loại vàng hoặc bạc) tại
các hội chợ triễn lãm quốc gia hoặc quốc tế.
1.1.2. Vai trò của làng nghề truyền thống trong việc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
Làng nghề truyền thống đã tạo ra một khối lượng hàng hoá đa
dạng phong phú phục vụ cho tiêu dụng và xuất khẩu [19]: phát triển làng nghề truyền thống là giải pháp hết sức quan
trọng nhằm huy động tối đa nguồn lực sẵn có ở nông thôn như: tài nguyên thiên
nhiên, nguồn nguyên liệu, phế phẩm của nông nghiệp được huy động vào quá trình
sản xuất kinh doanh, cũng như khai thác có hiệu quả nguồn vốn trong nhân dân,
cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như những kỹ năng của người lao động. Trong quá
trình phát triển, các làng nghề đã có vai trò tích cực góp phần tăng tỷ trọng
nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, chuyển lao động từ sản xuất nông
nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn.
Khi nghề thủ công hình thành và phát triển thì kinh tế nông thôn không chỉ có
kinh tế nông nghiệp thuần nhất mà bên cạnh là các ngành thủ công nghiệp, thương
mại và dịch vụ cùng tồn tại và phát triển. Xét trên góc độ phân công lao động
thì các làng nghề đã có tác động tích cực tới sản xuất nông nghiệp, không chỉ
cung cấp tư liệu sản xuất cho khu vực nông nghiệp mà còn có tác dụng chuyển
dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp. Mặt khác, kết quả sản xuất ở các
làng nghề cho thu nhập và giá trị sản lượng cao hơn so với sản xuất nông
nghiệp, do từng bước tiếp cận với kinh tế thị trường, năng lực kinh doanh được
nâng lên, người lao động nhanh chóng chuyển dần sang đầu tư cho các ngành nghề
phi nông nghiệp, đặc biệt là những ngành mà sản phẩm có khả năng tiêu thụ mạnh
ở ở thị trường trong nước và thế giới. Làng nghề phát triển đã tạo cơ hội cho
hoạt động dịch vụ ở nông thôn mở rộng quy mô và địa bàn hoạt động, thu hút
nhiều lao động; khác với sản xuất nông ghiệp, sản xuất trong các làng nghề là
một quá trình liên tục, đòi hỏi sự thường xuyên cung ứng dịch vụ vật liệu và
tiêu thụ sản phẩm. Do đó dịch vụ nông thôn phát triển mạnh mẽ với nhiều hình
thức đa dạng phong phú, đem lại thu nhập cao cho người lao động. Sự phát triển
của làng nghề có tác dụng rõ rệt với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
thôn theo yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá. Sự phát triển lan
toả của làng nghề đã mở rộng quy mô địa bàn sản xuất, thu hút nhiều lao động.
Đến nay cơ cấu kinh tế ở nhiều làng nghề đạt 60% - 80% cho công nghiệp và dịch
vụ, còn 20% - 40% cho nông nghiệp.
Phát triển làng nghề truyền thống là biện pháp hiểu hiệu
giúp giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn [19]: sản xuất nông
nghiệp, bản thân nó không thể có khả năng giải quyết số lượng lao động dư thừa
ở nông thôn hiện nay. Cho nên trong điều kiện đất đai canh tác ít, nguồn vốn
hạn hẹp, lao động dư thừa, việc tìm ra giải pháp hữu hiệu để giải quyết việc
làm cho người lao động là đòi hỏi cấp bách có ý nghĩa chính trị, xã hội to lớn.
Một trong những giải pháp hữu hiệu, có tính chiến lược là phát triển làng nghề
truyền thống ở nông thôn. Nhiều làng nghề đa dạng phong phú, có khả năng phát
triển rộng khắp trong nông thôn. Qua tổng kết thực tiễn, đã tính toán được rằng
cứ xuất khẩu được 1 triệu đô hàng thủ công mỹ nghệ thì tạo việc làm và thu nhập
cho khoảng 300 – 400 lao động. Như vậy, vai trò của làng nghề rất quan trọng và
được coi là động lực trực tiếp giải quyét việc làm cho người lao động, đồng
thời góp phần làm tăng thu nhập cho người lao động.
* Vai trò của phát triển nghề truyền thống
- Góp phần thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá
- Góp phần giải
quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động nông thôn
- Góp phần thu
hút vốn nhàn rỗi, tận dụng thời gian lao động dư thừa, hạn chế di dân tự do
- Góp phần đa
dạng hoá kinh tế nông thôn, thúc đẩy quá trình đô thị hoá
- Góp phần cải
thiện đời sống nhân dân và góp phần xây dựng nông thôn mới
* Ý nghĩa của phát triển nghề truyền thống
Giá trị văn hóa thể hiện rõ nét nhất trong
các sản phẩm làng nghề gắn với trí thông minh, bàn tay khéo léo và kỹ thuật
tinh sảo của các nghệ nhân được lưu truyền từ hàng trăm năm nay đang được kế
thừa, khôi phục. Đó là những hoa văn, những họa tiết được lưu giữ từ nhiều đời
trong những sản phẩm mỹ nghệ, những chi tiết quyết định giá trị của sản phẩm
mang những nét tinh hoa của người thợ thủ công và sắc thái riêng của làng nghề
truyền thống. Mỗi sản phẩm làng nghề không chỉ là một sản phẩm hàng hóa thông
thường mà còn là nơi gửi gắm tâm hồn, tài năng, thể hiện khiếu thẩm mỹ, sự thông
minh, sáng tạo, tinh thần lao động của nghệ nhân, đó là những sản phẩm văn hoá
có tính nghệ thuật cao.
Giá trị văn hóa của làng nghề nước ta còn
thể hiện trong các nghệ nhân - những người lưu giữ những tinh hoa văn hóa dân
tộc trong các sản phẩm làng nghề, đồng thời không ngừng sáng tạo để làng nghề
có thêm nhiều sản phẩm mới vừa phát huy được truyền thống văn hóa dân tộc vừa
thể hiện sức sáng tạo của nghệ nhân trong điều kiện mới.
Làng nghề là
một lực lượng có vị thế, một cộng đồng có sự liên kết bền chặt bởi những mối
liên hệ khăng khít, nhiều mặt: về lãnh thổ, dòng họ, về hoạt động kinh tế, có
chung Thành hoàng làng và Tổ nghề; có chung văn hóa và tâm linh.
Người thợ thủ
công trong làng nghề gắn bó với làng, không chỉ vì yếu tố kinh tế mà do nhiều
yếu tố tâm linh, thiêng liêng, hình thành một cộng đồng đoàn kêt, gắn bó từ
nhiều đời, hình thành “vốn xã hội” của cộng đồng dân cư trong làng nghề.
Các yếu tố ảnh
hưởng đến sự phát triển làng nghề
Quá trình phát
triển các làng nghề chịu tác động của nhiều yếu tố và các nhân tố này tác động,
ảnh hưởng lẫn nhau. Nhìn chung, các yếu tố tác động đến sự phát triển của làng
nghề theo các nhóm nhân tố sau đây:
* Các nhân tố về kinh tế
- Sự tồn tại và
phát triển các làng nghề phụ thuộc rất lớn vào sự biến đổi của thị trường,
những làng nghề có khả năng đáp ứng và thích ứng với sự thay đổi nhu cầu của
thị trường thì có sự phát triển nhanh chóng. Chính thị trường đã tạo định hướng
cho phát triển của các làng nghề. Các hộ, cơ sở sản xuất kinh doanh của các làng
nghề phải hướng ra thị trường, xuất phát từ quan hệ cung cầu của hàng hoá dịch
vụ, xuất phát từ nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng trên thị trường để hoạch
định, cải tiến sản xuất kinh doanh phù hợp. Ngày
nay thị trường không còn bó hẹp là thị trường hàng hoá dịch vụ mà các loại thị
trường khác như: thị trường tài chính, thị trường lao động, thị trường bất động
sản, thị trường khoa học - công nghệ đều có ảnh hưởng đến sự phát triển của các
làng nghề.
- Trình độ kỹ
thuật và công nghệ: Nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu ngày càng cao, sự
cạnh tranh của cơ chế thị trường đòi hỏi phải đa dạng hoá các sản phẩm, nâng
cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Do vậy các làng nghề cũng phải không ngừng
đổi mới trang thiết bị, công nghệ tiên tiến vào quá trình sản xuất kinh doanh. Trình độ kỹ
thuật và công nghệ ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất, chất lượng, giá thành sản
phẩm và do đó ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Nó có thể
quyết định sự tồn tại hay suy vong của cơ sở sản xuất sản phẩm đó.
- Kết cấu hạ
tầng: Các làng nghề chỉ có thể phát triển mạnh ở những nơi có hệ thống kết cấu
hạ tầng đảm bảo và đồng bộ. Trong điều kiện hội nhập kinh tế, cạnh tranh khốc
liệt, thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng khắp, nguồn nguyên liệu cũng phải vận
chuyển nơi xa về thì nhu cầu về hệ thống giao thông vận tải phát triển thuận
lợi cho các làng nghề giảm chi phí vận chuyển tạo điều kiện giao lưu phát triển
thị trường, ký kết hợp đồng, liên doanh liên kết v.v… Hệ thống cung cấp điện,
nước, thoát nước, bưu chính viễn thông v.v… cũng có ảnh hưởng rất lớn tới phát
triển của các làng nghề, đặc biệt là quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp và
nông thôn, những hạ tầng này tạo điều kiện cho áp dụng các tiến bộ khoa học
công nghệ, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, bảo vệ sức khoẻ người lao động, góp
phần phát triển kinh tế xã hội bền vững.
- Vốn cho sản xuất kinh doanh: Đây là nguồn
lực quan trọng của quá trình sản xuất kinh doanh. Các làng nghề muốn đầu tư phát triển, mở rộng cơ sở
sản xuất, đầu tư trang thiết bị mới, đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường v.v…
đều phải cần đến nhu cầu vốn. Vốn nhiều hay ít do nhu cầu quy mô, đặc điểm sản
xuất sản phẩm các ngành nghề ở từng làng nghề. Ngày nay các làng nghề đang phát
triển theo xu thế hiện đại, đa dạng, chuyên môn hoá, sản phẩm hàng loạt… thì
nhu cầu về vốn là rất lớn. Sự đáp ứng về vốn có một ý nghĩa quyết định cho sự
hội nhập, cạnh tranh và phát triển của các làng nghề.
- Nguyên vật
liệu: Sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương trước đây là đặc điểm của
làng nghề và là nhân tố góp phần hình thành làng nghề. Hiện nay, do hội nhập
kinh tế, cơ sở hạ tầng giao
thông, bưu chính viễn thông… thuận lợi, nguồn nguyên vật liệu khác nhau cho sản
xuất các sản phẩm. Vì vậy khối lượng, chất lượng, chủng loại và khoảng cách
nguồn nguyên vật liệu có ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng, giá thành, lợi
nhuận của các cơ sở sản xuất. Việc sử dụng các loại nguyên vật liệu hợp lý,
thay thế, giá rẻ phù hợp với quá trình sản xuất là nhân tố tác động đến sự phát
triển của các làng nghề.
- Nguồn nhân lực:
Những nghệ nhân, chủ cơ sở sản xuất kinh doanh và những người thợ thủ công có vai trò đặc biệt quan
trọng trong việc bảo tồn và phát triển các làng nghề. Những nghệ nhân, những
thợ thủ công lành nghề là những người truyền nghề, dạy nghề, đồng thời là những
người sáng tạo ra các sản phẩm độc đáo. Ngày nay việc phát triển sản xuất theo
hướng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước hội nhập, thị trường cạnh tranh đòi hỏi chất lượng
nguồn nhân lực cao. Đó là đội ngũ các chủ cơ sở sản xuất kinh doanh phải am hiểu
nhiều mặt kinh tế xã hội, lực lượng quản lý phải tinh thông, đội ngũ công nhân
có trình độ chuyên môn cao v.v… để đáp ứng nhu cầu của tình hình mới.
* Nhân tố về môi
trường chính sách
Quá trình hội
nhập và phát triển đòi hỏi cùng với quá trình đổi mới chính sách. Hệ thống các
chính sách của nhà nước có những tác động to lớn có ý nghĩa quyết định tới sự
phát triển kinh tế - xã hội nói chung và các làng nghề nói riêng. Sự can thiệp
của nhà nước vào các hoạt động sản xuất kinh doanh trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường là một
tất yếu, mà các công cụ quan trọng nhất là các chính sách, đặc biệt là các
chính sách kinh tế. Các chính sách này có vai trò trong việc hoạch định, hỗ trợ
làng nghề phát triển, tạo môi trường sản xuất kinh doanh cho sự phát
triển của làng nghề.
* Các nhân tố về điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý,
đất đai, khí hậu, các nguồn tài nguyên thiên nhiên là những nguồn lực và là cơ
sở của lợi thế so sánh của mỗi vùng, miền nói chung và các làng nghề nói riêng.
Các nhân tố này có thể trở thành điều kiện để hình thành và phát triển làng
nghề, cũng có thể là đối tượng lao động để các làng nghề khai thác và chế biến.
Vị trí địa lý thuận lợi cũng sẽ tạo cho sự giao lưu kinh tế, mở rộng hợp tác,
hội nhập kinh tế, phát triển thị trường… tạo điều kiện cho các làng nghề phát
triển.
* Yếu tố truyền thống
Yếu tố này cũng
có vai trò ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển làng nghề. Trong các làng nghề
truyền thống các nghệ nhân, thợ cả có tay nghề cao là những hạt nhân để bảo tồn
duy trì và phát triển làng nghề. Những nét độc đáo của sản phẩm truyền thống
gắn với đặc trưng văn hoá của từng làng nghề là những giá trị vô hình tạo nên
sự tồn tại phát triển của các làng nghề. Những luật lệ, quy ước, phong tục tập
quán của các làng nghề cũng tạo ra những phong cách riêng về đạo đức nghề
nghiệp và cũng có khi thúc đẩy làng nghề và cũng có thể kìm hãm sự phát triển
các làng nghề. Những yếu tố truyền thống phải được kết hợp chặt chẽ với việc
tiếp thu những yếu tố mới, đặc biệt là về khoa học công nghệ, thị trường hội
nhập và cạnh tranh… để các làng nghề và sản phẩm của nó vừa giữ được bản sắc
văn hoá dân tộc vừa được xã hội, thị trường tiếp nhận và thúc đẩy phát triển.
+ Bền vững về mặt
xã hội là: bảo đảm sản xuất kinh doanh phải tuân thủ
các luật pháp, giữ gìn và phát triển bản sắc và giá tri văn hóa của ngành nghề,
đồng thời thực hiện tốt các nghĩa vụ đóng góp với xã hội, bảo đảm quyền hạn và
quyền lợi và nâng cao đời sống và năng lực cho những đối tượng tham gia hoạt
động sản xuất trong làng nghề và quan hệ với cộng đồng địa phương.
+ Bền vững về môi
trường là. Bảo đảm sản xuất kinh doanh phải đi đôi với
duy trì sự cân bằng sinh thái và môi trường tự nhiên không bị suy thoái, đồng
thời không gây tác hại đối với sức khỏe con người và ảnh hưởng xấu đối với các
hoạt động kinh tế khác trong làng nghề
Chính sách phát triển bền vững làng nghề
Thuật ngữ “chính
sách” được sử dụng rất nhiều trong các tài liệu, sách báo văn kiện của Đảng,
văn bản của Chính phủ. Tuy nhiên, đến nay chưa có một định nghĩa, khái niệm
thống nhất và đầy đủ về cụm từ này do có nhiều cách tiếp cận khác nhau, từ
nhiều góc độ tác động của chính sách, tùy theo quy mô và phạm vi tác động của
từng loại chính sách.
- Cách tổng quát,
thì khái niệm chính sách được hiểu là: quá trình tác động bằng các biện pháp,
công cụ đa dạng, khác nhau của chủ thể quản lý vào đối tượng bị quản lý nhằm
đạt tới mục tiêu mà chủ thể quản lý mong muốn. Cách hiểu này tương tự như định
nghĩa về quản lý, đó là: “quản lý là một quá trình vận động, trong đó chủ thể
quản lý tác động lên khách thể quản lý để đạt tới mục tiêu do chủ thể quản lý
đưa ra". Như vậy, chính sách được xem như một công cụ của quá trình quản
lý mà chủ thể quản lý sử dụng để tác động lên khách thể nhằm đạt tới mục tiêu
đã định.
1.2.
Khái quát về làng
nghề truyền thống gốm Bàu Trúc
1.2.1. Điều kiện tự nhiên
Làng gốm Bàu Trúc (tiếng Chăm: Paley
Hamu Trok) thuộc thị trấn Phước
Dân, huyện Ninh Phước,
tỉnh Ninh Thuận,
cách thành phố Phan
Rang – Tháp Chàm 10 km
về hướng Nam. Làng gốm Bàu Trúc cùng với Làng
dệt Mỹ Nghiệp được xem là làng nghề cổ
nhất Đông
Nam Á còn bảo lưu khá tốt truyền thống
làm hoàn toàn bằng thủ công.
Làng
gốm Bầu Trúc tiếp giáp với các làng Chăm khác nhau: Mỹ Nghiệp, Chung Mỹ, Từ
Tâm, Văn Lâm, Hữu Đức, Thành Tín. Con đường vào làng được nối với quốc lộ 1A
khoảng hơn 500m về hướng Tây nên việc đi lại tương đối thuận lợi, cách trung
tâm thành phố Phan Rang – Tháp Chàm khoảng 10km về phía Nam. Hoạt động kinh tế
của làng Bầu Trúc chủ yếu là làm nông và nghề làm gốm.
Là một trong hai làng gốm cổ
xưa nhất Đông Nam Á, Bầu Trúc còn được coi như một bảo tàng mang đặc tính gốm
truyền thống của dân tộc Chăm.
Thôn Bầu Trúc có khoảng 400 hộ
có đến 85% trong số đó vẫn thủy chung với nghề gốm. Theo truyền thuyết, nghề
làm gốm do vợ chồng ông tổ Poklong Chanh dạy cho phụ nữ trong làng từ ngàn xưa.
Để tưởng nhớ công ơn của tổ nghề, bà con lập đền thờ tổ chức cúng tế Poklong
Chanh vào dịp lễ hội Katê hàng năm.
Ðất đai vùng Bầu Trúc từ xa xưa
đã dành sẵn cho cư dân kho báu để khai sinh và nuôi sống nghề gốm; đó là mỏ
đất, mỏ cát riêng biệt mà chỉ phù sa sông Quao mới có: Ðất mịn, dẻo lạ lùng;
cát cũng rất mịn, hạt nhỏ li ti. Mỗi thứ đồ gốm, tùy công năng mà pha trộn
cát với đất, nhưng trộn với tỷ lệ cát cao nhất, gốm ra lò vẫn bóng mịn, hầu như
không sản phẩm nào rạn, nứt.
Ở nhiều nơi người ta dùng bàn xoay để nặn gốm, còn các nghệ nhân gốm Chăm vẫn dùng
đôi tay khéo léo để tạo nên những tác phẩm tuyệt vời với mẫu mã phong phú. Các
hoa văn trang trí trên gốm Bầu Trúc là những đường khắc vạch hình sông nước,
chấm vỏ sò và hoa văn thực vật; có cả hoa văn móng tay trên vai cổ gốm rất mộc
mạc, gần gũi, nhẹ nhàng.
Đặc điểm về môi trường địa lý, khí hậu làng gốm Bàu Trúc mang những nét chung
của khí hậu tỉnh Ninh Thuận, một vùng đồng bằng khô cằn nhất dải đất miền trung
nắng gió. Khí hậu tại đây rất khắc nghiệt, chỉ có hai mùa : Mùa khô và mùa mưa.
Lại thường xuyên gây ra lũ lụt và sạt lỡ đất, nguyên nhân do có nhiều đồi núi,
độ dốc lớn. Ngược lại mùa khô rất nóng và kéo dài từ tháng 12 đến tháng 8 năm
sau. Đặc điểm thổ nhưỡng của vùng đất này chủ yếu là loại đất thịt pha cát,
trên nền là một lớp đất sét, thích hợp việc trồng lúa nước nhiều vụ trong năm
và các loại cây hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày như: bông vải, thuốc lá,
nho, táo xanh.
Nhưng do địa hình là một
lòng chảo được bao bọc quanh năm bởi những dãy núi lớn dựng đứng nên mùa mưa
mặc dù mưa rất ít nhưng thường xuyên gây ra lũ lụt. Ngược lại, mùa khô thì rất
nóng, kéo dài đến tháng 9 nhiệt độ trung bình từ 29°C - 33°C. Lượng bức xạ lớn, lượng bốc hơi gấp 2 lần lượng mưa. Độ ẩm 80,3% hằng
năm. Dưới áp lực của gió mùa Tây Nam, khí nóng tràn qua gây khô hạn kéo dài
khiến đất trở khô cằn.
Nằm trên vị trí bán sơn địa, thôn Bàu Trúc nằm ở vùng cuối
của đồng bằng Phan Rang, chỉ cách chân núi gần 5km và cách bờ biển 5km theo
đường chim bay. Các nhà địa học phân khu vực thôn Bàu Trúc vào vùng tiểu sinh
thái đồng bằng ở giữa dưới núi. Có dòng phù sa bồi tụ lâu năm tạo thành các
triền sông lớn. Chính nơi đây đã hình thành mỏ đất sét mịn màng có độ dẻo cao.
Bên dưới dòng sông sau những trận lũ lụt, vào mùa khô nước cạn dòng còn để lại
các dãi cát trắng, hạt nhỏ mịn màng. Đây là những nguyên liệu cần thiết, chủ
yếu để tạo thành gốm Chăm Bàu Trúc mà không có ở nơi nào ở Ninh Thuận có được.
1.2.2. Điều kiện xã hội
Ở Ninh Thuận có gần 74
ngàn người cư trú tập trung tại 22 làng thuộc 6 huyện, thành phố. Trong đó,
huyện Ninh Phước có đồng bào Chăm đông nhất với trên 43 ngàn người sinh sống
tại 6 xã, thị trấn, chiếm trên 30% dân số địa phương và đuợc chia thành 2 cộng đồng: Bàlamôn với khoản 45,8 tín đồ và hồi giáo
trong đó có hồi giáo Bàni có 24,5 nghìn tín đồ và hồi giáo Islam có gần 2500
tín đồ. Trong mỗi làng Chăm đều có đền thờ thần. Gia đình trong làng chăm được
tổ chức theo hình thái gia đình mẫu hệ. Sinh hoạt làng, tộc họ, gia đình của
người Chăm phản ánh rõ nét chế độ mẫu hệ thể hiện trên các mặt: sự phân hoá xã
hội, quan hệ về gia đình và hình thức hôn nhân, hình thái tín ngưỡng, phương
thức sản xuất và quyền sở hữu tài sản. Vì vậy cơ chế xã hội truyền thống của người
chăm gắn bó với nhau và được vận hành bằng lục tục. Họ sống bình đẳng, thương
yêu lẫn nhau, cùng nhau bảo vệ, lưu giữ thuần phong mỹ tục, những giá trị của
văn hoá tổ tiên. Làng và gia đình người chăm là mắc xích quan trọng, tạo nên
một cơ cấu xã hội truyền thống bền vững, trở thành cái nôi bảo tồn và lưu giữ
và văn hoá Chăm trong suốt những tháng năm thăng trầm của lịch sử.
Người Chăm có một nền nông nghiệp phát triển khá sớm, dưới thời vua Pôlong Garaivà vua PôRôme, họ đã biết đắp đập, khai mương để trồng lúa
nước cho đến nay vẫn còn dấu vết của các công trình thuỷ lợi trên dải đất miền
Trung. Bên cạnh làm nông nghiệp, người Chăm còn biết khai thác các loại gỗ quý
ở những khu rừng lớn. Cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng để phát triển làng
nghề, thu hút khách du lịch. Thời gian gần đay sản phẩm thủ công ngày càng thu
hút nhiều khách hàng, trở thành nguồ thu nhập chính cho các hộ sản xuất và tạo
việc làm cho người dân tại làng.
Hoạt động kinh tế của làng Bàu Trúc
chủ yếu bằng nghề nông và làm gốm “diện tích canh tác nông nghiệp khoảng 200ha,
trong đó 19ha trồng hoa màu, ngô, đậu, nho,… còn lại chủ yếu trồng lúa nước 2
vụ trong một năm [23]. Tuy nhiên, nghề nông nghiệp ở đây thu nhập thấp do nông
dân thiếu vốn, đất đai thì khô cằn, hàng năm thường xuyên xảy ra lũ lụt. Vì
vậy, để tăng thêm thu nhập đồng thời giải quyết thời gian nhàn rỗi trong nông
nghiệp, người Chăm ở làng Bàu Trúc đã tham gia hoạt động sản xuất gốm.
Trước
kia, nghề nông và nghề nghề gốm của người Chăm làng Bàu Trúc có sự phân công rõ
rệt. Nghề nông do đàn ông đảm nhiệm và nghề gốm do phụ nữ làm là chính. Gốm sản
xuất ra chủ yếu tiêu thụ tại địa phương và các tỉnh lân cận.
Ngày
nay, kinh tế xã hội phát triển, gốm Bàu Trúc có điều kiện thâm nhập sâu hơn,
rộng hơn vào thị trường các tỉnh từ Bắc vào Nam, đòi hỏi phải có lực lượng lao
động đông hơn để tham gia sản xuất. Vì vậy nghề gốm đã thu hút được một bộ phận
thanh niên, trai tráng trong làng cùng tham gia làm gốm.
Giá trị kinh tế mà nghề gốm mang lại
cho người dân làng Bàu Trúc ngày càng ổn định hơn. Nghề gốm phát triển, thị
truòngư tiêu thụ sản phẩm ngày càng mở rộng, sản phẩm gốm làm ra ngày càng
nhiều, dẫn đến việc hình thành chủ các thương buôn chuyên thu gôm và phân phối
sản phẩm đi thị trường các nơi.
Văn hoá truyền thống
Tín ngưỡng chi phối sâu sắc trong đời sống cộng đồng và tồn tại dưới nhiều
hình thức khác nhau: Tín ngưỡng sơ khai, tín ngưỡng tổ tiên, tín ngưỡng liên
quan đến sản xuất nông nghiệp, nghi lễ vòng đời. Ngoài lễ nghi liên quan đến
vòng đời: như lễ cúng trẻ sơ sinh, đám cưới, đám tang. Người chăm còn có các lễ
nghi nông nghiệp: lễ cúng thần lúa, lễ xuống cày, lễ đắp đạp khai mương. Bên
cạnh tín ngưỡng dân gian chi phối đồi sống tâm linh, người chăm còn chịu ảnh hưởng
nhiều tôn giáo du nhập từ nhiều nước
khác nhau:Phật giáo, Bàlamôn giáo, mỗi tôn giáo du nhập vào mỗi thời kỳ lịch sử
khác nhua và mức độ ảnh hưởng đậm nhạt khác nhau[7].
Văn học nghệ thuật của người
Chăm là những câu chuyện cổ tích, thơ ca, tục ngữ. Phần lớn những tác phẩm văn
chương người Chăm đều phản ánh ước vọng của con người trong cuộc sống, trong
lao động, trong tình yêu nam nữ, hướng con người đến cái thiện và ước mơ cuộc
sống thanh bình.
Nghệ thuật ca múa nhạc dân
gian: trong loại hình ca, múa, nhạc thì múa chăm chiếm vị trí đáng kể. Các động
tác múa Chăm luôn có mặc trên những đền, tháp, tượng thờ. Song hành với múa
phải kể đến âm nhạc, người Chăm có rất nhiều loại nhạc cụ khác nhau như: trống
ghinăng, trống Paranưng, kèn Saranai, đàn Rabap, cùng với nhiều loại nhạc cụ
khác. Đi kèm với âm nhạc và múa là những làng điệu dân ca mượt mà, sâu lắng:
như hát vải chài, hát đối đáp, hất tâm tình, hát giao duyên.
Gia đình người Chăm được tổ chức theo hai kiểu: đại gia
đình mẫu hệ gọi là “ ngawom prong” và tiểu gia đình mẫu hệ gọi là “ngawom sit”.
Trong hình thức gia đình mẫu hệ, các thành viên đều ở chung một tổ hợp nhà,
cùng nhau canh tác trên số ruộng đất của gia đình.
Ngày nay, trong sự phát triển kinh tế và sự hội nhập văn
hoá, sức mạnh của cộng đồng, làng Chăm đang giảm dần, đại gia đình đang có dấu
hiệu rạn nứt; tiểu gia đình đang có xu hướng phát triển biệt lập, một số nếp
sống truyền thống không còn phát huy. Tuy vậy, hình thức tiểu gia đình, cá nhân
vẫn chưa thoát khỏi cơ chế truyền thống, vẫn còn ràng buộc trong nghi lễ cộng
đồng như ma chay, lễ nhập “kut”, cưới hỏi,… Chính vì vậy mà cộng đồng người
làng Chăm vẫn còn chi phối rất lớn trong đời sống kinh tế, văn hoá xã hội của
người Chăm thôn Bàu Trúc. Đây là yếu tố quan trọng, là cái nôi văn hoá để người
Chăm Bàu Trúc bảo lưu nghề gốm truyền thống từ bao đời nay.
Người Chăm Ninh Thuận nói chúng và người Chăm Bàu Trúc nói
riêng có một hệ thống nghi lễ và tục thờ cúng phong phú, đa dạng . Có rất nhiều
lễ hội lớn, nhỏ được tổ chức trong năm. Có những lễ hội mang tính định kì
thường niên như lễ hội Pơh Mbăng Yang và Rịja Nưgar vào tháng giêng (lịch
Chăm), lễ cầu đảo tại các tháp (Yôr Yang) và lễ cầu đảo tại các cửa biển (Plao
Pasah) vào tháng 2, lễ Mbăng Katê tưởng nhớ đến các vị anh hùng và ông bà tổ
tiên vào tháng 7, lễ chặn nguồn nước (Kap hlâu krong) vào tháng 8, lễ Mbăng
Chămbur vào tháng 9. Ngoài các lễ hội lớn mang tính cộng đồng, người Chăm còn
thực hiện một loạt các nghi lễ cho cây lúa.
Điều dễ nhận thấy nhất trong
bản sắc Chăm của các lễ hội là chất ‘lễ” hay chất linh thiên của tôn giáo và
tín ngưỡng thường trội hơn, thậm chí còn át hẳn chất “hội” của các lễ hội. Một
trong những nguyên nhận quan trọng tạo ra bản sắc này của các lễ hội Chăm từ
xưa đến nay, luôn luôn là những tín đồ nhiệt thành của tôn giáo thế giới: Bàlamôn
giáo và Hồi giáo. Chính vì vậy, mà nhiều lễ hội lớn, nhỏ của người Chăm chủ yếu
là một lễ hội dâng cúng ( truyền thống dâng cúng thần của Bàlamôn giáo) hay cầu
nguyện (truyền thống quy thuận thượng đế của đạo hồi). Do đó, không thể thiếu
được trong các lễ hội Chăm là các chức sắc của các tôn giáo – những người điều
hành và thực hiện các lễ thức, các đồ dâng cúng và các nghi lễ. Vì vậy, đễ nhận
thấy những nét tương đồng giữa các lễ hội Chăm với các lễ hội của các dân tộc
khác trên thế giới [7].
Thế nhưng, dù dưới hình thức tôn giáo nào thì người Chăm
vẫn đưa những sắc thái văn hoá riêng của dân tộc mình vào nhiều biểu hiện khác
nhau của từng lễ hội. Dù mục đích chính là tạ ơn anh hùng và tổ tiên, thần linh
bằng cúng tế như các lễ tễ thần của Balamôn giáo, những nghi thức rước y của
các thần lên tháp và các vũ điệu dâng hoa lên các thần linh tại các tháp.
Tiểu kết
Quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống là yêu cầu tất yếu để khôi
phục và phát triển làng nghề truyền thống, góp phần phát triển kinh tế xã hội
của địa phương.
Hệ thống hoá các khái niệm làng nghề, làng nghề truyền thống, và quản lý
làng nghề truyền thống, đặc điểm của làng nghề truyền thống và đặc điểm quản lý
nhà nước đối với làng nghề truyền thống rất quan trọng, là cơ sở lý luận để nắm
vững hoạt động quản lý làng nghề truyền thống, đánh gia thực trạng hoạt động và
đề xuất giải pháp quản lý đối với làng nghề truyền thống.
Để hoạt động quản lý làng nghề có hiệu quả cần phải nắm vững các yếu tố tác
động đến hoạt động quản lý đối với làng nghề truyền thống. Trên cơ sở đó, ccacs
chủ thể quản lý biết tận dụng các yếu tố bất lợi đối với hoạt động của làng
nghề. Đồng thời, trong hoạt động quản lý làng nghề truyền thống cần phải biết
kế thừa và học tập kinh nghiệm từ các mô hình quản lý có hiệu quả, đó là kinh
nghiệm quản lý về phát triển, xúc tiến thuongư mại, nâng cao nguồn lực, hoạt
động thanh tra, kiểm tra đối với làng nghề truyền thống,… để tổ chức tốt hoạt
động quản lý đối với làng nghề truyền của địa phương.
Hệ thống hoá các kiến thức về làng nghề truyền thống và quản lý làng nghề
truyền thống là cơ sở để tìm ra các giải pháp tốt nhất trong hoạt động quản lý
đối với các làng nghề truyền thống.
2. Thực trạng quản lý nghề làm gốm truyền
thống của người Chăm thôn Bàu Trúc ở Ninh Thuận
2.1.
Đặc điểm gốm Bàu Trúc
2.1.1.
Qui trình sản xuất và các loại hình sản phẩm
2.1.1.1.
Nguyên liệu
Nguyên liệu làm gốm của người
Chăm Bàu Trúc gồm 3 nghuyên liệu chính đó chính là: đất sét, cát, nước.
Khai thác đất, cát:
Gốm Bàu Trúc được sản xuất từ một
loại đát set màu nâu sám, có độ kết dính cao. Từ xưa đến nay, người Chăm thường
lấy đất sét trên đất ruộng ở một khu vực nhất định: khu vực đó gọi là ruộng Nu
Lăng. Ruộng Nu Lăng nằm cách bờ sông Quao khỏng 1km về phía Nam và cách thôn
Bàu Trúc khoảng 4km về phía Bắc. Nới đây được gọi là “ mô đất”.
Vào mua khô, từ tháng 4 đến tháng
6 ruộng bỏ hoang không canh tác. Đây là mùa người thợ Gốm Bàu Trúc đến khai đất
sét về làm ghuiuhdvr gtfvuiyhyytgr5tewq`ốm. Cũng thời điểm này, sông cạn nước,
cánh đồng khô ráo nên rất thuận tiện cho việc đào đất sét, di chuyển đất sét từ
cánh đồng về nhà. Để lấy được đất sét người ta phải đào bỏ lớp đất canh tác phù
sa tơi xốp và lẫn nhiều rác bẩn ở phía trên. Độ dày của lớp đất mùn này khoảng
40 – 50cm. Bên dưới lớp đất xốp này là đất sét nặng màu xanh xám, rắn và lớp
đất này có độ dày 50cm – 100cm. Vì đất cứng nên người dân Bàu Trúc phải dùng
các dụng như cuốc, xẻng… để đào đất thành từng mảnh nhỏ.
Quá trình khai thác đất sẽ để lại
những hố nhỏ, sau đó được lấp lại đợi mùa sau trồng lúa. Lúa thu hoạch xong đến
mùa khô thì vùng đất này người thợ gốm lại tiếp tục khai thác đất sét. Cứ như
vậy, đất sét hình thành, trở thành một nguồn nguyên liệu vô tận cho người làm
gốm Bàu Trúc. Đất sét được khai thác về đang còn ngậm nước nên rất ẩm. Do đó,
người ta phải đem phơi nắng 3 – 4 ngày cho khô ráo rồi đạp vụn ra. Sau khi loại
bỏ các tập chất trong đất, rồi cho vào ngâm trong một cái hố đào sẵn sau gần
50cm, đường kính miệng hố 40cm. Sau đó dùng nước ngọt sạch lấy từ giếng hay
sông, suối đổ vào hố. Thời gian ngâm nước là gần 12 tiếng, thiif đất sẽ ngấm
nước tơi ra kết dính lại với nhau. Lúc này thợ lấy đất ra khỏi hố ngâm để làm
đất.
Nguyên liệu thứ hai để sản xuất
gốm là cát mịn có cỡ hạt nhỏ. Cát làm gốm được lấy ở vẹn sông Lu. Thời điểm lấy
cát là mùa khô. Đây là mùa nước sông cạn sau mua lũ lụt. Nước lũ ở các con sông
Phan Rang, ngoại việc đem lại lượng phù sa lớn còn đem theo những hạt cát nhỏ
li ti lắng lại thành từng cồn bãi ven sông. Đó là nguồn cất lý tưởng để người
Chăm Bàu Trúc làm gốm. Tuy nhiên, không phải tất cả các loại các ven sông đều
dùng để làm gốm. Các được chọn làm gốm là loại cát nhỏ mịn màng, cùng kích cỡ
như nhau, không pha tạp chất, khoáng vật, sỏi sạn. Bởi vì, nếu cát bị lẫn nhiều
sỏi sạn, bã thực vật thì khi đem trộn với đất sét sẽ không có độ kết dính cao.
Dẫn đến khó kahwn trong việc tạo hình dáng gốm, nhất là những sản phẩm có kích
thước cao lớn, hơn nữa khi đem nung nấu sẽ rất dễ vỡ.
Nguyên liệu làm gốm của người Chăm Bàu Trúc ngoài
đất sét và cát còn có nước ngọt lấy ở sông, suối, giếng để trộn với đất sét,
cát theo tỷ lệ nhất địng để làm gốm.
2.1.1.2.
Tạo hình dáng gốm
Gốm Chăm Bàu Trúc tuy cơ bản được
làm bằng tay nhưng thợ gốm phải dùng một só dụng cụ phụ trợ để tạo hình dang
gốm như: Vải cuộn, vong quơ, vòng cạo. Ngoài ra, người thợ con dùng hòn kê để
làm gốm và dùng dao nhọn, thanh tre vót đầu để soi lỗ, gắn kết các kiểu gốm có
quai, có đế, có lôc thông hơi.
Tạo hình dáng gốm cơ bản là công
đoạn chính trong quy trình sản xuất gốm Chăm Bàu Trúc, chia làm 2 công đoạn
nhỏ:
Công đoạn 1: Tạo hình cơ bản
Với mẫu sản phẩm đã được định sẵn, thợ gốm bắt đầu
đặt lên hòn kê ( là một các lu úp ngược hoặc một cái bàn tròn). Bằng động tác
khum xuống, người thợ dùng hai tay bóp nặn vào khối đất, đi giật lùi chậm rãi
xung quanh hòn kê khoảng 8 – 10 vòng thì tạo được dáng gô,s cơ bản. Đây là công
đoạn mà thợ làm gốm phải tốn nhiều sức lực để tập trung nắn đáy gốm, xây dựng
thành gốm theo một kích thước nhất định đã định sẵn và khối lượng đất cho phép.
Công đoạn 2: Kỹ thuật gắn kết vào thân gốm
Công đoạn này người thợ dùng lọn đất cuộn tròn
bằng tay, hay còn gọi là con trạch, gắn kết vào miệng gốm và nâng thành gốm cao
dần lên. Công đoạn này chỉ thực hiện cho những sản phẩm có kích thước lớn từ
40cm – 50cm như những cái lu, thạp, khương…
Gốm
Bàu Trúc được nung ngoài trời, không có lò nung riêng. Công đoạn này không đòi
hỏi cao về kĩ thuật mà đòi hỏi nhiều công sức. Khi số lượng gốm đã đủ cho một
mẻ thì người ta tiếng hành nung. Thông thường một lò nung có khoảng 100 – 200
sản phẩm lớn ,nhỏ. Khi đã chọn được thời điểm nung gốm thì người thợ bắt đầu
đem gốm trong kho ra phơi. Trong lúc phơi, để cho gốm khô đềuthif phải thường
xuyên xoay chuyển phần miệng, thân, đáy gốm theo hướng mặt trời. Nếu gốm khô
đều thì khi nung gốm sẽ chín màu đỏ hồng rất đẹp, ngược lại nếu gốm chưa khô
hoặc khô không đều mà đem nung thì gốm sẽ chín không đều, có màu đen, xám và bị
nứt.
* Các sản phẩm của làng nghề gốm
Bàu Trúc
Dòng sản phẩm của làng gốm Bàu Trúc gồm 2 loại chính:
Sản
phẩm gốm truyền thống như: lu, chum, lò, trã, nồi niêu, khuôn bánh…vẫn giữ
nguyên màu đỏ sau khi nung, chủ yếu phục vụ sinh hoạt ở nông thôn và đặc biệt
là hoạt động ẩm thực tại các nhà hàng, khu du lịch. Thị trường tiêu thụ chủ yếu
là trong tỉnh và các tỉnh lân cận ( Bình Thuận, Bình Định, Khánh Hoà, Tp. Hồ
Chí Minh).
Sản phẩm gốm mỹ nghệ: là những sản
phẩm gốmtheo hướng mỹ nghệ, được các nghệ nhân sáng tạo dựa trên nét văn hoá
nghệ thuật gốm Chăm kết hợp với thị hiếu thẩm mỹ của người tiêu dùng. Dòng sản
phẩm này chủ yếu phục vụ trang trí nội thất với nhiều kiểu dáng khác nhau, đa
dạng về chủng loại. Thị trường tiêu thụ sản phẩm tương đối rộng khắp, từ Bắc
đến Nam như : Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Bình Định, Khánh hoà, Bình
Thuận, Hồ Chí Minh, Đà Lạt,… và đang hướng đến thị trường xuất khẩu.
2.1.2. Ý nghĩa các hoa văn trên gốm Bàu Trúc
Chủ
đề chính của hoa văn trên gốm Bàu Trúc là mô tả một cách sinh động những hình
ảnh thân quen của cuộc sống hằng ngày, chủ yếu là thế giới thực vật. Chỉ bằng
một vải nét đơn giản như dấu chấm, dấu gạch ngang, hình tam giác, hình chữ
nhật… hoa văn gốm Chăm đã ẩn chứa những nội dụng phong phú, nó chuyển tải hình
ảnh thiên nhiên, phong tục tập quán, tín ngưỡng của người Chăm. Hoa văn trên
gốm Chăm còn mang tính tượng trưng với nhiều ý nghĩa: những đường vạch nằm song
song gọi là “đường xe chạy” (jalan riteh), những dấu chéo X là dấu hiệu mang
tính tượng trưng để quyết định sự sở hữu [24, tr.58].
Hoa
văn trên gốm Bàu Trúc có nét tương đồng với hoa văn trên thổ cẩm Chăm. Vì xuất
phát từ một kho tàn văn hoá chung, cho nên hoa văn trên gốm có nhiều mô típ
tương tự như hoa văn trên thổ cẩm. Đồng thời, thổ cẩm Chăm sử dụng màu thực vật
để trang trí hoa văn tương tự như cách chế biến màu trang trí gốm. Nhìn chung,
hoa văn gốm và hoa văn thổ cẩm có nội dung, chủ đề trang trí tương tự nhau. Có
điều là, hoa văn trên thổ cẩm có hoa văn động vật, nhưng hoa văn động vật lại
không có mặt trên gốm Chăm. Nhưng chung qui lại, giữa hoa văn thổi cẩm và hoa
văn gốm đều có cùng chủ đề phản ánh diện mạo văn hoá Chăm: “ Gốm Chăm Bàu Trúc
mang dâu sấn của gốm lục địa và hải đảo, cũng như vùng đồng bằng và ven biển
miền trung nước ta”[25, tr.58].
Hoa
văn và cách thể hiện hoa văn trên gốm Bàu Trúc là muôn hình muôn vẻ, nó không
chỉ được thể hiện thẩm mỹ, phong tục tập quán trong xã hội Chăm mà còn ghi lại
những dấu ấn về văn hoá, phản ánh sắc thái, diện mạo một nền văn hoá Chăm. Hoa
văn trên gốm Bàu Trúc nói riêng và hoa văn Chăm nói chúng chính là một kho tàng
tư liệu phong phú. Kho tàng ấy không chỉ dừng lại ở giá trị nghệ thuật mà nó
còn mang lại một giá trị văn hoá, lịch sử của người Chăm, một dân tộc đã từng
một thời phát triển rực rỡ ở khu vực Đông Nam Á.
2.2.
Thực trạng
hoạt
động của làng nghề
2.2.1.
Định hướng phát triển
Đứng trước nguy cơ một đặc sản
của dân tộc mất dần, đã có rất nhiều nhà khoa học, các cấp chính quyền và đặc
biệt là những người con làng Bàu Trúc cùng nhau nghiên cứu tìm hướng đi mới cho
làng nghề. Tất cả những người có tâm huyết đều muốn tìm ra mẫu mã mới cho sản
phẩm gốm Bàu Trúc. Trong suốt nhữn năm nghiên cứu, thử nghiêm, cuối cùng các
nhà nghiên cứu cũng tạo ra dòng sản phẩm mới đã ra đời. Đó là dòng gốm mỹ nghệ.
Dòng sản phẩm này là sự kết tinh giữa bàn tay kéo léo của nghệ nhân Chăm với
nét đẹp văn hoá Chăm nổi tiếng bao đời. Nhìn vào những chiếc bình gốm vẫn là
màu đỏ, màu đen tự nhiên đặc trưng, vẫn là những sản phẩm được hoà quyện giữa
đất và lửa, nhưng toát lên vóc dáng của một phụ nữ Chăm lúc thì đậm nét, lúc
như có vẻ mơ hồ trên từng bình gốm. Từ những sản phẩm đơn giản, tuỳ tuý là một
vật dụng trong quá khứ đến những bình gốm mang những dấu ấn của điêu khắc, hội
hoạ, văn hoá Chăm, là kết quả của một quá trình làm việc nghiêm túc với bao
nhiêu mồ hôi, nước mắt của những người có trách nhiệm, trong đó người dân Bàu
Trúc đã đóng góp một vai trò quan trọng.
Từ lâu, văn hoá Chăm đã có một
sức hút kì lạ với người dân trong nước và du khách quốc tế. Vì vậy, ngay khi
dòng sản phẩm đậm nét ản sắc văn hoá Chăm ra đời lập tức nhận được những phản
ứng rất tích cực của thị trường. Nhiều cuộc triển lãm, hội chợ giới thiệu sản
phẩm đã được thực hiện rất thành công ở trong và ngoài nước. Từ cuối năm 2003,
làng gốm Bàu Trúc như có bước chuyển mình hồi sinh. Thể hiện ở việc, làng gốm
đã được rất nhiều kênh truyền hình đưa tin, các bài báo viết về sản phẩm của
làng. Không những thế, các đon vị sản xuất trong làng còn nhận được rất nhiều
đơn đặt hàng có trị giá rất cao. Giờ đây người tiêu dùng đã rất quen thuộc với
dòng sản phẩm mỹ nghệ Bàu Trúc.
Việc trở mình phát triển của một
làng nghề có một ý nghĩa đặc biết quan trọng. Làng nghề được khôi phục và phát
triển tức là tinh hoa văn hoá nghìn năm của dân tộc không chỉ được bảo tồn mà
còn tiếp tục phát triển trong thời kỳ hội nhập. Làng nghề tim ra hướng đi mới
đã cải thiện rất nhiều về đời sống vật chất, tinh thần của người dân tại địa
phương. Kể từ khi gốm mỹ nghệ được sản xuất phổ biến trong làng, thu nhập của
nghệ nhân đã tăng lên gấp 5-6 lần so với sản phẩm truyền thống. Gốm mỹ nghệ Bàu
Trúc mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc Chăm. Vì vậy thị trường gốm được mở rộng
cũng là một cách để giới thiệu tinh hoa văn hoá dân tộc đến bạn bè quốc tế.
Không những thế, việc khôi phục và phát triển được một làng nghề truyền thống
còn tạo tiền đề, niềm tin, bài học kinh nghiệm cho các nhà nghiên cứu, các cơ
quan chức năng trong quá trình khôi phục và quản lý làng nghề.
2.2.2.
Tình hình sản xuất
Hiện nay trong làng có 260 hộ trực tiếp tham gia hoạt động sản xuất gốm với
hơn 1000 thợ gốm, trong đó có thợ nữ chiếm hơn 70%. Tại làng gốm Bàu Trúc tồn
tại 2 hình thức sản xuất chính: sản xuất tại các hộ gia đình và tại các cơ sở
(thường là các công ty trách nhiệm hữu hạn, cơ sở sản xuất).
- Sản xuất tại hộ gia đình
có các hình thức: sản xuất gia công cho các cơ sở, sản xuất theo đơn đặc hàng
của các đại lý; sản xuất rồi gia đình tự đem sản phẩm của mình đi bán.
- Sản xuất tại các cơ sở:
Các cơ sở này thường ban đầu do một cá nhân hoặc hay một gia đình gây dựng nên
do nhu cầu mở rộng kinh doanh của họ. Hiện nay, tại Bàu Trúc có khoảng 35 cơ sở
sản xuất với qui mô vừa và nhỏ, số lượng thợ tham gia làm gốm trung bình của
các cơ sở trong một năm là 5, 6 người. Những mùa cao điểm du lịch như: mùa hè,
mùa xuân thì số người tham gia sản xuất đông hơn, khoảng 7 – 12 người/cơ sở.
Về tỷ lệ hai hình thức sản xuất này thì hình thức sản xuất hộ gia đình
chiếm tỷ lệ lớn hơn (86%) so với hình thức sản xuất tại các cơ sở(14%) ( Bảng
số liệu A3, phụ lục 2).
Hình thức sản xuất tại làng gốm Bàu Trúc vẫn chưa thoát khỏi tình trạng sản
xuất tự phát, nhỏ lẻ. Điều này dẫn đến hệ quả là số lượng sản phẩm làm ra ít,
chất lượng sản phẩm không được như mong muốn. Vấn đề đặt ra là làng gốm Bàu
Trúc cần phải cair thiện qui mô sản xuất mới mong có được sự phát triển bền
vững và lâu dài.
Làng gốm Bàu Trúc có
thời gian vô cùng trầm lắng, khi hầu hết người dân đều bỏ nghề, do thu nhập
thấp, thị trường tiêu thụ khan hiếm.
Sau khi được Nhà Nước và các tổ tức nước ngoài hỗ
trợ bảo tồn, làng đã có bước phát triển mạnh mẽ. Năm 2017, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
công nhận nghệ thuật làm gốm truyền thống này vào danh mục di sản văn hóa phi
vật thể quốc gia. Đặc biệt hiện nay, tỉnh Ninh Thuận đang tiến hành hoàn tất
các thủ tục liên quan đến việc đề nghị Hội đồng Di sản thế giới công nhận “Nghệ
thuật làm Gốm của người Chăm Bàu trúc” là di sản văn hóa phi vật thể đại diện
của nhân loại cần bảo vệ khẩn cấp.
2.2.3. Thị trường tiêu thụ
Thị trường trong nước: đây là thị
trường có đối tượng khách hàng rất đa dạng. Tạm chia ra thành 3 nhóm khách hàng
chính: Cộng động cư dân tại địa phương, khách du lịch đến tham quan làng và
khách hàng tiêu thụ sản phẩm thông qua các đại lý tại các tỉnh và thành phố
trong cả nước.
Thị trường ngoài nước: Cho đến nay thì
gốm Bàu Trúc đã có mặt trên thị trường của một số nước phát triển như: Mĩ,
Pháp, Nhật Bản, Đức và Singapore… nhưng đang phải chịu nhiều bất lợi do kiểu
sản xuất thủ congo, nhỏ lẻ mang tính gia đình. Tuy gốm Bàu Trúc có mặt ở thị
trường nước ngoài nhưng lại mang nhãn hiệu của địa phương khác, do những điểm
làm gốm ở đây chỉ là cơ sở sản xuất, không đủ tư cách pháp nhân để ký hợp đồng
mua bán với đối tác nước ngoài. Con đường xuất khẩu qua nhiều khâu khiến giá
thành đội lên cao, nhưng bản thân người sản xuất lại không được nhuận cao.
Như vậy, với thị trường ngoài nước,
Bàu Trúc đang gặp nhiều khó khăn, nhưng trong tương lai lại mang nhiều hứa hẹn
và cần được đẩy mạnh khai thác, trong đó vai trò của thợ gốm Bàu Trúc và sự hổ
trợ, quản lý của cấp chính quyền là vô cùng quan trọng.
Để khôi phục, quản lý
và phát triển bất kỳ một làng nghề truyền thống nào, thì tăng và ổn định thu
nhập cho người dân theo nghề luôn là vấn đề quan trọng nhất. VÌ cho dù người
dân có yêu nghề đến mấy, nhưng thu nhập từ nghề không đủ nuôi sống họ thì việc
họ bỏ nghề là tất yếu. Với làng Nghề Bàu Trúc, từ ngày phát triển dòng sản phẩm
mỹ nghệ với sự đa dạng về mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc… nhờ sản phẩm đáp ứng được
nhu cầu thị trường nên hàng hoá bán chạy, từ đó thu nhập người dân không ngừng
tăng lên. Nếu trước đây với sản phẩm truyền thống ( lu, thạp, chậu, nồi…), thu
nhập của người dân từ 10.000 đồng – 15.000 đồng/ngày thì với sản phẩm gốm mỹ
nghệ hiện nay là từ 60.000 đồng – 100.000đồng/ngày ( tăng 4 – 5 lần). Nghề làm
gốm đã nhanh chóng thay đổi bộ mặt của làng Bàu Trúc. Làng không còn hộ đói, số hộ nghèo đã giảm từ 37% xuống
dưới 10% [. ]. Đây là một rất đáng mưng, là động lực để
làng gốm Bàu Trúc không ngugfw cố gắng hơn nữa.
Như vậy, sở dĩ làng tồn tại
và phát triển cho đến ngày hôm nay là nhờ những giá trị kinh tế mà làng đem lại
cho người lao động, thu nhập bình quân của mỗi thợ làm gốm khoảng 1.3 – 1.6
triệu đồng/tháng. Nguồn thu nhập chính cư dân làng Bàu Trúc là từ sản xuất nông
nghiệp và nghề gốm, nên vào những ngày mùa, người thợ làm gốm chuyển sang thu
hoạch lúa, tạm ngưng sản xuất gốm. Vì vậy mỗi tháng trung bình họ tham gia sản
xuất tầm 20 ngày. Nhưng chúng ta có thể thấy rằng, với mực thu nhập hiện tại
chỉ đủ để người thợ trang trải cuộc sống hằng ngày. Vì vậy, điều mà làng gốm
cần thiết phải hướng tới là có thể làm giàu bằng chính nghề gốm của họ. Có nhờ
vậy thì làng gốm mới phát triển bền vững.
Sự gắn kết giữa làng nghề và
du lịch, đây không những là cách tạo thị trường cho sản phẩm của làng nghề mà
còn là động lực thúc đẩy du lịch cho làng gốm Bàu Trúc nói riêng và du lịch
tỉnh Ninh Thuận nói chung. Những nổ lực nhằm phát triển bền vững làng nghề cũng
là một trong những nổ lực giúp phát triển bền vững sản phẩm du lịch văn hoá của
tỉnh Ninh Thuận.
Tỉnh Ninh Thuận là một trong những tỉnh thuộc đồng bằng Duyên Hải miền
Trung, có nguồn lực tự nhiên rừng, biển để khai thác và phát triển du lịch. Sự
tiếp giáp của các tỉnh như Khánh Hoà ở phía Bắc, Đà Lạt ở phía Tây, Phan Thiết
ở phía Nam. Khí hậu lại nắng nóng, cơ sở vật chất phục vụ du lịch chưa được
hoàn thiện dẫn đến việc thu hút khách bằng tài nguyên du lịch còn hạn chế. Tuy
vậy, Ninh Thuận lại sở hữu tài nguyên du lịch văn hoá mà không nơi nào trên
nước ta có được. Đó chính là những nét văn hoá độc đáo của đồng bào Chăn. Trong
đó hai làng nghề truyền thống gốm Chăm Bàu Trúc và dệt Mỹ Nghiệp có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng. Nhận thấy điều này, chính quyền tỉnh Ninh Thuận đã có nhiều cố
gắn để đưa việc phát triển 2 làng nghề này vào chiến lược phát triển du lịch
chung của tỉnh nhà.
Gắn vào du lịch, làng nghề gốm Bàu Trúc đã phải chú trọng nhiều yếu tố hơn,
không đơn thuần chỉ là sản xuất và kinh doanh. Tiến sĩ Ilhamy Elias – chủ tịch
hiệp hội làng nghề Indonesia khẳng định rằng, du lịch làng nghề là một cách học.
Du khách không chỉ học cách thức làm ra một sản phẩm mà còn hiểu được câu
chuyện văn hoá đằng sau những sản phẩm. Đó là một các học độc đáo và sinh động.
Họ rất quan tâm và hài lòng với hình thức du lịch kết hợp tham quan, khám phá
văn hoá này. Nhờ vậy, sản phẩm gốm mỹ nghệ của Bàu Trúc bán được giá cao, thu
nhập của người dân khá hơn. Đây chính là thế mạnh về du lịch của tỉnh Ninh
Thuận so với các tỉnh khác trong khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Đồng thời
cũng là cách tốt để gìn giữ và phát triển làng nghề trong bối cảnh cạnh tranh
khóc liệt của nền kinh tế thị trường.
2.3.
Thực trạng quản lý làng nghề
gốm Chăm Bàu Trúc
Trong
suốt quá trình tìm hướng đi mới, làng gốm Bàu Trúc đã có được những thuận lợi
từ nhiều phía, giúp cho việc khôi phục và phát triển làng nghề đạt được kết quả
như mong đợi.
Với bề dày văn hoá
của vùng đất Ninh Thuận, với sự phong phú, đa dạng về vùng sinh thái gắn với
các làng nghề truyền thống góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thêm
thu nhập, cải thiện đời sống cho lao động nông thôn, góp phần quan trọng trong
tiến trĩnh xây dựng nông thôn mới và giữ gìn nét vănhoas truyền thống đặc sắc
của cộng đồng người Chăm ở Ninh Thuận.
Quản lý làng nghề truyền thống ở tỉnh
nhà rất khó khăn và phức tạp. Với cách thức hình thành, tổ chức và hoạt động
sản xuất kinh doanh rất đa dạng với nhiều hình thức khác nhau, nên hoạt động
quản lý làng nghề truyền thống khó tập trung.
2.3.1 Việc ban hành, hướng dẫn và tổ chức triển khai thực hiện văn bản quy phạm
pháp luật, văn bản hành chính thông thường trong hoạt động quản lý đối với làng
nghề truyền thống tại tỉnh Ninh Thuận.
Nhằm
khuyến khích, động viên, phát huy vai trò của các nghệ nhân, thợ giỏi ở địa
phương trong việc khôi phục nghề truyền thống. UBND tỉnh đã ban hành Quyết định
số 79/2009/QĐ-UBND ngày 09/03/2009 của UBND tỉnh về việc ban hành quy chế xét
tặng danh hiệu nghệ nhân, thợ giỏi, người có công đưa nghề về địa phương.
Trong nhiều năm
qua, Chính phủ đã có nhiều biện pháp để hỗ khôi phục các làng
nghề truyền thống có giá trị cao cả về văn hóa và kinh tế. Hỗ trợ
việc triển khai các chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống phải kể đến Quyết định 132/2000/QĐ-TTg
của thủ tướng chính phủ với những chính sách cụ thể về đât đai,
mặt bằng sản xuất, nguyên liệu đầu tư tín dụng, thuế và lệ phí,
khoa học công nghệ, chất lượng sản phẩm và đào tạo lao động. Tiếp
đến là nghị định số 66/2006/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển ngành
nghề nông thôn.
Do vậy, những năm qua nhiều bộ ngành xây dựng
nhiều đề án phát triển ngành nghề nông thôn, tập trung vào hỗ trợ
phát triển sản xuất khôi phục phát triển ngành nghề truyền thống,
thúc đẩy mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm làng nghề trong và
ngoài nước. Nhiều khu tiểu thủ công nghiệp, làng nghề đã được
hình thành, tạo nên điều kiện cho ngành nghề nông thôn phát triển.
Nhiều hiệp hội, hội nghề nghiệp được thành lập như: Hiệp hội xuất
khẩu hành thủ công mỹ nhệ Việt Nam, Hiệp hội làng nghề Việt Nam,
Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ ngành nghề nông thôn, các hiệp
hội, câu lạc bộ tại địa phương....
Làng nghề thủ công
truyền thống với các bí quyết nghề nghiệp riêng là sản phẩm độc
đáo của nền văn hóa Việt Nam. Đó là một cộng đồng có sự liên kết
chặt chẽ bởi những mối liên hệ chằng chịt về lãnh thổ, huyết
thống, kinh tế, văn hóa và tâm linh. Đây là nơi hiện lưu giữ kho
tàng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng phong phú, nơi
biểu hiện cụ thể, sinh động bản sắc văn hóa dân tộc. Xu hướng
thương mại hoá do chỉ hướng tới mục tiêu lợi nhuận làm cho bản
sắc văn hóa của làng nghề bị phai mờ, đánh mất bản sắc văn hóa
là điều nguy hiểm đối với sự tồn tại bền vững của mỗi một làng
nghề.
Chính sách nghệ
nhân và bảo tồn phát triển nghệ nhân là một nhân tố quan trọng và
là hạt nhân để phát triển làng nghề hiện nay, họ là những người
có tài. Họ là người vừa thừa hưởng truyền thống của ông cha, vừa
có điều kiện tiếp thu kỹ thuật tiên tiến kết hợp với tài năng của
hộ phát triển với nhiều nét mới, mặc dù không được đào tạo hỗ
trợ, nhưng các nghệ nhân vẫn liên tục sáng tạo ra những sản phẩm
đã góp phần đem lại việc làm cho cả làng nghề; tạo ra những sản
phẩm có giá trị và được đánh giá cao tại các hội chợ triển lãm
trong và ngoài nước, và làm cho thế giới hiểu rõ tinh hoa nghệ
thuật truyền thống của Việt Nam. Nghệ nhân không phải là người chỉ
giỏi nghề mà chính họ là người nắm giữ tinh hoa của nghề, nếu
thiếu nghệ nhân nghề có thể không mất, nhưng tinh hoa của nghề
không còn, làng nghề khó mà phát triển được. Ngày 26 tháng 11 năm
2003 Quốc hội ban hành luật thi đua khen thưởng số 15/2003/QH11 trong
đó có điều khoản Điều 58 quy định tặng thưởng danh hiệu nghệ nhân
nhân dân, nghệ nhân ưu tú, nhưng lại không giao nhiệm vụ cụ thể
cho cơ quan nào có trách nhiệm thực hiện vì thế vần đề khen thưởng
và chính sách nghệ nhân cho làng nghề còn bế tắc. Trước cơ hội
đó, nhiều tổ chức đã tự đặt ra các danh hiệu giải thưởng đề khen
thưởng cho các nghệ nhân chủ yếu nhằm khoa trương cho các hoạt
động kinh doanh, dịch vụ của họ. Thực tế các giải thưởng mang lại
lợi ích cho nghệ nhân thì ít, mang lại uy doanh cho người đứng ra tổ
chức thưởng thì nhiều.
Quyết định Số: 800/QĐ-TTg
ngày 04 tháng 06 năm 2010phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia
về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020. Trong nội dung
chương trình chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
có Nội dung 4: Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo
phương châm “mỗi làng một sản phẩm”, phát triển ngành nghề theo
thế mạnh của địa phương.
Đồng thời, cùng với sự hội nhập và quá trình toàn cầu hoá
trên nhiều lĩnh vực khác nhau của nhân loại như thông tin, công nghệ, môi
trường, hiểm hoạ thiên thiên, ràng buộc tài chính,… việc quản lý đối với làng
nghề truyền thống đều phải chịu sự chi phối của các quốc gia: ví dụ như về giá
cả của các sản phẩm trên thị trường phải phù hợp, có tính cạnh tranh với các
sản phẩm khác, chất lượng sản sản phẩm làng nghề cũng đòi hỏi cao hơn,…
-
Quản lý làng nghề truyền thống mang tính tổ chức cao.
Các cơ sở sản xuất, kinh doanh tại các làng nghề truyền
thống phải luôn tuân thủ các quy định của cơ quan quản lý nhà nước đối với làng
nghề: Như việc tuân thủ trong quy hoạch, trong các biện pháp bảo vệ moi trường
làng nghề, vấn đề an toàn thực phẩm và cả chiến lược phát triển của làng nghề
vẫn phải nằm trong sự kiểm soát, quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước.
Các làng nghề truyền thống chỉ có thể tồn tại và phát
triển mạnh khi việc quản lý nhà nước đối về làng nghề có hiệu quả. Vì vậy, nhận
thức được vai trò của hoạt động quản lý đối với làng nghề nên trong những năm
qua, địa phương luôn hoàn thiện công tác tổ chức để hoạt động quản lý đạt hiệu
quả. Phân chia nhiệm vụ quản lý đố từng sở ngành liên quan trong hoạt động quản
lý đối với làng nghề.
-
Quản lý làng nghề truyền thống tỉnh Ninh Thuận luôn có
tính mục tiêu, chiến lược, chương trình, kế hoạch.
Bảo tồn và phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống
của tỉnh luôn gắn với chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới,
khai thác các tiềm năng lợi thế của địa phương, tạo ra những sản phẩm đặc
trưng, mang dấu ấn, thương hiệu của làng nghề gốm Chăm Bàu Trúc Ninh Thuận.
Phát triển làng nghề để góp phần thức đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông
thôn, tạo việc làm, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo, giảm dần khoảng cách thu
nhập giữa thành thị và nông thôn, phát triển làng nghề phải dựa trên cơ sở phát
triển hài hoà giữa sản xuất hài hoà giữa sản xuất hàng hoá với bảo vệ môi
trường và giữ gìn gìn, phát huy giá trị văn hoá truyền thống của địa phương.
Việc ban hành hướng dẫn , hướng dẫn và tổ chức triển khai
thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính thông thường trong
hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống. Tỉnh Ninh Thuận đã
chỉ đạo và tổ chức thực hiện tốt các văn bản của cấp trên và dựa trên tình hình
thực tế của địa phương, UBND tỉnh Ninh Thuận đã ban hành và tổ chức thực hiện
các văn bản liên quan đến quy định, hỗ trợ phát triển các làng nghề truyền
thống trên địa bàn tỉnh.
Trong thời gian từ năm 2010 đến nay, UBND tỉnh đã ban
hành nhiều văn bản để khuyến khích hỗ trợ phát triển làng nghề truyền thống của
địa phương. Sau khi các văn bản được ban hành, các văn bản được phổ biến đến
các tổ chức, cá nhân liên quan trên địa bàn tỉnh thông qua các hình thức như
tuyên truyền phổ biến trên các phương tiện thông tin, hội thảo, tập huấn và văn
bản được chuyển đến các tổ chức cá nhân
có liên quan. Phần lớn các văn bản sau khi ban hành đã được áp dụng vào thực tế
và đem lại hiệu quả trong trong việc phát triển làng nghề truyền thống của địa
phương, cụ thể như sau:
Để kịp thời khuyến khích, thúc đẩy việc đăng ký xác lập
quyền sở hữu công nghiệp tại địa phương và áp dụng cá hệ thống quản lý chất
lượng tiên tiến phục vụ quá trình hoạt động quản lý, sản xuất kinh doanh của
các cá nhân, tổ chức trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận, UBND tỉnh đã ban hành Nghị
quyết số 05-NQ/TU ngày 01 tháng 6 của Ban chấp hành trung ương Đảng bộ Tỉnh
Ninh Thuận về phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2006 -
2010 và đến 2020. Theo đó, từ năm 2006 đến nay đã hổ trợ cho các cơ sở sản xuất
trong các làng nghề truyền thống trong hoạt động đăng ký xác lập quyền, hỗ trợ
xây dựng hệ thống quản lý chất lượng cho cơ sở sản xuất.
Nhằm khuyến khích, động viên, phát huy vai trò của các
nghệ nhân, thợ giỏi ở địa phương trong việc khôi phục làng nghề truyền thống,
UBND tỉnh đã ban hành quyết định số 79/2009/QĐ-UBND ngày 15 tháng 8 năm 2006
của UBND tỉnh ban hành quy định tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và hồ sơ xét
tặng danh hiệu nghệ nhân, thợ giỏi, người có công đưa nghề mới về Ninh Thuận.
Đến nay, trong tỉnh đã có 10 nghệ nhân vinh dự được chủ tịch nướccoong nhận
danh hiệu nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú và UBND tỉnh công nhận danh hiệu
nghệ nhân, thợ giỏi cho 16 cá nhân.
Ngoài ra, cơ quan quản lý thường xuyên tăng cường công
tác tuyên truyền, phổ biến văn bản cấp trên, kiến thức pháp luật về doanh
nghiệp, làng nghề, về hội nhập kinh tế quốc tế WTO; tổ chức các hội thảo, tập
huấn về các hiệp định thương mại tự do Việt Nam, nhằm giúp doanh nghiệp, làng
nghề trên địa bàn tỉnh nắm bắt kịp thời các văn bản cấp trên, quy định pháp
luật, phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của của các cơ sở tại làng
nghề.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động quản lý
làng nghề về việc ban hành, hướng dẫn, tổ chức, triển khai thực hiện văn bản
quy phạm pháp luật, văn bản hành chính thông thường tại địa phương vẫn còn
nhiều bất cập; cụ thể như:
-
Một số văn bản đã ban hành, tuy nhiên vẫn không thể áp dụng
thực hiện, do thiếu thực tế, thiếu nguồn kinh phí triển khai và đồng thời còn
mang tính chất chung chung, không cụ thể.
-
Tại làng nghề truyền thống cũng chưa xây dựng được văn bản
riêng và hoạt động quản lý và phát triển làng nghề riêng cho địa phương minh.
Hoạt động tuyên truyền và hướng dẫn phổ biến các văn bản liên quan chưa được
triệt để. Ví dụ như chính sách về hổ trợ xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm
làng nghề chưa phổ biến kịp thời đến với làng nghề gốm truyền thống tại thôn
Bàu Trúc.
-
Chưa xây dựng được quy hoạch ngành nghề nông thôn, vì vậy
đa số nguồn nguyên liệu phục vụ cho sản xuất của làng nghề truyền thống bị khan
hiếm, không có sự liên kết chặc chẽ giữa cơ quan quản lý với các hooj sản xuất
kinh doanh trong làng nghề,…
Nguồn nhân lực trong hoạt động quản lý làng nghề gốm
truyền thống chưa đủ và hợp lý. Chuyên viên phụ trách hoạt động về làng nghề
thực hiện rất nhiều nhiệm vụ ở các lĩnh vực khác trong đó kiêm nhiệm thực hiện
nhiêm vụ quản lý làng nghề. Vì vậy, hoạt động quản lý đối với làng nghề tại địa
phương không được đẩy mạnh và không chặt chẽ. Qua phiếu khảo sát điều tra tại
địa phương hầu hết các nguồn lực thực hiện quản lý về làng nghề tại địa phương
còn gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực thi công như thiếu kinh nghiệm,
không được đào tạo, tập huấn nhiều, việc tiếp cận các văn bản cấp trên còn sơ
sài, chưa nắm rõ các đầu công việc để báo cáo cơ quan quản lý cấp trên.
Nhìn chúng, với đội ngủ nguồn nhân lực hiện có tại địa
phương mới đáp ứng nhu cầu cơ bản về quản lý nhà nước đối với làng nghề, Làng
nghề truyền thống có những bước đột phá cần phải tăng cường nguồn nhân lực cho
địa phương. Chỉ có tạo ra nguồn nhân lực quản lý chuyên nghiệp, có kiến thức,
kinh nghiệm, chuyên môn vững thì mới phát triển làng nghề theo hướng bền vững
và lâu dài.
2.3.2. Xây dựng và thực hiện
chính sách quản lý phát triển đối với làng nghề truyền thống
Thứ nhất, để đẩy mạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh tại
làng nghề gốm truyền thống của tỉnh, UBDN tỉnh đã hổ trợ vốn đầu tư cho làng nghề
thông qua dự án đầu tư phát triển làng nghề.
Tiểu kết chương 2
Làng nghề gốm Chăm truyền
thống của tỉnh Ninh Thuận xuất hiện sớm, tồn tại trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh. Làng nghề gốm đã đóng góp tích cực thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân. Nhưng,
bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế như hoạt động sản xuất tại làng nghề
còn manh mún, nhỏ lẻ, thiếu liên kết, việc tiếp cận các nguồn vốn còn khó khăn,
sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường còn kém,…
Trước thực trạng đó, hoạt
đông quản lý làng nghề đã được đẩy mạnh, nhiều cơ chế, chính sách được triển
khai thực hiện để duy trì và phát triển các làng nghề truyền thống. Các tổ chức
ohi chính phủ cũng đã quan tâm đến việc hỗ trợ các dự án đầu tư phát triển làng
nghề gốm truyền thống. Tuy nhiên, nguồn lực hổ trợ của Trung ương, tỉnh còn hạn
chế, chủ yếu đầu tư cơ sở hạ tầng, chưa quan tâm nhiều đến việc hỗ trợ phát
triển sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Bộ máy quản lý nhà nước đối với làng nghề
thiếu đồng bộ, phân tán, còn chồng chéo giũa các cơ quan quản lý nhà nước, chưa
có sự liên kết và thể hiệ tính thứ bật. trong công tác quản lý làng nghề truyền
thống. Thiếu cán bộ quản lý làng nghề tại các địa phương, đặc biệt chú tâm đến
việc đào tạo nguồn nhân lực quản lý tại địa phương. Hoạt động vê thanh tra,
kiểm tra rất mờ nhạt, làm giảm hiệu quả quản lý làng nghề truyền thống. Xã hội
hoá trong hoạt động quản lý làng nghề được đẩy mạnh, bước đầu đã huy động được
sự đóng góp, tham gia quản lý của người dân đối với hoạt động quản lý, góp phần
phát triển làng nghề truyền thống tại địa phương nhưng vẫn còn ở mức thấp.
Việc phân tích đánh giá thực
trạng của hoạt động quản lý làng gốm Bàu Trúc, đã xác định được những yếu tố thuận
lợi, những điểm hạn chế trong hoạt động quản lý của làng gốm Bàu Trúc và tìm ra
nguyên nhân nhân của những điểm thuận lợi trong hoạt động quản lý đối với làng
gốm Bàu Trúc truyền thống cũng như những nguyên nhân của những điểm hạn chế
trong hoạt động quản lý làng gốm. Đây là cơ sở để đề xuất ra các giải pháp
trong hoạt động quản lý làng nghề gốm truyền thống của địa phương, nhằm góp
phần duy trì và phát triển nghề gốm Chăm một cách bền vững và hiệu quả nhất.
Chương 3: Nâng cao hiệu quả
quản lý và đề xuất giải pháp pháp triển nghề làm gốm truyền thống Chăm Bàu Trúc
ở tỉnh Ninh Thuận.
3.1. Văn bản quản lý nhà nước và các chính sách về
việc quản lý và phát triển làng nghề truyền thống.
3.1.1. Văn bản quản lý nhà nước và các chính sách
từ trung ương
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khoá XI [38] về xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam
đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước đã đauw ra mục tiêu:
Mục
tiêu chúng: xây dựng nên văn hoá và con người Việt Nam phát triển toàn diện,
hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và
khoa học. Văn hoá thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là
sức mạnh nội sinh quan trọng, bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững
chắc tổ quốc vì mục tiêu dân giàu , nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
[38].
Mục
tiêu cụ thể: hoàn thiện các chuẩn mục giá trị văn hoá và con người Việt Nam,
tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng
lực, sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức
tuân thủ pháp luật. Đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách
nhiệm của mỗi người với bản thân mình, với gia đình, cộng đồng, xã hội và đất
nước. Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, phù hợp với bối cảnh phát triển
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Xây dựng
văn háo trong bối cảnh hệ thống chính trị, trong từng cộng đồng làng, bản, khu
phố, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và mỗi gia đình; Phát huy vai trò của gia
đình, cộng đồng, xã hội trong việc xây dựng môi trường văn hoá, làm cho văn hoá
trở thành nhân tố thúc đẩy con người Việt Nam; Hoàn thiện thể chế, chế định
pháp lý và thiết chế văn hoá bảo đảm xây dựng và phát triển văn hoá, con người
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế; Xây
dựng môi trường văn hoá lành mạnh, đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hoá,
tăng cường quảng bá văn hoá Việt Nam; từng bước thu hẹp khoản cách hưởng thụ
văn hoá giữa thành thị và nông thôn, các vùng miền và các giai tầng xã hội.
Ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội [38].
Tại
Đại Hội khoá XI của Đảng đã nêu: tiếp tục đổi mới, tăng cường việc giới thiệu,
truyền bá văn hoá, văn học, nghệ thuật, đất nước, cong người, tiếp tục giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Đại hội đề cập đến vấn đề phát triển du
lịch trên cơ sở phát huy có hiệu quả giá trị của các làng nghề thủ công là một
định hướng phù hợp với chủ trương, chính sách phát triển du lịch của Đảng, nhà
nước và địa phương và xem đây là một chiến lược phát triển có tính lâu dài.
Ngoài ra, còn có một số văn bản quản lý nhà nước như:
Nghị
định của Chính Phủ về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn [39]. Nhà
nước tổ chức hoạt động khuyến kích, hướng dẫn, hỗ trợ và tạo điều kiện để các
tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sản xuất công nghiệp nông thôn nhằm mục
tiêu sau: Động viên và huy động các nguồn lực trong nước và ngoài nước tham gia
hoặc hỗ trợ các tổ chức, cá nhân đầu tư sản xuất công nghiệp của cả nước và
từng địa phương; Góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hoá – hiện đại hoá. Trước hết là công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn, tạo
việc làm, tăng thu nhập, thực hiện phân công lại lao động xã hội; Hỗ trợ, tạo
điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư sản xuất
công nghiệp nông thôn một ccash bên vững, nâng cao năng lực cạnh tranh, thực
hiện có hiệu quả lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Nghị
định của chính phủ về một số chính sách hổ trợ, khuyến khích phát triển hợp tác
xã [40]: nghị định này quy định một số chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát
triển hợp tác xã về việc hỗ trợ khuyến khích thành lập hợp tác xã; Chính sách
về bồi dưỡng và đào tạo trong hợp tác xã; Về đất đai; Về thuế; Quỹ hỗ trợ phát
triển hợp tác xã, Tín dụng; Hỗ trợ hoạt động xúc tiến thương mại; Hỗ trợ về ứng
dụng đổi mới, nâng cao trình độ, khuyến nông, khuyến ngư, khuyến công; Hỗ trợ
hợp tác xã đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, đời sống của cộng đồng xã
viên và than gia các chương trình phát triển kinh tế - xã hội.
Nghị
định của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn [41]: nghị định quy định
một số chính sách khuyến khích như các chương trình bảo tồn, phát triển làng
nghề; Mặt bằng sản xuất; Đàu tư tín dụng; Xúc tiến thương mại; Khoa học công
nghệ.
3.1.2.
Văn bản quản lý nhà nước và cụ thể hoá chính sách tại địa
phương.
Theo “Quy hoạt tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Thuận đến năm 2020” [42] hướng đến mục tiêu
là: Phát huy yếu tố con người, coi trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao; bảo tồn, phát huy, phát triển nền văn hoá truyền thống các dân tộc trong
tỉnh. Phát triển du lịch toàn diện dựa trên tiềm năng và lợi thế du lịch của
tỉnh, tiếp tục phát huy có hiệu qủa giá trị văn hoá dân tộc và đảy mạnh đầu tư
phát triển các làng nghề thủ công truyền thống. Xây dựng Ninh Thuận trở thành
điểm đến của Việt Nam trong tương lai, có hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, môi
trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, có khả năng ứng phó với biến đổi khí
hậu và phòng tránh thiên tai; Kinh tế phát triển nhanh, bền vững theo mô hình
kinh tế “ xanh, sạch”; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp và
dịhc vụ, gắn với giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, tạo
việc làm, xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân
dân; bảo đảm quốc phòng an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn
xã hội.
Thực hiện chỉ đạo của tỉnh uỷ về
hỗ trợ phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, làng nghề trên địa bàn tỉnh,
yêu cầu trước tiên phải xây dựng được đề án hoặc định hướng chiến lược phát
triển để triển khai thực hiện. Việc xây dựng đề án phát triển ngành nghề tiểu
thủ công nghiệp, làng nghề tỉnh Ninh Thuận đến năm 2040, là rất cần thiết nhằm
sử dụng nguồn lực từ tài nguyên ở khu vực nông thôn một cách hiệu quả; đồng
thời góp phần lớn trong việc bảo tồn, giữ gìn và phát triển bản sắc văn hoá dân
tộc là khâu quan trọng, làm nên sự khác biệt của mỗi tỉnh và mỗi quốc gia trong
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sau rộng hiện nay. Phát triển ngành nghề
tiểu thủ công nghiệp, làng nghề không chỉ góp phần quan trọng thực hiện chiến
lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn mà còn góp phần thúc đẩy
sản xuất phát triển, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống nhân dân. Nội dụng
của đề án nhằm đánh giá thực trạng hoạt động các ngành nghề tiểu thủ công
nghiệp, làng nghề trên địa bàn tỉnh; dự báo về tìm năng phát triển, khả năng mở
rộng thị trường; định hướng các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, đề ra những
chính sách hỗ trợ cụ thể và giải pháp để phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng
nghề, công tác tổ chức triển khai thực hiện thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá
và hiện đại hoá, góp phấn chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, giải quyết việc
làm cho người lao động, nang cao mức sống của người dân, là động lực thúc đẩy
kinh tế - xã hội địa phương.
Những quy định tiêu chuẩn, quy
trình, thủ tục và hồ sơ xét tặng danh hiệu nghề nhân giỏi, người có công đưa nghề
về với tỉnh. Chính sách này đã khuyến khích người dân tại các làng nghề trong
việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của làng nghề; không
ngừng nâng cao trình độ kỹ năng kỹ xảo, tay nghề điêu luyện; sáng tác và thiết
kế nhiều mẫu sản phẩm đạt trình độ nghệ thuật cao, có giá trị kinh tế, kỹ
thuật, mỹ thuật, trong việc truyền nghề, dạy nghề sáng tạo và phát triển ngành
nghề thủ công mỹ nghệ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương [42].
3.1.3.
Những vấn đề trong quá trình hội nhập
Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, các làng nghề
Việt Nam đã có một sức sống mới, phong phú hơn về hạ tầng, công nghệ và mở rộng
thị trường xuất khẩu. Các làng nghề hiện thu hút hơn 12 triệu lao động, và tạo
việc làm cho hàng triệu lao động nông nhàn. Những năm gần đây, xuất khẩu hàng
thủ công mỹ nghệ đã lên đến hơn 700 triệu USD/ năm.
Trên thực tế đã có rất nhiều làng
ghề được khôi phục, phát triển mạnh trong một thời gian nhưng sau đó bị đình
trệ. Khoảng từ cuối năm 2008 đến nay, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế
giới, các làng nghề Việt Nam lâm vào tình cảnh hết sức khó khăn, thiếu vốn,
thiếu nguyên liệu sản xuất, thị trường bị thu hẹp.
Theo thống kê gần đay nhất của Bộ
Nông nghiệp và phát triển nông thôn, đến giữa tháng 3 năm 2009, qua báo cáo của
38 tỉnh, thành phố thì có 9 làng nghề phá sản; 124 làng nghề sản xuất cầm
chừng; khoảng 2166 hộ kinh doanh và 02 doanh nghiệp phá sản; 468 doanh nghiệp
sản xuất cầm chừng”[43; tr.19].
Như vậy, đứng trước thực trạng
chung của các làng nghề truyền thống hiện nay, làng gốm Bàu Trúc muốn có được
sự phát triển bền vững thì cần phải thực hiện kết hợp nhiều biện pháp để giải
quyết hàng loạt các vấn đề về vốn, về phát triển vùng nguyên liệu, xúc tiến
thương mại mở rộng thị trường xuất khẩu đồng thời tập trung khai thác tốt thị
trường trong nước… Đây là một thách thức không nhỏ, đòi hỏi phải có sự hỗ trợ
của các cơ quan chức năng về việc tư vấn phát triển bền vững làng nghề, cũng
với sự nổ lực của các làng nghề, trong đó có Bàu Trúc.
Thứ nhất đó là những tác động, theo
từ điển tiếng Việt thì kinh tế thị trường là một nền kinh tế được điều tiết chủ
yếu của các quy luật kinh tế và hàng hoá được sản xuất theo yêu cầu của thị
trường.
Tác động tích cực của nền kinh tế thị trường là
tạo ra sức mạnh cạnh tranh giữa các nhà sản xuất trên thị trường. Nó đòi hỏi
nhà sản xuất phải làm mọi cách để hạ giá thành sản phẩm, áp dụng máy móc, tiến
bộ khoa học kỹ thuật để nâng cao số lượng và chất lượng sản phẩm.
Bên cạnh mặt tích cực đó, sự cạnh tranh khóc liệt
của những qui luật kinh tế lại là mối đe doạ nghiêm trọng đến sự tồn tại của
những làng nghề thủ công truyền thống trong đó có làng Gốm Bàu Trúc.
Đầu tiên là là qui luật giá cả và mức hao phí sức
lao động bình quân mà xã hội chấp nhận. Qui luật này chỉ rõ giá cả và hao phí
sức lao động để tạo ra một sản phẩm có giá cả trung bình mà thị trường đó chấp
nhận. Nghĩa là, không phải sản phẩm nào tốn nhiều sức lao động thì luôn bán
được giá cao. Đồng thời, do kinh tế thị trường phát triển nhanh, việc mở rộng
thị trường diễn ra dễ dàng hơn nên đòi hỏi sản phẩm phải được sản xuất hàng
loạt để đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của ngừi tiêu dụng. Chính qui luật này đã
tác động đến sản phẩm thủ công truyền thống. Bởi lẽ, đặc trưng của những sản
phẩm này là không thể sản xuất hàng loạt dễ dàng và thường ngừi sản xuất tốn
rất nhiều sức lao động để có thể tạo ra một sản phẩm. Như vậy, đặc trưng này
dường như đối lập hoàn toàn với tính tất yếu của nên kinh tế thị trường. Và một
khi sản phẩm nào không thể đáp ứng được những yêu cầu của thị trường thì tính
tất yếu sẽ bị đào thải.
Thứ
hai là về lớp nghệ nhân kế tục trong các làng nghề truyền thống, lực lượng nghệ
nhân có trình độ tay nghề cao, có tâm huyết với nghề, là những hạt nhâm để duy
trì và phát triển làng nghề. Họ là cơ sở cho sự tồn tại bền vững của làng nghề
trước mọi thăng trầm và đẩm bảo duy trì những nét độc đáo truyền thống của các
làng nghề.
Vai trò của nghệ nhân có tính chất quyết định đến
sự tồn tại và phát triển của bất kỳ một làng nghề nào. Nghệ nhân được coi là
linh hồn của các làng nghề truyền thống. Thế nhngw hiện nay, nguy cơ thiếu lực
lượng nghệ nhân kế thừa đã trở thành một thực trạng khá phổ biến trong các làng
nghề truyền thống, không riêng gì làng gốm Bàu Trúc.
Qua
khảo sát thực tế về độ tuổi đang tham gia sản xuất tại làng gốm Bàu Trúc cho
thấy: (Bảng số liệu A2, phụ lục 2)
3.1.4. Để pháp triển làng nghề bền vững
3.2. Giải pháp quản lý làng nghề truyền thống gốm
Bàu Trúc ở Ninh Thuận
3.2.1. Giải pháp quy hoạch, kế hoạch
3.2.2. Giải pháp về nguồn vốn đầu tư, quản bá và
tìm kiếm thị trường
3.2.3. Giải pháp về tổ chức và quản lý nhà nước,
đạo tạo nguồn nhân lực
Tiểu
kết chương 3
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Ngọc An, Phan Xuân Biên, Phan Văn
Dốp (1991), Văn Hóa Chăm, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
2.
Bùi Văn
Vượng (2002), Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam, Nxb Văn hoá thông tin,
Hà Nội.
3.
Vũ Từ Trang (2001), Nghề cổ nước Việt Nam, Nxb Văn hoá
dân tộc, Hà Nội.
4.
Phạm Công Sơn (2004), Du khảo
nhân văn: làng nghề truyền thống Việt Nam” Nxb Văn Hoá Dân Tộc, Hà Nội.
5.
Nguyễn Văn Đại, Trần Văn Luận (1997), Tạo việc làm thông
qua khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
6.
Phan An, Phan Xuân Biên, Phan Văn Dốp (1991), Văn hoá
Chăm, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
7.
Phan Quốc Anh (2006), Nghi lễ vòng đời của người Chăm Ninh
Thuận, Nxb Van hoá dân tộc, Hà Nội.
8.
Inrasara (2008),
Văn hóa xã hội chăm nghiên cứu và đối thoại, Nxb Văn học, Hà Nội.
9.
Trần Ngọc Khánh (1981), Một số đặc trưng văn hoá dân tộc
trong nghề gốm và nghề dệt của người Chăm ở Thuận Hải”
10.
Trần Công Nguyện (1996), Nghề thủ công cổ truyền của
người Chăm ở Việt Nam, luận văn tốt nghiệp tiến sĩ tại Viện khoa học xã hội và
Nhân Văn
11.
Lê Minh Phong (1997), Làng gốm Chăm – Bàu Trúc tỉnh
Ninh Thuận, luận văn thạc sĩ Đại học Văn Hoá thành phố Hồ Chí Minh.
12.
Ban Chấp
hành trung ương (2014), Nghị quyết 33 của Hội nghị BCH Trung ương 9 khóa XI, hà
Nội.
13.
Bộ Nông
nghiệp và phát triển nông thôn (2006), Thông tư số 1/2007/TT-BCN, Hà Nội.
14.
Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn (2006), Thông
tư số 01/2007/TT-BCN, Hà Nội
15.
Văn Món (2001), Nghề gốm cổ truyền của người Chăm Bàu
Trúc – Ninh Thuận”, công trình nghiên cứu
16.
Luật di sản Văn hoá năm 2001 (sửa đổi bỏ sung 2009), Nxb
Chính trị Quốc gia
17.
Unesco (2003), Công ước quốc tế về di sản văn hoá
18.
Mai Thế
Hởn, Hoàng Ngọc Hòa (2003), Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb trẻ, TP.HCM.
19.
Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ lao động –
Thương binh xã hội và Bộ văn hoá – Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể Thao và Du
lịch) (2002), Thông tư liên tịch số 41/2002/TTLT/BNN-BLĐTBXH-BVHTT, hà Nội
20.
Bộ Công Nghiệp (nay là Bộ Công Thương) (2007), Thông
tư số 01/2007/TT-BCN, Hà Nội.
21.
Mai Thế Hởn, Hoàng Ngọc Hoà (2003), Phát triển làng
nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Trẻ,
TP.HCM
22.
Chương trình phối hợp Hội Nông dân – Sở Công nghiệp
(2006): Tài liệu tập huấn quy trình sản xuất gốm mỹ nghệ Bàu Trúc, Ninh Thuận.
23.
Hoàng Lương (1988), Hoa Văn Thái, Nxb Văn hoá Dân tộc
24.
Văn Món (2001), Nghề gốm cổ truyền của người Chăm Bàu
Trúc – Ninh Thuận, Nxb Văn hoá thông tin.
25.
Nguyễn Hồ
Phong (2009), Bảo tồn và phát triển làng nghề thổ cẩm Mỹ Nghiệp Ninh Thuận
trong nền kinh tế thị trường. Đề tài nghiên ccusw khoa học cấp khoa, trường Đại
hóc Văn hóa TP.HCM.
26.
Dương Bá
Phượng (2012), Phát triển bền vững vùng Trung Bộ, thực trạng, vấn đề và giải
pháp, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
27.
Võ Quang Trọng Bảo (2010), Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi
vật thể, Nxb Hà Nội, Hà Nội.
28.
Chính phủ (2018), Nghị định 52/2018/NĐ-CP về phát triển ngành nghề nông
thôn
29.
Đặng Kim Chi (2012), Làng nghề Việt Nam và Môi trường, Nxb Khoa học và Kỹ
thuật.
30.
Vũ Độ (2011), Phát triển làng nghề truyền thống ở Tp. Hồ Chí Minh: Mỗi
làng một sản phẩm, http://www.baohaiquan.vn, ngày 19/3/2016
31.
Mai Thế Hởn (2003), Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
32.
Nguyễn Kim Loan (chủ biên) (2014), Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa
Việt Nam, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.
33.
Nguyễn Thịnh (2012), Di sản văn hóa Việt Nam - Bản sắc và những vấn đề về
quản lý, bảo tồn, Nxb Xây dựng, Hà Nội
34.
Trần Quốc Vượng (1996), Kỷ yếu hội thảo quốc tế “bảo tồn và phát triển
làng nghề truyền thống Việt Nam”
35.
Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1999), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông
tin.
36.
Lê Chi Mai “Những vẫn đề cơ bản về chính sách và chính sách công” NXB Đại
học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh – 2001.
37.
Trần Thị Minh Châu (2007), Về chính sách khuyến khích
đầu tư ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội.
38.
Ban chấp hành trung ương (2014), Nghị quyết 33 của hội
nghị Ban chấp hành trung ương 9 khoá XI, Hà Nội.
39.
Thủ tướng Chính phủ (2004), Nghị định số
134/2004/NĐ-CP, Hà Nội.
40.
Thủ tướng Chính phủ (2005), Nghị định số 88/2005/NĐ-CP,
Hà Nội
41.
Thủ tướng Chính phủ (2006), Nghị định số 66/2006/NĐ-CP,
Hà Nội
42.
UBND tỉnh Ninh Thuận ( 2009 ), , Quyết định số
79/2009/QĐ-UBND, Ninh Thuận.
43.
Kỷ yếu hội thảo khoa học (2009), Nghề và làng nghề thủ
công truyền thống, tiềm năng và định hướng phát triển. Thừa Thiên Huế.
[A1]Lưu
ý hình thức trình bày phải chuẩn, phông chữ, cỡ chữ, căn lề page set up