2022_Phan Thị Thùy Trang_NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI CHĂM THÔN BÀU TRÚC, TỈNH NINH THUẬN

 

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA TP. HỒ CHÍ MINH

 

 

 

PHAN THỊ THÙY TRANG

 

 

NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG

LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG

CỦA NGƯỜI CHĂM THÔN BÀU TRÚC, TỈNH NINH THUẬN

 

 

Quản lý nghề làm gốm truyền thống của người chăm thôn Bàu Trúc ở tỉnh Ninh Thuận

 

 

 

                                      Chuyên ngành: Quản lý văn hóa

                                      Lớp: Quản lý văn hóa K8

                                      Mã số:

 

 

 

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

 

 

 

                                                                  Người hướng dẫn khoa học:

                                                                      PGS.TS: Phan Quốc Anh

 

 

 

 

 

 

 

 

Tp. Hồ Chí Minh – 2021

 

LỜI CAM ĐOAN

 

Tôi xin cam đoan luận văn là do tôi viết và chưa công bố. Các cứ liệu nêu ra trong luận văn là trung thực, khách quan. Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình.

 

                                                        Ninh Thuận, Ngày 6  tháng 6 năm 2021

                                                                                Học viên

 

 

 

 

 

                                                                      Phan Thị Thùy Trang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

LỜI CẢM ƠN

 

Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học văn hoá Thành phố Hồ Chí Minh, khoá Sau đại học, cùng các thầy cô đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên và truyền đạt cho tôi những kiến thức quí báo trong suốt chặn đường theo học lớp Cao học Quản lý văn hoá K8.

Xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS. TS. Phan Quốc Anh, là người thầy đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình nghiên cứu, thu nhập, phân tích tư liệu và hoàn thành đề tài này một cách tốt nhất.

Xin cảm ơn chính quyền địa phương, các nghệ nhân cao tuổi, Ban chủ nhiệm hợp tác xã khu phố, các cơ sở gốm tại làng Bàu Trúc đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi được tiếp cận các nguồn thông tin trong quá trình khảo sát thực tế.

Trong quá trình nghiên cứu dù đã có nhiều nổ lực cố gắng, tuy nhiên đề tài không tránh khỏi những hạn chế. Vì vậy, tôi rất mong nhận được các ý kiến, góp ý của hội đồng phản biện, các thầy cô giáo, các nhà khoa học, nhà quản lý, chuyên gia, bạn đọc quan tâm, để đề tài tiếp tục được hoàn thiện.

          Xin chân thành cảm ơn.

 

 

 

 

Lưu ý:

Hình thức trình bày. Theo hướng dẫn của trường. phông chữ, cỡ chữ, trang…

Dung lượng: số trang toàn luận văn

Phần mở đầu: Phương pháp nghiên cứu và lý thuyết nghiên cứu

Phỏng vấn: Qua điện thoại…

Đối tượng khảo sát…

 

Số trang của từng chương mục, phần mở đầu

Tài liệu tham khảo

Tiểu kết, kết luận…

Cách làm:

Xây dựng đề cương chi tiết

Chi tiết hóa đề cương

Mục 1.1.

1.1.1.

1.1.2.

1.1.2.1.

- ý 1

- ý 2

- ý 3 (tư liệu ở đâu…trích dẫn TLTK nào?

Khi đọc tài liệu tham khảo: Bôi vàng bôi đen (sử dụng vào mục 2.1.2…).

1.1.2.2.

--------

Viết danh mục TLTK

 

1.     Phan Quốc Anh (2007), Nghi lễ vòng đời của người Chăm Ahier tỉnh Ninh Thuận, Nxb VHDT, Hà Nội.

2.      

3.     PhAn An….

4.      

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN

NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG

LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG

CỦA NGƯỜI CHĂM THÔN BÀU TRÚC, TỈNH NINH THUẬN

 

 

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài[A1] 

Giới thiệu về làng nghề truyền thống Chăm Bàu Trúc

- Giới thiệu về làng nghề Truyền thống Chăm (gốm, dệt) và những giá trị văn hóa ….

- Một nghề truyền thống đang được đệ trình UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại cần bảo tồn cấp bách

- Giới thiệu những thực trạng đang gặp khó khăn trong công tác quản lý làng nghề

- Bên cạnh những đề tài nghiên cứu các mã ngành khác về nghề gốm Bàu Trúc, chưa có đề tài nào nghiên cứu về làng nghề gốm truyền thống Chăm Bàu Trúc dưới góc độ quản lý.

- Là người con sinh ra và lớn lên ở vùng đồng bào Chăm Ninh Phước, nên tôi chọn đề tài … làm luận văn tốt nghiệp cao học.

1.     Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Chia các nhóm vấn đề

1.1. Nhóm các tài liệu nghiên cứu về người Chăm, văn hóa Chăm[1][01,tr.40]

1.2. Nhóm các tài liệu Nghiên cứu về làng nghề truyền thống

1.3. Nhóm các tài liệu Nghiên cứu về làng nghề Bàu Trúc

1.4. Nhóm các văn bản quản lý nhà nước về làng nghề gốm Chăm Bầu Trúc (văn bản chỉ đạo của tỉnh ủy, UBND tỉnh, các sở: Sở NN PTNT, Sở Công thương (website làng nghề Chăm), Sở VHTTDL về việc xây dựng hồ sơ di sản văn hóa … UBND huyện NF, Thị Trấn Phước Dân, Ban QL Khu phố 7, Ban Chủ nhiệm HTX gốm Bàu Trúc…nhà trưng bày.

Các văn bản chỉ đạo về bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống của Việt Nam nói chung, của Ninh Thuận nói riêng…(lên mạng: Sở NN, Sở Công thương, Sở VĂN HÓA..

2.     Mục đích nghiên cứu

Mục đích 1: Thu thập tư liệu thành văn, khảo sát thực trạng làng nghề: Thuận lợi, khó khăn, nguyên nhân

Muc đích 2: Tìm ra những giải pháp đề nâng cao hiệu quả quản lý làng nghề

3.     Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Nghệ nhân và bà con sinh sống bằng nghề làm gốm truyền thống Chăm ở làng Bàu Trúc (bao nhiêu hộ? khẩu? tỷ lệ sống bằng nghề gốm…)

Đối tượng khảo sát:

- Nghệ nhân làng nghề

- Cán bộ trong hệ thống chính trị, các ban ngành cấp tỉnh liên quan như Sở VHTTDL Sở Công thương, Sở Nông nghiệp phát triển nông thôn, lãnh đạo huyện Ninh Phước, lãnh đạo thị trấn, ban chủ nhiệm Hợp tác xã Gốm

4.     Phương pháp nghiên cứu

Đọc các luận văn đi trước tương đồng (em xem thêm các luận văn khác để làm mục lý thuyết nghiên cứu mà em còn thiếu)

5.     Đóng góp của luận văn

Đóng góp về mặt lý luận

…………………………

Đóng góp về mặt thực tiễn

……………………….

6.     Kết cấu của luận văn

 

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN

 

1.1.           Cơ sở lý luận

1.1.1.   Khái niệm văn hóa

1.1.2.   Khái niệm làng nghề truyền thống

1.1.3.   Khái niệm quản lý, quản lý làng nghề truyền thống

1.2. Cơ sở thực tiễn

1.2.1. Khái quát về làng nghề truyền thống Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận

1.2.1.1. Làng nghề truyền thống Chăm ở Ninh Thuận (làng nghề dệt, nghề gốm)

1.2.1.2. Làng nghề truyền thống Chăm ở Bình Thuận (làng nghề dệt nghề gốm)

1.2.2. Tổng quan về làng nghề gốm truyền thống Chăm thôn Bàu Trúc

1.2.2.1. Điều kiện tự nhiên (Điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý, điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, điều kiện sản xuất;...có ruộng đất sét...nguyên liệu làm gốm...

1.2.2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội (Dân số, hộ, khẩu, văn hóa, tôn giáo,,,điều kiện kinh tế, số hộ làm nghề gốm, tỷ lệ...các nghề khác... thu nhập bình quân đầu người...)

1.2.2.2.

1.2.2.3.

                        Tiểu kết chương 1

Tiểu kết chương không phải là tóm tắt chương. Chương đó đã giải quyết được vấn đề gì? Đúc kết được cái gì?

 

CHƯƠNG 2: Thực trạng quảnlàng nghề gốm truyền thống của người Chăm Bàu Trúc.

(Em nên tham khảo ở một số luận văn khác có nội dung tương tự)

2.1. Lịch sử hình thành và phát triển nghề gốm truyền thống Chăm

2.1.1. Lịch sử hình thành

2.1.2. Nghề làm gốm truyền thống Chăm

2.1.2.1. Khái quát quy trình sản xuất và các loại hình sản phẩm

2.1.2.2. Các giá trị văn hóa nghề làm gốm…(giá trị lịch sử, giá trị nghệ thuật, giá trị bản sắc văn hóa Chăm, giá trị xã hội, giá trị kinh tế…)

2.2. Công tác quản lý làng nghề truyền thống Chăm

2.2.1. Những thành tựu trong hoạt động quản lý làng nghề ….

 

Nguyên nhân

TW, tỉnh rất quan tâm

 

2.2.2. Những hạn chế trong hoạt động quản lý… nguyên nhân

-

-

-

Tiểu kết chương 2

 

Chương 3: Những đề xuất, khuyến nghị và các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý làng nghề gốm truyền thống Chăm Bàu Trúc ở tỉnh Ninh Thuận.

 

3.1. Quan điểm và định hướng phát triển làng nghề gốm

3.1.1. Quan điểm về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa làng nghề gốm truyền thống Chăm Bầu Trúc. (đến các sở sưu tầm văn bản chỉ đạo)

- Quan điểm chỉ đạo về văn hóa (Sở VHTTDL), trong đó dự báo sẽ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại….

- Văn bản chỉ đạo về phát triển làng nghề (sở Công thương và sở Nông nghiệp)

- Văn bản chỉ đạo về xây dựng nông thôn mới. (tư liệu lấy ở Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới – sở Nông nghiệp phát triển nông thôn, Phòng Kinh Tế hạ thần UBND huyện Ninh Phước, UBND thị trấn Phước Dân, BQL KP7 thị trấn Phước dân.

3.1.2. Định hướng phát triển (lưu ý thời gian)

Quy hoạch phát triển làng nghề…

Dự báo phát triển trong thời gian tới (10 năm)

 

3.2. Giải pháp quản lý làng nghề truyền thống gốm Bàu Trúc ở Ninh Thuận

Mục này em tham khảo thêm ở các luận văn khác có nội dung tương tự

3.2.1. Giải pháp quy hoạch, kế hoạch

3.2.2. Giải pháp nâng cao nguồn lực

3.2.2.1. Nguồn lực vốn đầu tư, quảng bá và tìm kiếm thị trường

3.2.2.2. Giải pháp nâng cao nguồn nhân lực

3.2.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý làng nghề

- Về tổ chức, bộ máy (BQL Khu phố 7, Ban Chủ nhiệm HTX

- Đổi mới phương thức tổ chức, quản lý các hoạt động làng nghề và nhà trưng bày của HTX.

Tiểu kết chương 3

 

KẾT LUẬN

====================================================

 

 

Chương 3: Nâng cao hiệu quả quản lý và đề xuất giải pháp pháp triển nghề làm gốm truyền thống Chăm Bàu Trúc ở tỉnh Ninh Thuận.

3.1. Văn bản quản lý nhà nước và các chính sách về việc quản lý và phát triển làng nghề truyền thống.

3.1.1. Văn bản quản lý nhà nước và các chính sách từ trung ương

3.1.2. Văn bản quản lý nhà nước và cụ thể hoá chính sách tại địa phương

3.1.3. Những vấn đề trong quá trình hội nhập

3.1.4. Để pháp triển làng nghề bền vững

3.2. Giải pháp quản lý làng nghề truyền thống gốm Bàu Trúc ở Ninh Thuận

3.2.1. Giải pháp quy hoạch, kế hoạch

3.2.2. Giải pháp về nguồn vốn đầu tư, quản bá và tìm kiếm thị trường

3.2.3. Giải pháp về tổ chức và quản lý nhà nước, đạo tạo nguồn nhân lực

 

 

 

 

tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1. Cơ sở lý luận về làng nghề truyền thống

1.1.1.      Khái niệm

1.1.2.      Vai trò của làng nghề truyền thống trong việc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp , nông thôn.

1.2. Khái quát về làng nghề truyền thống gốm Bàu Trúc

1.2.1.      Điều kiện tự nhiên

1.2.2.      Điều kiện xã hội

Tiểu kết

Chương 2: Thực trạng quản lý nghề làm gốm truyền thống của người Chăm Bàu Trúc.

2.1. Đặc điểm gốm Bàu Trúc

2.1.1. Qui trình sản xuất và các loại hình sản phẩm

2.1.2. Ý nghĩa các hoa văn trên gốm Bàu Trúc

2.2. Thực trạng hoạt động của làng nghề gốm Chăm Bàu Trúc

2.3. Thực trạng quản lý làng nghề gốm Chăm Bàu Trúc

Chương 3: Nâng cao hiệu quả quản lý và đề xuất giải pháp pháp triển nghề làm gốm truyền thống Chăm Bàu Trúc ở tỉnh Ninh Thuận.

3.1. Văn bản quản lý nhà nước và các chính sách về việc quản lý và phát triển làng nghề truyền thống.

3.1.1. Văn bản quản lý nhà nước và các chính sách từ trung ương

3.1.2. Văn bản quản lý nhà nước và cụ thể hoá chính sách tại địa phương

3.1.3. Những vấn đề trong quá trình hội nhập

3.1.4. Để pháp triển làng nghề bền vững

3.2. Giải pháp quản lý làng nghề truyền thống gốm Bàu Trúc ở Ninh Thuận

3.2.1. Giải pháp quy hoạch, kế hoạch

3.2.2. Giải pháp về nguồn vốn đầu tư, quản bá và tìm kiếm thị trường

3.2.3. Giải pháp về tổ chức và quản lý nhà nước, đạo tạo nguồn nhân lực

 

MỞ ĐẦU

 

1. Tính cấp thiết của đề tài 

Trong quá trình lao động sản xuất để tồn tại và phát triển, các cộng đồng dân tộc đã sản sinh ra nhiều giá trị văn hóa độc đáo về bản sắc. Trong đó, nghề làm gốm của người Chăm tại làng Bàu Trúc thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận là một ví dụ điển hình. Sự tồn tại và phát triển của các làng nghề truyền thống không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế, cải thiện đời sống vật chất của người dân, giải quyết phần lớn lực lượng lao động tại chỗ, hạn chế vấn đề di dân mà còn góp phần quan trọng trong việc giữ gìn, phát huy những giá trị đạo đức, văn hóa truyền thống.

Tuy nhiên trong quá trình sản xuất, làng nghề gặp không ít khó khăn và trở ngại như: hoạt động sản xuất mang tính chất cầm chừng, có nguy cơ biến mất vì tính kế thừa đang dần mai một. Đứng trước những thực trạng đáng lo ngại này, học viên chọn đề tài “Quản lý nghề làm gốm truyền thống của người chăm thôn Bàu Trúc ở thị trấn Phước Dân, huyện ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận” với mong muốn góp phần tìm ra những giải pháp khả thi khôi phục, phát triển nghề làm gốm truyền thống của người Chăm ở Ninh Phước, Ninh Thuận trong bối cảnh kinh tế xã hội thay đổi của hiện tại.

2.      Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Phần này phải viết lại hoàn toàn vì em không nắm được tư liệu

 

Làng nghề truyền thống từ lâu là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước. Tính đến nay đã có rất nhiều công trình viết về nghề và làng nghề truyền thống ở Việt Nam như :

PGS.TS Nguyễn Viết Sự với công trình : “ Tuổi trẻ với nghề truyền thống Việt Nam” do nhà xuất bản Thanh niên ấn hành năm 2001. Nội dung công trình thể hiện cá nhìn cái quát về nghề truyền thống Việt Nam, qua đó tác giả đi sâu vào tìm hiểu một số nghề truyền thống thuộc lĩnh vực mỹ nghệ, trong đó có nghề làm gốm.

Công trình “ Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” của tác giả Bùi Văn Vượng [2] đã đưa ra một số khái niệm nghề thủ công, làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam, cung cấp thông tin cho đoc giảvề 16 làng nghề nổi tiếng trải dài 3 miền Nam Bắc.

Trong tác phẩm “Nghề cổ nước Việt Nam” tác giả Vũ Từ Trang [3] đã nêu một cách khái quát về lịch sử hình thành nghề thủ công Việt Nam, đồng thời đưa ra một số khái niệm làng nghề, phường nghề và công nghệ của làng nghề.

Tác giả Phạm Công Sơn với công trình: “ Du khảo nhân văn: làng nghề truyền thống Việt Nam” do nhà xuất bản Văn Hoá Dân Tộc ấn hành năm 2004 [4]. Có khoảng 80 làng nghề của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được tác giả tập trung miêu tả và phân tích.

          Ngoài ra, việc phát triển làng nghề truyền thống theo hướng phát triển bền vững trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước hay khái niệm về phát triển bền vững với văn hoá cũng đã được các nhà nghiên cứu quan tâm, biểu hiện có một số công trình như : trong tác phẩm “ Tạo việc làm thông qua khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống” của nhóm tác giả Nguyễn Văn Đại và Trần Văn Luận [5], với những thông tin phong phú và sinh động từ những kết quả nghiên cứu trong quá trình công tác thực tiễn đã phần nào khắc hoạ những bước phát triển thăng trầm và những kết quả đã đạt được, những tồn tại khó khăn cần tháo gỡ để đưa các ngành nghề truyền thống ở Việt Nam phát triển một cách bền vững trong nên kinh tế thị trường. Trong tác phẩm “Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá” của tác giả Mai Thế Hởn, Hoàng Ngọc Hoà, Vũ Văn Phúc [13] đã nghiên cứu, làm rõ phạm trù làng nghề truyền thống, đặc điểm hình thành và vị trí, vai trò của làng nghề truyền thống đối với phát triển kinh tế - xã hội qua các thời kỳ lịch sử. Bên cạnh đó, tác phẩm còn phân tích đánh giá tiềm năng, thực trạng của việc phát triển làng nghề truyền thống trong những năm đổi mới và những tồn tại cần khắc phục, vạch rõ những phương hướng và đề xuất những giải pháp đồng bộ có tính xác thực nhằm phát triển làng nghề truyền thống.

Đặc biệt, có một số công trình nghiên cứu trực tiếp và quan trọng đã cung cấp những thông tin, tư liệu tổng hợp giới thiệu những nét văn hoá đặc trưng và làng nghề truyền thống gốm chăm nói riêng như: công trình “Văn hoá Chăm” do tác giả Phan Xuân Biên làm chủ biên [6] đã phát thảo một bức tranh toàn cảnh về các loại hình và các dạng thức văn hoá Chăm với những đặc trưng phong phú đa dạng trong suốt tiến trình lịch sử phát triển. Trong tác phẩm “ Văn hoá – xã hội Chăm nghiên cứu và đối thoại” của tác giả Inrasara [8] là tập hợp những bài viết, nghiên  một phần tác giả phân tích riêng thực trạng và giải pháp về nghề làm gốm truyền thống của người Chăm Bàu Trúc tại Ninh Thuận.

Ngoài những tác phẩm kể trên thì còn có rất nhiều luận văn tốt nghiệp, khoá luận, bài viết, bài tham luận về văn hoá, du lịch đã nghiên cứu về làng nghề gốm truyền thống Chăm Bầu Trúc điển hình như :

Trần Ngọc Khanh [9] đã khảo sát nghề gốm Bàu Trúc trong luận văn tốt nghiệp đại học đề tài “ Một số đặc trưng văn hoá dân tộc trong nghề gốm và nghề dệt cổ truyền của người Chăm ở Thuận Hải”. Trong luận văn này, tác giả đã khảo tả làng gốm của người Chăm ở Bàu Trúc - Trì Đức và làng dệt Mỹ Nghiệp.

Trần Công Nguyện [10] viết về gốm Chăm, nhưng chủ yếu giới thiệu làng gốm Bàu Trúc - trong tác phẩm người Chăm Thuận Hai do VHTT - Thuận Hải ấn hành. Tiếp đó, năm 1996, tác giả lây đề tài này thành một luận văn phố tiến sĩ ngành Dân tộc học, lấy tên luận văn là “ Nghề thủ công cổ truyền của người Chăm” bảo vệ tại hội đồng chấm luận án quốc gia tại Viện Khoa học Xã Hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung luận văn của tác giả dành nhiều sự quan tâm cho làng dệt Mỹ Nghiệp, gốm Bàu Trúc chỉ là một phần nội dung của luận văn.

Lê Minh Phong [11] đã chọn gốm Bàu Trúc làm nội dung chính cho luận văn thạc sĩ của mình với đề tài “ Làng gốm Chăm – Bàu Trúc tỉnh Ninh Thuận”. Ở đề tài này gốm Chăm Bàu Trúc là đối tượng duy nhất được mô tả trong nội dung của luận văn. Tác giả miêu tả khái quát về lịch sử làng nghề, các giá trị văn hoá và sản phẩm tại làng nghề, khái quát về những nét hoa văn truyền thống, cũng như đưa ra những kiến nghị và giải phát phát triển làng nghề.

Tác giả Văn Món [15] đã bảo vệ thành công công trình nghiên cứu “ nghề gốm cổ truyền của người Chăm Bàu Trúc – Ninh Thuận”, công trình do chính phủ tài trợ sáng tạo đã đêm lại cho làng gốm Bàu Trúc những bước tiến khả quan.

Có thể thấy rằng, những đề tại viết về nghề thủ công truyền thống của người Chăm nói chung và nghề làm gốm truyền thống Bầu Trúc nói riêng đã được quan tâm và nghiên cứu nhiều. Nhưng những công trình này. Chưa đề cập sau đến vấn đề quản lý làng nghề, chưa phân tích những yếu tố tác động và các nhóm giải pháp cụ thể. Trong giai đoạn hiện nay, làng nghề truyền thống đang đứng trước những thách thức lớn, với nhiều sự thay đổi, tátc động từ cơ chế kinh tế thị trường trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Vì vậy việc tổng hợp, đánh giá và phân tích thực trạng hoạt động của làng nghề để đưa ra những đề xuất về định hướng quản lý, giải pháp tích cực nhằm hướng làng nghề làm gốm Chăm truyền thống của người Chăm thôn Bàu Trúc theo hướng phát triển bền vững là rất cần thiết. Vì lý do đó, học viên đã quyết định chọn nội dung: Quản lý nghề làm gốm truyền thống của người Chăm Bàu Trúc ở Ninh Thuận” làm hướng nghiên cứu của mình.                 

3.      Mục đích nghiên cứu

Nhận diện những thuận lợi và thách thức trong quá trình phát triển nghề làm gốm của người Chăm ở Ninh Phước hiện nay.

Giới thiệu nét độc đáo và riêng biệt về làng nghề làm gốm của Người Chăm ở Ninh Thuận.

Tìm ra những giải pháp khả thi, cho sự phát triển nghề làm gốm của người Chăm ở Ninh Phước trong tương lai.

Nhằm kêu gọi sự quan tâm của các cơ quan chức năng trong việc phát triển làng nghề.

                                                                                                                                             

          4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: làng nghề truyền thống gốm Bàu Trúc.

- Không gian nghiên cứu: làng nghề gốm tại làng Bàu Trúc, thị Trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

- Thời gian nghiên cứu: nghiên cứu từ năm 2015 đến năm 2020.

5. Phương pháp nghiên cứu

          Để chọn phương phấp nghiên cứu phù hợp cho đề tài này, Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu có tính liên ngành của khoa học xã hội và nhân văn. Trong đó vận dụng linh hoạt các phương pháp nghiên cứu của dân tộc học, nhân học văn hoá và văn hoá học. Các phương pháp điền dã dân tộc học (quan sát, quan sát tham dự, phỏng vấn sâu…) phân tích tài liệu, thống kê, so sánh… là những phương pháp được sử dụng trong luận văn.

          Thực hiện đề tài này, sau khi sưu tầm, phân tích, tổng hợp các nguồn tài liệu từ sách, báo in, báo điện tử, tạp chí, bài giảng… chúng tôi tiến hành khảo sát, điền dã thực tế để so sánh, đối chiếu các nguồn tư liệu khác nhau, từ đó làm rõ nội dung nghiên cứu của luận văn.

6. Đóng góp của luận văn

          Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng, những thực trạng, những thuận lợi, khó khăn, những cơ hội, thách thức nghề làm gốm của người Chăm tại địa phương trong quá trình phát triển. Luận văn đề xuất chính sách quản lý làng nghề truyên thống.

Khảo sát thực tế, đánh giá một cách khách quan, thực trạng hoạt động và những tiềm năng phát triển của làng nghề gốm truyền thống của người Chăm Bàu Trúc ở Ninh Thuận.

Đưa ra những đề xuất, chương trình và dự án cụ thể trong việc quản lý và phát triển làng nghề truyền thống của người Chăm theo hướng phát triển bền vững tại địa phương.

7. Bố cục các chương

Để đạt được các mục đích nghiên cứu, chúng tôi xây dựng bố cục của luận văn gồm 3 chương:

·        Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu

·        Chương 2: Thực trạng quản lý nghề làm gốm truyền thống của người Chăm Bầu Trúc.

·        Chương 3: Nâng cao hiệu quả quản lý và đề xuất giải pháp triển nghề làm gốm truyền thống của người Chăm Bàu Trúc ở tỉnh Ninh Thuận.

 

 

 

 

Chương 1

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.    Cơ sở lý luận

1.1.1      Khái niệm

Văn hoá là một khái niệm thể hiện hoạt động sáng tạo. chỉ riêng con người mới có, con người là chủ thể sáng tạo văn hoá gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Văn hoá là một khái niệm có ngoại diên rất rộng, bao gồm nhiều loại đối tượng, tính chất và hình thức biểu hiện khác nhau. Khác niệm văn hoá có hàng trăm các định nghĩa khác nhau, căn cứ vào gốc độ tiếp cận của các nhà nghiên cứu, phản ánh những hướng quan tâm khác nhau đến sự phong phú, đa dạng của văn hoá. Ở phương Tây, theo tiếng Anh và tiếng Pháp “ Culture” đều xuất phát từ chữ La tinh. “ Culture” có nghĩa là sự khai hoang, trồng trọt, sự vun trồng, sau đó từ culture được mở rộng nghĩa, dùng trong lĩnh vực xã hội chỉ sự vun trồng, giáo dục về mặt tinh thần của con người. Ở phương Đông, trong tiếng Hán cổ, từ “ văn hoá”, bao gồm “Văn” là vẻ đẹp nhân tính, trí tuệ con người, “ hoá” là dạy dỗ, cảm hoá, từ đó hình thành quan niệm “ văn trị hoá giáo” của người Truung Quốc. Như vậy, trong từ của Phương đông và phương Tây, “văn hoá” đều có chung một nghĩa căn bản là sự giáo hoá, vun trồng nhân cách con người.

          Theo Fiderico Mayor, nguyên tổng giám đốc UNESCO: “ văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của từng dân tộc”.

          Hồ Chí Minh cho rằng: “ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đực, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá”.

          Tác giả Trần Ngọc Thêm quan niệm về văn hoá: “Văn hoá là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự trương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”.

          Như vậy, có thể xem văn hoá là toàn bộ những sản phẩm do con người sáng tạo ra, có giá trị, phù hợp với cộng đồng. Được cộng đồng chấp nhận, lưu truyền và sử dụng cho đến ngày hôm nay.

          Khái niệm di sản văn hoá:

Di sản văn hoá quy định tại luật di sản văn hoá năm 2001( được bỏ sung năm 2009) bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử,văn hoá, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.[16, tr.32-33]

Di sản văn hoá phi vật thể

Công ước quốc tế về di sản văn hoá phi vật thể của UNESCO được đưa ra tại cuộc họp tại hội đông, phiên họp thứ 32 tại Pari từ ngày 29/09 đến ngày 17/10 năm 2003 đã đưa ra công ước về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể. Cụ thể như sau: “Di sản văn hoá phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, kỹ năng kèm theo đó là những công cụ, những đồ vật, đồ tạo tác và không gian văn hoá liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số là trường hợp là cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hoá của họ. Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hoá phi vật thể được cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối phương với đa dạng văn hoá và tinh thần sáng tạo của con người”.

          Từ định nghĩa trên, UNESCO xác định di sản văn hoá phi vật thể thể hiện ở những loại hình sau [17, tr.3]:

-         Các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu, trong đó có ngôn ngữ là phương tiện của di sản văn hoá phi vật thể;

-         Nghệ thuật trình diễn;

-         Tập quán xã hội, tín ngưỡng và các lễ hội;

-         Tri thức và tập tục liên quan đến tự nhiên và vũ trụ;

-         Nghề thủ công truyền thống.

Ở Việt Nam, khái niệm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể. Được quy định tại điều 4 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sản văn hoá như sau:

Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác.[16,tr.40-41]

Như vậy, cả công ước quốc tế về Di sản văn hoá phi vật thể và Luật di sản văn hoá, nghề thủ công truyền thống là một trong những loại hình của di sản văn hoá phi vật thể của cộng đồng. Nghề thủ công và các chủ thể sáng tạo, lưu truyền là đối tượng cần được bảo tồn và phát huy.

 

 

Khái niệm quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống

-         Khái niệm quản lý:

Quản lý gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội, nên trong thực tế có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý; nhân có một cách tiếp cận được sự ủng hộ của nhiều nhà khoa học và nhà quản lý thực tiễn, đó là quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu dự kiến [6, tr.9].

-         Khái niệm quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng pháp luật làm công cụ quản chủ yếu nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Những hoạt động này nhằm đảm bảo cho hệ thống pháp luật quốc gia đi vào cuộc sống. Đây là chức năng cơ bản của nhà nước. Hoạt động quản lý nhà nước đạt hiệu quả cao phải trên cơ sở bảo đảm tính khoa học về hoạch định, tổ chức, điều hành, kiểm tra, giám sát [18, tr.62]

-         Khái niệm quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống

Quản lý đối nhà nước đối với làng nghề truyền thống là việc áp dụng hệ thống các công cụ quản lý bao gồm pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch tác động vào đối tượng quản lý để hướng dẫn các làng nghề truyền thống của địa phương phát triển theo định hướng đã đặt ra trên cơ sở sử dụng hiệu quả các nguồn lực nhà nước.

Quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống nhằm phát triển làng nghề theo mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, quốc gia và kiểm soát làng nghề phát triển một cách bền vững. Vì vậy, để quan lý làng nghề, nhà nước dùn các công cụ như pháp luật, chính sách,… trong hoạt động quản lý nhà nước; cụ thể như:

+ Thông qua hệ thống pháp luật, một mặt, nhà nước tuyên bố các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể hoạt động trong làng truyền thống, đặc biệt là quyền và nghĩa vụ, chính sách của các cơ quan quản lý nhà nước đối với làng nghề. Nếu hệ thống luật pháp tiến bộ và phù hợp, sẽ khuyến kích làng nghề phát triển. Ngược lại, hệ thống luật pháp lạc hậu, bảo thủ sẽ cản trở sự phát triển của làng nghề truyền thống.

+ Quản lý nhà nước không chỉ nhằm kiểm soát làng nghề truyềnt hống mà quan trọng hơn là định hướng cho làng nghề truyền thống phát triển. Trong hoạt động quản lý, nhà nước cần có các chiến lược, quy hoạch để định hướng cho các làng nghề phát triển một cách bền vững. Mặc khác, có qui hoạch, nhà nước mới kiểm tra, kiểm soát được sự phát triển của làng nghề truyền thống, từ đó có các chính sách điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế.

 

 

 

Khái niệm quản lý văn hóa

Quản lý văn hóa thường được xem là một hoạt động đặc thù. Tuy mang tính đa ngành, có mối quan hệ chặt chẽ với khoa học quản lý nói chung và nhiều ngành như xã hội học, nhân học, kinh tế học... quản lý văn hóa vẫn chứa đựng nhiều sự khác biệt so với hoạt động quản lý của các ngành khác. Bản chất các hoạt động giao dịch trong quản lý văn hóa không phải là bán hàng như trong quản lý kinh tế mà là thiết kế các hợp đồng về nghệ thuật. Các mục tiêu, ưu tiên và giá trị trong quản lý văn hóa cũng có những điểm khác biệt . Theo tác giả Bùi Hoài Sơn cho rằng Quản lý văn hoá là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc vận hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hoá, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương nói riêng, cả nước nói chung. Cũng theo tác giả Bùi Hoài Sơn: Về mặt lý thuyết thì mỗi một giai đoạn xã hội cụ thể đòi hỏi có một hình thức quản lý phù hợp. Hình thức quản lý tiền kiểm không phải là hoàn toàn không có tác dụng nhưng ở bối cảnh hiện nay thì rõ ràng cách quản lý này không phù hợp. Xã hội hiện nay hiện nay coi trọng sự tự do sáng tạo của cá nhân, các nghệ sĩ, xã hội cũng phức tạp, đa dạng, biến đổi nhanh chóng hơn nhiều so với xã hội trước kia. Trình độ xã hội cũng cao hơn trước; sự phổ biến của mạng xã hội; hội nhập quốc tế sâu rộng... Tất cả đòi hỏi phải có một cách tiếp cận mới đối với chính sách quản lý văn hoá để đáp ứng với bối cảnh xã hội đó.

Làm sao để quản lý văn hoá không chỉ đóng vai trò duy nhất là kiểm soát sự phát triển của văn hoá mà quan trọng hơn phải trở thành công cụ để tạo điều kiện hỗ trợ cho sự phát triển văn hoá. Như vậy có thể hiểu, Quản lý văn hoá là sự quản lý của Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hoá của quốc gia bằng quyền lực của nàh nước thông qua hiến pháp, pháp luật và cơ chế chính sách nhằm bảo đảm sự phát triển của nền văn hoá dân tộc đi song hành cùng sự tăng trưởng của nền kinh tế và sự tiến bộ xã hội, để quản lý văn hoá không chỉ đóng vai trò kiểm soát mà còn là công cụ hỗ trợ cho sự phát triẻn văn hoá.

Khái niệm quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về văn hoá:

Quản lý nhà nước trong cuốn giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, các tác giả nêu khái niệm về quản lý nhà nước như sau:

Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp của nhà nước, đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng pháp luật nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong công cuộc chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Quản lý nhà nuớc bao gồm toàn bộ các hoạt động từ việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật như: Luật, Nghị định, Thông tư và các văn bản mang tính luật đến việc giám sát, chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tuợng quản lý. Hoạt động quản lý nhà nước do các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương tiến hành. Bất kỳ hoạt động kinh doanh nào cũng cần có sự quản lý nhà nước và tổ chức.

Cũng theo Giáo trình Luật hành chính Việt Nam của truờng Đại học Luật Hà Nội có định nghĩa về quản lý nhà nước: Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành, điều hành của cơ quan hành chính nhà nước, của các cơ quan nhà nước khác và các tổ chức được nhà nước ủy quyền quản lý trên cơ sở của luật và để thi hành luật nhằm thực hiện chức năng tổ chức, quản lý, điều hành các quá trình xã hội của nhà nước. Như vậy, quản lý nhà nước được hiểu là sự tác động có tổ chức và được điều chỉnh bằng quyền lực của nhà nuớc đối với quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm để duy trì, phát triển các mối quan hệ của xã hội, quy định pháp luật nhằm thực hiện những nhiệm vụ, chức năng của nhà nuớc.Hoạt động quản lý nói chung, quản lý nhà nước nói riêng là sự tác động giữa chủ thể quản lý lên khách thể quản lý (đối tượng quản lý). Có nghĩa là ai quản lý, quản lý ai? Quản lý cái gì? Quản lý bằng cái gì? (Công cụ quản lý), Quản lý bằng cách nào? (phương thức quản lý). Quản lý nhà nước có các đặc điểm sau đây:- Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan, công chức trong bộ máy nhà nước được trao quyền lực công, gồm: Quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp.

- Đối tượng quản lý của nhà nước là tất cả các cá nhân, tổ chức sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổi quốc gia.- Quản lý nhà nước có tính toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: Chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao…

- Mục tiêu của quản lý nhà nước là phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển bền vững của xã hội.Quản lý nhà nước về văn hóa:Quản lý nhà nước về văn hoá là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật và bộ máy của mình, nhằm phát triển văn hóa, điều chỉnh hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực văn hóa và liên quan, với mục đích giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.Chủ thể quản lý nhà nước về văn hóa là Nhà nước.

Nhà nước Việt Nam được tổ chức thống nhất từ Trung ương đến các địa phương, quyền quản lý được phân cấp: Cấp trung ương, cấp tỉnh (tỉnh và các thành phố trực thuộc Trung ương), cấp huyện (huyện thuộc tỉnh, quận thuộc thành phố), cấp xã (xã thuộc huyện, phường thuộc quận). Quản lý nhà nước về văn hóa ở cấp nào thì cơ quan nhà nước cấp ấy là chủ thể quản lý. Quản lý nhà nước về văn hóa ở cấp xã thì ủy ban nhân dân xã là chủ thể quản lý nhà nước. Công chức làm công tác văn hóa - xã hội ở cấp xã có trách nhiệm giúp ủy ban nhân dân cấp xã quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn cấp xã.

Khái niệm làng nghề truyền thống

Các làng nghề truyền thống ở nước ta có từ lâu đời vời hàng nghề khác nhau. Từ xa xưa, nghề truyền thống luôn gắn bó với cư dân Việt Nam trong quá trình sản xuất nông nghiệp, sản phẩm của các làng nghề truyền thống trước hết để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và đời sống với trình độ thẩm mỹ ngày càng được nâng cao. Khi sản xuất chưa phát triển, các nghề truyền thống mang tính chất tự cung tự cấp, đáp ứng nhu cầu của một cộng đồng người nhất định, phạm vi bó hẹp do nhiều nguyên nhân khác nhau. Sau này khi mà sản xuất đã phát triển, nhu cầu xã hội ngày càng tăng, lúc đó mới hình thành nên các làng chuyên nghề. Sản phẩm của các làng nghề truyền thống ở nước ta đã nổi tiếng từ xa xưa và được xuất khẩu sang nhiều quốc gia trên thế giới từ thế kỷ thứ 14, thế kỉ 15. Sản phẩm nghề truyền thống vừa có giá trị kinh tế cao, vừa mang đậm bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc, là cầu nối giữa dân tộc ta với các dân tộc khác. Các nghề truyền thống có khả năng thu hút nhiều lao động, góp phần tích cực trong việc giải quyết việc làm ở cả thành thị và nông thôn. Phát triển nghề truyền thống sẽ tạo thêm nhiều sản phẩm đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, tăng thu nhập quốc dân, tăng nguồn tích luỹ ngoại tệ cho đất nước[5].

Truyền thống là thuật ngữ dùng để chỉ các giá trị, yếu tố, quan niệm của một cộng đồng người hay của xã hội lưu giữ trong một thời gian dài từ thế hệ này qua thế hệ khác. Truyền thống thể hiện tính kế thừa là chủ yếu, tuy nhiên cũng có sự phát triển theo lịch sử [5]. Truyền thống được biểu hiện ở hình thức như truyền thống hộc tập, lễ hội truyền thống, truyền thống dòng họ, nghề truyền thống. Khái niệm “Làng nghề truyền thống được khái quát dựa trên hai khái niệm : “Làng nghề” và “ Ngành nghề truyền thống”.

Khái niệm làng nghề:

Làng nghề là một thiết chế xã hội có từ rất lâu đời trong lịch sử nước ta, nó cũng thăng trầm cùng với quá trình phát triển của một dân tộc. Nói đến đến làng nghề cần chú ý trước tiên đến hai nhân tố cấu thành, đó là làng và nghề [5]. Trong quá trình phát triển của lịch sử, làng xã Việt Nam có vị trí hết sức quan trọng trong sản xuất, cũng như đời sống dân cư ở nông thôn. Qua những biến động thăng trầm, những lệ làng, phép nước và phong tục tập quán ở nông thôn vẫn được duy trì, phát triển đến nay. Làng xã Việt Nam thường gắn liền với nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Theo kết quả nghiên cứu sử học: “ Làng xã Việt Nam, xuất hiện từ thời các vua Hùng Vương dựng nước, những xóm làng định cư đã hình thành, dựa trên những cơ sở công xã nông thôn. Mỗi công xã gồm một số gia đình sống quay quần trong một khu vực địa giới nhất định. Đồng thời Làng là nơi gắn bó các thành viên với nhau bằng khế ước sinh hoạt cộng đồng, tâm thức tính ngưỡng, lễ hội, tập tục, luật lệ riêng nhằm liên kết với nhau trong quá trình sản xuất và đời sống” [19]. Cùng với quá trình phát triển đời sống kinh tế xã hội đòi hỏi sự hình thành và phát triển các nghề thủ công phục vụ nhu cầu bản thân của con người. Làng xã Việt Nam là nơi sản sinh ra nghề thủ công truyền thống và các sản phẩm mang dấu ấn tinh hoa của nền văn hoá, văn minh dân tộc. Quá trình phát triển của làng nghề là quá trình phát triển của tiểu thủ công nghiệp ở nong thôn. Lúc đầu sự phát triển đó từ một vài gia đình, rồi đến cả họ và sau đó lan ra cả làng. Thông qua lệ làng mà làng nghề định ra những quy ước như: không truyền nghề cho người làng khác, không truyền nghề cho con gái, hoặc uống rượu không thể, không để lộ bí quyết nghề nghiệp. Một số quan niệm về làng nghề:

Quan niệm thứ nhất: “ Làng nghề là nơi mà hầu hết mọi người trong làng đều hoạt động cho nghề ấy và lấy đó làm nghề sống chủ yếu. Nhưng với quan niệm như vậy thì làng nghề ấy hiện nay không còn nhiều” [19,tr.11].

Quan niệm thứ hai: Làng nghề là làng nghề cổ truyền làm nghề thủ công, ở đây không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Người thợ thủ công, nhiều khi cũng là người làm nông. Nhưng do yêu cầu chuyên môn hoá cao đã tạo những người thợ chuyên sản xuất thủ công truyền thống ngay tại làng nghề hay phố nghề nơi khác[19, tr11]. Tuy nhiên, quan niệm về làng nghề như vậy là chưa đủ, để xác định làng đó có phải làng nghề hay không thì cần phải xem xét tỷ trọng lao động hay số hộ làm nghề so với toàn bộ lao động và hộ ở làng hay tỷ trọng thu nhập từ nghành nghề so với tổng thu nhập của làng.

Quan niệm thứ ba: Làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên tâm làm nghề truyền thống lâu đời, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, và có cùng tổ nghề [19,tr.12]”. Song ở đây chưa phản ánh đầy đủ tính chất của làng nghề, nó là một thực thể sản xuất tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, là một đơn vị kinh tế tiểu thủ công nghiệp có tác dụng to lớn đối với đời sống kinh tế - văn hoá-xã hội một cách tích cực.

Từ những cách tiếp cận trên, ta có thể thấy khái niệm làng nghề liên quan đến các nghề thủ công cụ thể. Tên gọi của làng nghề gắn với tên gọi các nghề thủ công như nghề dệt vải, tơ lụa, đúc đồng, gốm sư. Trong làng nghề sẽ có làng có một nghề và làng nhiều nghề tuỳ thuộc số lượng ngành nghề thủ công nghiệp dịch vụ chiếm tỷ lệ ưu thế trong làng. Vậy “Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng) có một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập. Thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng”[19,tr.12].

Việc phân loại làng nghề gặp nhiều khó khăn bởi tính đa dạng về qui mô, lĩnh vực và lịch sử hình thành. Có thể phân loại làng nghề theo các tiêu chí sau: theo lịch sử hình thành và phát triển các làng nghề, theo ngành nghề sản xuất kinh doanh, theo qui mô làng nghề, theo loại hình kinh doanh của làng nghề có tính phổ biến ở Việt Nam, theo tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề.

Làng nghề để được công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau: có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn, hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận, chấp hành tốt chính sách và pháp luật của nhà nước [13].

Ngành nghề truyền thống:

Phạm trù ngành nghề truyền thống hiện nay đang là vấn đề tranh luận sôi nổi và có rất nhiều tên gọi khác nhau như: nghề truyền thống, nghề cổ truyền, nghề phụ, nghề tiểu thủ công nghiệp. Đối với ngành nghề được xếp vào ngành nghề thủ công truyền thống nhất thiết phải có các yếu tố sau [19]:

          Đã hình thành, tồn tại và phát triển từ lâu đời ở nước ta; Sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề phố nghề.

          Có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngủ thợ lành nghề đông đảo; kỷ thuật và công nghệ khá ổn định của dân tộc Việt Nam; Sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nước là chủ yếu.

          Sản phẩm mang tính chất truyền thống và độc đáo của Việt Nam, có giá trị và chất lượng cao, vừa là hàng hoá vừa là sản phẩm văn hoá, nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí trở thành các di sản văn hoá dân tộc, mang bản sắc văn hoá Việt Nam.

          Là nghề nghiệp nuôi sống bộ phận dân cư của cộng đồng, góp phần đáng kể vào ngân sách nhà nước.

Tiêu chí để công nhận nghề truyền thống như sau:

Nghề đã xuất hiện tại địa phương trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận, nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc, nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiểu nghệ nhân hoăc tên tuổi của một làng nghề [13].

         

Từ những quan niệm trên ta có thể hiểu rằng” Ngành nghề truyền thống là những ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển kinh tế của nước ta, còn tồn tại đến ngày nay, bao gồm cả ngành nghề mà phương pháp sản xuất được cải tiến hoặc sử dụng nhungữ máy móc hiện đại đẻ hổ trợ cho sản xuất, nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống” [19, tr.17]. Có nhiều cách phân loại nghề tuy nhiên có thể xem xét một số cách như sau:

Phân loại theo trình độ kỹ thuật:  Loại nghề có kỹ thuật đơn giản, sản phẩm của những nghề này có tính chất thông dụng, phục vụ nhu cầu hằng ngày của dân cư nông thôn. Loại nghề có kỹ thuật phức tạp, các nghề này không chỉ có kỹ thuật công nghệ phức tạp mà còn đòi hỏi nhiều ở người thợ sự sáng tạo và khéo léo. Sản phẩm có giá trị kinh tế, vừa mang tính văn hoá, không chỉ tiêu thụ ở trong nước mà còn có thể xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới.

Phân loại theo tính chất kinh tế: Loại nghề phụ thuộc vào nền kinh tế nông nghiệp tự nhiên, đây là nghề phụ của hầu hết gia đình nông dân, sản phẩm ít mang tính chất hàng hoá, chủ yếu là phụ thuộc vào nhu cầu tại chỗ như: chế biến nông sản, sản xuất công cụ như cày bừa, liềm hái; Loại nghề mà hoại động của nó độc lập với quá trình sản xuất nông nghiệp, nhữn nghề này được phát triển bởi sự tiến bộ của trình độ công nghệ và trình độ tay nghề của người thợ, sản phẩm thể hiện tài năng sáng tạo và sự khéo léo của người thợ, đặc biệt sản phảm tạo ra troẻ thành hàng hoá, đem lại thu nhập cao cho người sản xuất, tiêu biểu là nghề dệt, gốm sứ, kim hoàn.

Tuy nhiên, cách phân loại trên chỉ phụ thuộc vào điều kiện trước đây, ngày nay trong nền kinh tế thị trương, nhiều nghề đã phát triển mạnh. Dựa vào giá trị sử dụng của các sản phẩm, có thể phân loại ngành nghề truyền thống theo các các nhóm sau: các ngành nghề sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như gốm sứ, chạm khắc gỗ, chạm khắc đá, thêu, vàng bạc; Các ngành nghề phục vụ cho sản xuất và đời sống như: nể, mộc, hàn, đúc đồng, thêu, vàng bạc; Các ngành nghề sản xuất mặc hàng tiêu dùng: dệt vải, dệt chiếu, khâu nón; Các ngành nghề chế biến lương thực thực phẩm như: xay xát, làm bún bánh, nấu rượu, nấu đường mật, chế biến thuỷ sản.

Làng nghề truyền thống

Từ những phân tích của hai khái niệm “ làng nghề” và “ ngành nghề”, ta có các quan niệm về “ Làng nghề truyền thống” như sau:

Quan niệm thứ nhất: “ Làng nghề truyền thống là một cộng đồng dân cư, cư trú trong phạm vi một địa bàn các vùng nông thôn tách rời khỏi sản xuất nông nghiệp, cùng làm một hoặc nhiều nghề thủ công có truyền thống lâu đời, để sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm bán ra thị trường để thu lợi” [ 19, tr.13-15]. Quan niệm này chỉ thể hiện được yếu tố truyền thống lâu đời của làng nghề, còn những làng nghề mới, nhưng tuân thủ yếu tố truyền thống của vùng hay của khu vực chưa được đề cập đến.

Quan niệm thứ hai: “ Làng nghề truyền thống là những làng nghề làm nghề thủ công có truyền thống lâu năm, thường là qua nhiều thế hệ” [19, tr.13-15]. Quan niệm này cũng chưa đầy đủ. Bởi vì khi nói đến làng nghề truyền thống ta không thể chs ý đến các mặt đơn lẻ, mà phải chú trọng đến nhiều mặt trong cả không gian và thời gian, nghĩa là quan tâm đến hệ thống, toàn diện của làng nghề đó, trong đó yếu tố quyết định là nghệ nhân, sản phẩm, kỹ thuật sản xuất, và thủ phát nghệ thuật.

Quan niệm thứ 3: “ Làng nghề truyền thống là những làng có tuyệt đại bộ phận dân số làm nghề cổ truyền. Nó được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, được nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác kiểu cha truyền con nối hoặc ít nhất cũng tồn tại hàng chục năm. Trong làng sản xuất mang tính chất tập trung, có nhiều nghệ nhân tài hoa và một nhóm người có tay nghề giỏi làm hạt nhân để phát triển nghề. Đồng thời sản phẩm làm ra mang tính tiêu biểu độc đáo, tinh xảo, nổi tiếng và đậm nét văn hoá dân tộc. Giá trị sản xuất và thu nhập, tiểu thủ công nghiệp ở làng làng chiếm 50% so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập của làng trong năm” [19, tr.13-15], đây là một quan niệm tương đối đầy đủ.

Từ cách tiếp cận và nghiên cứu trên có thể định nghĩa: “ Làng nghề truyền thống là những thôn làng có một hay nhiều nghề thủ công truyền thống được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh đem lại nguồn thu nhập chiếm phần chủ yếu trong năm. Những nghề thủ công đó được truyền từ đời này qua đời khác, thường là nhiều thế hệ. Cùng với thử thách của thời gian, các làng nghề thủ công này đã trở thành nghề nổi trội, một nghề cổ truyền, tinh xảo, với một tầng lớp thợ thủ công chuyện nghiệp đã chuyên tâm sản xuất, có quy trình công nghệ nhất định và sống chủ yếu bằng nghề đó. Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ và đã trở thành hàng hoá trên thị trường”[19].

Tiêu chí để công nhận làng nghề truyền thống: làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề theo quy định.

Tiêu chis để công nhận nghệ nhân: công dân Việt nam làm việc trong các ngành nghề tiểu, thủ công nghiệp, thủ công mỹ nghệ truyền thống của Việt Nam được xét danh hiệu nghệ nhân nếu đủ điều kiện sau[20]:

Là người thợ giỏi, có trình độ kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp điêu luyện, khả năng sáng tác mẫu mã và sao chép mẫu đạt trình độ nghệ thuật cao mà người thợ bình thường không làm được.

Chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, cos phẩm chất đạo đức được những người trong nghề, trong lĩnh vực người đó hoạt động tôn vinh, thừa nhận.

Có tác phẩm đạt trình độ nghệ thuật cao, đạt huy chương vàng, huy chương bạc trong các cuộc thi, triễn lãm quốc gia hoặc quốc tế.

Đối với những người không đủ điều kiện tham gia các cuộc thi, triển lãm thì phải có tác phẩm đạt trình độ nghệ thuật cao được hội đồng cấp trung ương xét công nhận tương đương.

Có công đông đóng góp trong việc giữ gìn, phát triển, đào tạo và truyền dạy nghề cho thế hệ trẻ.

Tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và hồ sơ xét tặng danh hiệu nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú; trong đó đối tượng được đề nghị xét tặng danh hiệu nghệ nhân ưu tú phải đạt được các tiêu chí sau [21].

Trung thành với Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.

Có phẩm chất đạo đức tốt, tận tuỵ với nghề, gương mẫu, thực sự là tấm gương sáng cho mọi người và đồng nghiệp noi theo.

Là người thợ giỏi tiêu biểu được đồng nghiệp thừa nhận, có thâm niêm trong nghề tối thiểu 15 năm, có trình độ kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp điêu luyện, sáng tác thiết kế được 10 mẫu sản phẩm đạt trình độ nghệ thuật cao đã trực tiếp làm ra trên 15 tác phẩm có giá trị kinh tế, kỹ thuật, mỹ thuật; Là người có ảnh hưởng rộng rãi trong ngành và xã hội.

Có hiều thành tích trong việc giữ gìn, truyền nghề, dạy nghề cho trên 100 người, sáng tạo và phát triển ngành nghề thủ công mỹ nghệ.

Là nghệ nhân đầu đàn tiêu biểu được đồng nghiệp thừa nhận, quần chúng mến mộ, kính trọng.

Có tác phẩm đạt trình độ nghệ thuật cao, được tặng giải ( loại vàng hoặc bạc) tại các hội chợ triễn lãm quốc gia hoặc quốc tế.

1.1.2. Vai trò của làng nghề truyền thống trong việc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp

Làng nghề truyền thống đã tạo ra một khối lượng hàng hoá đa dạng phong phú phục vụ cho tiêu dụng và xuất khẩu [19]: phát triển làng nghề truyền thống là giải pháp hết sức quan trọng nhằm huy động tối đa nguồn lực sẵn có ở nông thôn như: tài nguyên thiên nhiên, nguồn nguyên liệu, phế phẩm của nông nghiệp được huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh, cũng như khai thác có hiệu quả nguồn vốn trong nhân dân, cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như những kỹ năng của người lao động. Trong quá trình phát triển, các làng nghề đã có vai trò tích cực góp phần tăng tỷ trọng nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn. Khi nghề thủ công hình thành và phát triển thì kinh tế nông thôn không chỉ có kinh tế nông nghiệp thuần nhất mà bên cạnh là các ngành thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ cùng tồn tại và phát triển. Xét trên góc độ phân công lao động thì các làng nghề đã có tác động tích cực tới sản xuất nông nghiệp, không chỉ cung cấp tư liệu sản xuất cho khu vực nông nghiệp mà còn có tác dụng chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp. Mặt khác, kết quả sản xuất ở các làng nghề cho thu nhập và giá trị sản lượng cao hơn so với sản xuất nông nghiệp, do từng bước tiếp cận với kinh tế thị trường, năng lực kinh doanh được nâng lên, người lao động nhanh chóng chuyển dần sang đầu tư cho các ngành nghề phi nông nghiệp, đặc biệt là những ngành mà sản phẩm có khả năng tiêu thụ mạnh ở ở thị trường trong nước và thế giới. Làng nghề phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ ở nông thôn mở rộng quy mô và địa bàn hoạt động, thu hút nhiều lao động; khác với sản xuất nông ghiệp, sản xuất trong các làng nghề là một quá trình liên tục, đòi hỏi sự thường xuyên cung ứng dịch vụ vật liệu và tiêu thụ sản phẩm. Do đó dịch vụ nông thôn phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức đa dạng phong phú, đem lại thu nhập cao cho người lao động. Sự phát triển của làng nghề có tác dụng rõ rệt với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá. Sự phát triển lan toả của làng nghề đã mở rộng quy mô địa bàn sản xuất, thu hút nhiều lao động. Đến nay cơ cấu kinh tế ở nhiều làng nghề đạt 60% - 80% cho công nghiệp và dịch vụ, còn 20% - 40% cho nông nghiệp.

Phát triển làng nghề truyền thống là biện pháp hiểu hiệu giúp giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn [19]: sản xuất nông nghiệp, bản thân nó không thể có khả năng giải quyết số lượng lao động dư thừa ở nông thôn hiện nay. Cho nên trong điều kiện đất đai canh tác ít, nguồn vốn hạn hẹp, lao động dư thừa, việc tìm ra giải pháp hữu hiệu để giải quyết việc làm cho người lao động là đòi hỏi cấp bách có ý nghĩa chính trị, xã hội to lớn. Một trong những giải pháp hữu hiệu, có tính chiến lược là phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn. Nhiều làng nghề đa dạng phong phú, có khả năng phát triển rộng khắp trong nông thôn. Qua tổng kết thực tiễn, đã tính toán được rằng cứ xuất khẩu được 1 triệu đô hàng thủ công mỹ nghệ thì tạo việc làm và thu nhập cho khoảng 300 – 400 lao động. Như vậy, vai trò của làng nghề rất quan trọng và được coi là động lực trực tiếp giải quyét việc làm cho người lao động, đồng thời góp phần làm tăng thu nhập cho người lao động.

* Vai trò của phát triển nghề truyền thống

- Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá

- Góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động nông thôn

- Góp phần thu hút vốn nhàn rỗi, tận dụng thời gian lao động dư thừa, hạn chế di dân tự do

- Góp phần đa dạng hoá kinh tế nông thôn, thúc đẩy quá trình đô thị hoá

- Góp phần cải thiện đời sống nhân dân và góp phần xây dựng nông thôn mới

* Ý nghĩa của phát triển nghề truyền thống

Giá trị văn hóa thể hiện rõ nét nhất trong các sản phẩm làng nghề gắn với trí thông minh, bàn tay khéo léo và kỹ thuật tinh sảo của các nghệ nhân được lưu truyền từ hàng trăm năm nay đang được kế thừa, khôi phục. Đó là những hoa văn, những họa tiết được lưu giữ từ nhiều đời trong những sản phẩm mỹ nghệ, những chi tiết quyết định giá trị của sản phẩm mang những nét tinh hoa của người thợ thủ công và sắc thái riêng của làng nghề truyền thống. Mỗi sản phẩm làng nghề không chỉ là một sản phẩm hàng hóa thông thường mà còn là nơi gửi gắm tâm hồn, tài năng, thể hiện khiếu thẩm mỹ, sự thông minh, sáng tạo, tinh thần lao động của nghệ nhân, đó là những sản phẩm văn hoá có tính nghệ thuật cao.

Giá trị văn hóa của làng nghề nước ta còn thể hiện trong các nghệ nhân - những người lưu giữ những tinh hoa văn hóa dân tộc trong các sản phẩm làng nghề, đồng thời không ngừng sáng tạo để làng nghề có thêm nhiều sản phẩm mới vừa phát huy được truyền thống văn hóa dân tộc vừa thể hiện sức sáng tạo của nghệ nhân trong điều kiện mới.

Làng nghề là một lực lượng có vị thế, một cộng đồng có sự liên kết bền chặt bởi những mối liên hệ khăng khít, nhiều mặt: về lãnh thổ, dòng họ, về hoạt động kinh tế, có chung Thành hoàng làng và Tổ nghề; có chung văn hóa và tâm linh.

Người thợ thủ công trong làng nghề gắn bó với làng, không chỉ vì yếu tố kinh tế mà do nhiều yếu tố tâm linh, thiêng liêng, hình thành một cộng đồng đoàn kêt, gắn bó từ nhiều đời, hình thành “vốn xã hội” của cộng đồng dân cư trong làng nghề.

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển làng nghề

Quá trình phát triển các làng nghề chịu tác động của nhiều yếu tố và các nhân tố này tác động, ảnh hưởng lẫn nhau. Nhìn chung, các yếu tố tác động đến sự phát triển của làng nghề theo các nhóm nhân tố sau đây:

* Các nhân tố về kinh tế

- Sự tồn tại và phát triển các làng nghề phụ thuộc rất lớn vào sự biến đổi của thị trường, những làng nghề có khả năng đáp ứng và thích ứng với sự thay đổi nhu cầu của thị trường thì có sự phát triển nhanh chóng. Chính thị trường đã tạo định hướng cho phát triển của các làng nghề. Các hộ, cơ sở sản xuất kinh doanh của các làng nghề phải hướng ra thị trường, xuất phát từ quan hệ cung cầu của hàng hoá dịch vụ, xuất phát từ nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng trên thị trường để hoạch định, cải tiến sản xuất kinh doanh phù hợp. Ngày nay thị trường không còn bó hẹp là thị trường hàng hoá dịch vụ mà các loại thị trường khác như: thị trường tài chính, thị trường lao động, thị trường bất động sản, thị trường khoa học - công nghệ đều có ảnh hưởng đến sự phát triển của các làng nghề.

- Trình độ kỹ thuật và công nghệ: Nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu ngày càng cao, sự cạnh tranh của cơ chế thị trường đòi hỏi phải đa dạng hoá các sản phẩm, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Do vậy các làng nghề cũng phải không ngừng đổi mới trang thiết bị, công nghệ tiên tiến vào quá trình sản xuất kinh doanh. Trình độ kỹ thuật và công nghệ ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất, chất lượng, giá thành sản phẩm và do đó ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Nó có thể quyết định sự tồn tại hay suy vong của cơ sở sản xuất sản phẩm đó.

- Kết cấu hạ tầng: Các làng nghề chỉ có thể phát triển mạnh ở những nơi có hệ thống kết cấu hạ tầng đảm bảo và đồng bộ. Trong điều kiện hội nhập kinh tế, cạnh tranh khốc liệt, thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng khắp, nguồn nguyên liệu cũng phải vận chuyển nơi xa về thì nhu cầu về hệ thống giao thông vận tải phát triển thuận lợi cho các làng nghề giảm chi phí vận chuyển tạo điều kiện giao lưu phát triển thị trường, ký kết hợp đồng, liên doanh liên kết v.v… Hệ thống cung cấp điện, nước, thoát nước, bưu chính viễn thông v.v… cũng có ảnh hưởng rất lớn tới phát triển của các làng nghề, đặc biệt là quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, những hạ tầng này tạo điều kiện cho áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, bảo vệ sức khoẻ người lao động, góp phần phát triển kinh tế xã hội bền vững.

- Vốn cho sản xuất kinh doanh: Đây là nguồn lực quan trọng của quá trình sản xuất kinh doanh. Các làng nghề muốn đầu tư phát triển, mở rộng cơ sở sản xuất, đầu tư trang thiết bị mới, đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường v.v… đều phải cần đến nhu cầu vốn. Vốn nhiều hay ít do nhu cầu quy mô, đặc điểm sản xuất sản phẩm các ngành nghề ở từng làng nghề. Ngày nay các làng nghề đang phát triển theo xu thế hiện đại, đa dạng, chuyên môn hoá, sản phẩm hàng loạt… thì nhu cầu về vốn là rất lớn. Sự đáp ứng về vốn có một ý nghĩa quyết định cho sự hội nhập, cạnh tranh và phát triển của các làng nghề.

- Nguyên vật liệu: Sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương trước đây là đặc điểm của làng nghề và là nhân tố góp phần hình thành làng nghề. Hiện nay, do hội nhập kinh tế, cơ s hạ tầng giao thông, bưu chính viễn thông… thuận lợi, nguồn nguyên vật liệu khác nhau cho sản xuất các sản phẩm. Vì vậy khối lượng, chất lượng, chủng loại và khoảng cách nguồn nguyên vật liệu có ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng, giá thành, lợi nhuận của các cơ sở sản xuất. Việc sử dụng các loại nguyên vật liệu hợp lý, thay thế, giá rẻ phù hợp với quá trình sản xuất là nhân tố tác động đến sự phát triển của các làng nghề.

- Nguồn nhân lực: Những nghệ nhân, chủ cơ sở sản xuất kinh doanh và những người thợ thủ công có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển các làng nghề. Những nghệ nhân, những thợ thủ công lành nghề là những người truyền nghề, dạy nghề, đồng thời là những người sáng tạo ra các sản phẩm độc đáo. Ngày nay việc phát triển sản xuất theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hội nhập, thị trường cạnh tranh đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực cao. Đó là đội ngũ các chủ cơ sở sản xuất kinh doanh phải am hiểu nhiều mặt kinh tế xã hội, lực lượng quản lý phải tinh thông, đội ngũ công nhân có trình độ chuyên môn cao v.v… để đáp ứng nhu cầu của tình hình mới.

* Nhân tố về môi trường chính sách                                                                

Quá trình hội nhập và phát triển đòi hỏi cùng với quá trình đổi mới chính sách. Hệ thống các chính sách của nhà nước có những tác động to lớn có ý nghĩa quyết định tới sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và các làng nghề nói riêng. Sự can thiệp của nhà nước vào các hoạt động sản xuất kinh doanh trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường là một tất yếu, mà các công cụ quan trọng nhất là các chính sách, đặc biệt là các chính sách kinh tế. Các chính sách này có vai trò trong việc hoạch định, hỗ trợ làng nghề phát triển, tạo môi trường sản xuất kinh doanh cho sự phát triển của làng nghề.

* Các nhân tố về điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, các nguồn tài nguyên thiên nhiên là những nguồn lực và là cơ sở của lợi thế so sánh của mỗi vùng, miền nói chung và các làng nghề nói riêng. Các nhân tố này có thể trở thành điều kiện để hình thành và phát triển làng nghề, cũng có thể là đối tượng lao động để các làng nghề khai thác và chế biến. Vị trí địa lý thuận lợi cũng sẽ tạo cho sự giao lưu kinh tế, mở rộng hợp tác, hội nhập kinh tế, phát triển thị trường… tạo điều kiện cho các làng nghề phát triển.

* Yếu tố truyền thống

Yếu tố này cũng có vai trò ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển làng nghề. Trong các làng nghề truyền thống các nghệ nhân, thợ cả có tay nghề cao là những hạt nhân để bảo tồn duy trì và phát triển làng nghề. Những nét độc đáo của sản phẩm truyền thống gắn với đặc trưng văn hoá của từng làng nghề là những giá trị vô hình tạo nên sự tồn tại phát triển của các làng nghề. Những luật lệ, quy ước, phong tục tập quán của các làng nghề cũng tạo ra những phong cách riêng về đạo đức nghề nghiệp và cũng có khi thúc đẩy làng nghề và cũng có thể kìm hãm sự phát triển các làng nghề. Những yếu tố truyền thống phải được kết hợp chặt chẽ với việc tiếp thu những yếu tố mới, đặc biệt là về khoa học công nghệ, thị trường hội nhập và cạnh tranh… để các làng nghề và sản phẩm của nó vừa giữ được bản sắc văn hoá dân tộc vừa được xã hội, thị trường tiếp nhận và thúc đẩy phát triển.

+ Bền vững về mặt xã hội là: bảo đảm sản xuất kinh doanh phải tuân thủ các luật pháp, giữ gìn và phát triển bản sắc và giá tri văn hóa của ngành nghề, đồng thời thực hiện tốt các nghĩa vụ đóng góp với xã hội, bảo đảm quyền hạn và quyền lợi và nâng cao đời sống và năng lực cho những đối tượng tham gia hoạt động sản xuất trong làng nghề và quan hệ với cộng đồng địa phương.

+ Bền vững về môi trường là. Bảo đảm sản xuất kinh doanh phải đi đôi với duy trì sự cân bằng sinh thái và môi trường tự nhiên không bị suy thoái, đồng thời không gây tác hại đối với sức khỏe con người và ảnh hưởng xấu đối với các hoạt động kinh tế khác trong làng nghề

Chính sách phát triển bền vững làng nghề

Thuật ngữ “chính sách” được sử dụng rất nhiều trong các tài liệu, sách báo văn kiện của Đảng, văn bản của Chính phủ. Tuy nhiên, đến nay chưa có một định nghĩa, khái niệm thống nhất và đầy đủ về cụm từ này do có nhiều cách tiếp cận khác nhau, từ nhiều góc độ tác động của chính sách, tùy theo quy mô và phạm vi tác động của từng loại chính sách.

- Cách tổng quát, thì khái niệm chính sách được hiểu là: quá trình tác động bằng các biện pháp, công cụ đa dạng, khác nhau của chủ thể quản lý vào đối tượng bị quản lý nhằm đạt tới mục tiêu mà chủ thể quản lý mong muốn. Cách hiểu này tương tự như định nghĩa về quản lý, đó là: “quản lý là một quá trình vận động, trong đó chủ thể quản lý tác động lên khách thể quản lý để đạt tới mục tiêu do chủ thể quản lý đưa ra". Như vậy, chính sách được xem như một công cụ của quá trình quản lý mà chủ thể quản lý sử dụng để tác động lên khách thể nhằm đạt tới mục tiêu đã định.

1.2.    Khái quát về làng nghề truyền thống gốm Bàu Trúc

1.2.1. Điều kiện tự nhiên

Làng gốm Bàu Trúc (tiếng ChămPaley Hamu Trok) thuộc thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, cách thành phố Phan Rang – Tháp Chàm 10 km về hướng Nam. Làng gốm Bàu Trúc cùng với Làng dệt Mỹ Nghiệp được xem là làng nghề cổ nhất Đông Nam Á còn bảo lưu khá tốt truyền thống làm hoàn toàn bằng thủ công.

Làng gốm Bầu Trúc tiếp giáp với các làng Chăm khác nhau: Mỹ Nghiệp, Chung Mỹ, Từ Tâm, Văn Lâm, Hữu Đức, Thành Tín. Con đường vào làng được nối với quốc lộ 1A khoảng hơn 500m về hướng Tây nên việc đi lại tương đối thuận lợi, cách trung tâm thành phố Phan Rang – Tháp Chàm khoảng 10km về phía Nam. Hoạt động kinh tế của làng Bầu Trúc chủ yếu là làm nông và nghề làm gốm.

Là một trong hai làng gốm cổ xưa nhất Đông Nam Á, Bầu Trúc còn được coi như một bảo tàng mang đặc tính gốm truyền thống của dân tộc Chăm.

Thôn Bầu Trúc có khoảng 400 hộ có đến 85% trong số đó vẫn thủy chung với nghề gốm. Theo truyền thuyết, nghề làm gốm do vợ chồng ông tổ Poklong Chanh dạy cho phụ nữ trong làng từ ngàn xưa. Để tưởng nhớ công ơn của tổ nghề, bà con lập đền thờ tổ chức cúng tế Poklong Chanh vào dịp lễ hội Katê hàng năm.

Ðất đai vùng Bầu Trúc từ xa xưa đã dành sẵn cho cư dân kho báu để khai sinh và nuôi sống nghề gốm; đó là mỏ đất, mỏ cát riêng biệt mà chỉ phù sa sông Quao mới có: Ðất mịn, dẻo lạ lùng; cát cũng rất mịn, hạt nhỏ li ti. Mỗi thứ đồ gốm, tùy công năng mà pha trộn cát với đất, nhưng trộn với tỷ lệ cát cao nhất, gốm ra lò vẫn bóng mịn, hầu như không sản phẩm nào rạn, nứt.

Ở nhiều nơi người ta dùng bàn xoay để nặn gốm, còn các nghệ nhân gốm Chăm vẫn dùng đôi tay khéo léo để tạo nên những tác phẩm tuyệt vời với mẫu mã phong phú. Các hoa văn trang trí trên gốm Bầu Trúc là những đường khắc vạch hình sông nước, chấm vỏ sò và hoa văn thực vật; có cả hoa văn móng tay trên vai cổ gốm rất mộc mạc, gần gũi, nhẹ nhàng.

          Đặc điểm về môi trường địa lý, khí hậu làng gốm Bàu Trúc mang những nét chung của khí hậu tỉnh Ninh Thuận, một vùng đồng bằng khô cằn nhất dải đất miền trung nắng gió. Khí hậu tại đây rất khắc nghiệt, chỉ có hai mùa : Mùa khô và mùa mưa. Lại thường xuyên gây ra lũ lụt và sạt lỡ đất, nguyên nhân do có nhiều đồi núi, độ dốc lớn. Ngược lại mùa khô rất nóng và kéo dài từ tháng 12 đến tháng 8 năm sau. Đặc điểm thổ nhưỡng của vùng đất này chủ yếu là loại đất thịt pha cát, trên nền là một lớp đất sét, thích hợp việc trồng lúa nước nhiều vụ trong năm và các loại cây hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày như: bông vải, thuốc lá, nho, táo xanh.

Nhưng do địa hình là một lòng chảo được bao bọc quanh năm bởi những dãy núi lớn dựng đứng nên mùa mưa mặc dù mưa rất ít nhưng thường xuyên gây ra lũ lụt. Ngược lại, mùa khô thì rất nóng, kéo dài đến tháng 9 nhiệt độ trung bình từ 29°C - 33°C. Lượng bức xạ lớn, lượng bốc hơi gấp 2 lần lượng mưa. Độ ẩm 80,3% hằng năm. Dưới áp lực của gió mùa Tây Nam, khí nóng tràn qua gây khô hạn kéo dài khiến đất trở khô cằn.

          Nằm trên vị trí bán sơn địa, thôn Bàu Trúc nằm ở vùng cuối của đồng bằng Phan Rang, chỉ cách chân núi gần 5km và cách bờ biển 5km theo đường chim bay. Các nhà địa học phân khu vực thôn Bàu Trúc vào vùng tiểu sinh thái đồng bằng ở giữa dưới núi. Có dòng phù sa bồi tụ lâu năm tạo thành các triền sông lớn. Chính nơi đây đã hình thành mỏ đất sét mịn màng có độ dẻo cao. Bên dưới dòng sông sau những trận lũ lụt, vào mùa khô nước cạn dòng còn để lại các dãi cát trắng, hạt nhỏ mịn màng. Đây là những nguyên liệu cần thiết, chủ yếu để tạo thành gốm Chăm Bàu Trúc mà không có ở nơi nào ở Ninh Thuận có được.

 

 

          1.2.2. Điều kiện xã hội

 

Ninh Thuận có gần 74 ngàn người cư trú tập trung tại 22 làng thuộc 6 huyện, thành phố. Trong đó, huyện Ninh Phước có đồng bào Chăm đông nhất với trên 43 ngàn người sinh sống tại 6 xã, thị trấn, chiếm trên 30% dân số địa phương và đuợc chia thành 2 cộng đồng: Bàlamôn với khoản 45,8 tín đồ và hồi giáo trong đó có hồi giáo Bàni có 24,5 nghìn tín đồ và hồi giáo Islam có gần 2500 tín đồ. Trong mỗi làng Chăm đều có đền thờ thần. Gia đình trong làng chăm được tổ chức theo hình thái gia đình mẫu hệ. Sinh hoạt làng, tộc họ, gia đình của người Chăm phản ánh rõ nét chế độ mẫu hệ thể hiện trên các mặt: sự phân hoá xã hội, quan hệ về gia đình và hình thức hôn nhân, hình thái tín ngưỡng, phương thức sản xuất và quyền sở hữu tài sản. Vì vậy cơ chế xã hội truyền thống của người chăm gắn bó với nhau và được vận hành bằng lục tục. Họ sống bình đẳng, thương yêu lẫn nhau, cùng nhau bảo vệ, lưu giữ thuần phong mỹ tục, những giá trị của văn hoá tổ tiên. Làng và gia đình người chăm là mắc xích quan trọng, tạo nên một cơ cấu xã hội truyền thống bền vững, trở thành cái nôi bảo tồn và lưu giữ và văn hoá Chăm trong suốt những tháng năm thăng trầm của lịch sử.

Người Chăm có một nền nông nghiệp phát triển khá sớm, dưới thời vua Pôlong Garaivà vua PôRôme, họ đã biết đắp đập, khai mương để trồng lúa nước cho đến nay vẫn còn dấu vết của các công trình thuỷ lợi trên dải đất miền Trung. Bên cạnh làm nông nghiệp, người Chăm còn biết khai thác các loại gỗ quý ở những khu rừng lớn. Cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng để phát triển làng nghề, thu hút khách du lịch. Thời gian gần đay sản phẩm thủ công ngày càng thu hút nhiều khách hàng, trở thành nguồ thu nhập chính cho các hộ sản xuất và tạo việc làm cho người dân tại làng.

          Hoạt động kinh tế của làng Bàu Trúc chủ yếu bằng nghề nông và làm gốm “diện tích canh tác nông nghiệp khoảng 200ha, trong đó 19ha trồng hoa màu, ngô, đậu, nho,… còn lại chủ yếu trồng lúa nước 2 vụ trong một năm [23]. Tuy nhiên, nghề nông nghiệp ở đây thu nhập thấp do nông dân thiếu vốn, đất đai thì khô cằn, hàng năm thường xuyên xảy ra lũ lụt. Vì vậy, để tăng thêm thu nhập đồng thời giải quyết thời gian nhàn rỗi trong nông nghiệp, người Chăm ở làng Bàu Trúc đã tham gia hoạt động sản xuất gốm.

Trước kia, nghề nông và nghề nghề gốm của người Chăm làng Bàu Trúc có sự phân công rõ rệt. Nghề nông do đàn ông đảm nhiệm và nghề gốm do phụ nữ làm là chính. Gốm sản xuất ra chủ yếu tiêu thụ tại địa phương và các tỉnh lân cận.

Ngày nay, kinh tế xã hội phát triển, gốm Bàu Trúc có điều kiện thâm nhập sâu hơn, rộng hơn vào thị trường các tỉnh từ Bắc vào Nam, đòi hỏi phải có lực lượng lao động đông hơn để tham gia sản xuất. Vì vậy nghề gốm đã thu hút được một bộ phận thanh niên, trai tráng trong làng cùng tham gia làm gốm.

          Giá trị kinh tế mà nghề gốm mang lại cho người dân làng Bàu Trúc ngày càng ổn định hơn. Nghề gốm phát triển, thị truòngư tiêu thụ sản phẩm ngày càng mở rộng, sản phẩm gốm làm ra ngày càng nhiều, dẫn đến việc hình thành chủ các thương buôn chuyên thu gôm và phân phối sản phẩm đi thị trường các nơi.

          Văn hoá truyền thống

Tín ngưỡng chi phối sâu sắc trong đời sống cộng đồng và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau: Tín ngưỡng sơ khai, tín ngưỡng tổ tiên, tín ngưỡng liên quan đến sản xuất nông nghiệp, nghi lễ vòng đời. Ngoài lễ nghi liên quan đến vòng đời: như lễ cúng trẻ sơ sinh, đám cưới, đám tang. Người chăm còn có các lễ nghi nông nghiệp: lễ cúng thần lúa, lễ xuống cày, lễ đắp đạp khai mương. Bên cạnh tín ngưỡng dân gian chi phối đồi sống tâm linh, người chăm còn chịu ảnh hưởng nhiều  tôn giáo du nhập từ nhiều nước khác nhau:Phật giáo, Bàlamôn giáo, mỗi tôn giáo du nhập vào mỗi thời kỳ lịch sử khác nhua và mức độ ảnh hưởng đậm nhạt khác nhau[7].

Văn học nghệ thuật của người Chăm là những câu chuyện cổ tích, thơ ca, tục ngữ. Phần lớn những tác phẩm văn chương người Chăm đều phản ánh ước vọng của con người trong cuộc sống, trong lao động, trong tình yêu nam nữ, hướng con người đến cái thiện và ước mơ cuộc sống thanh bình.

Nghệ thuật ca múa nhạc dân gian: trong loại hình ca, múa, nhạc thì múa chăm chiếm vị trí đáng kể. Các động tác múa Chăm luôn có mặc trên những đền, tháp, tượng thờ. Song hành với múa phải kể đến âm nhạc, người Chăm có rất nhiều loại nhạc cụ khác nhau như: trống ghinăng, trống Paranưng, kèn Saranai, đàn Rabap, cùng với nhiều loại nhạc cụ khác. Đi kèm với âm nhạc và múa là những làng điệu dân ca mượt mà, sâu lắng: như hát vải chài, hát đối đáp, hất tâm tình, hát giao duyên.

          Gia đình người Chăm được tổ chức theo hai kiểu: đại gia đình mẫu hệ gọi là “ ngawom prong” và tiểu gia đình mẫu hệ gọi là “ngawom sit”. Trong hình thức gia đình mẫu hệ, các thành viên đều ở chung một tổ hợp nhà, cùng nhau canh tác trên số ruộng đất của gia đình.

          Ngày nay, trong sự phát triển kinh tế và sự hội nhập văn hoá, sức mạnh của cộng đồng, làng Chăm đang giảm dần, đại gia đình đang có dấu hiệu rạn nứt; tiểu gia đình đang có xu hướng phát triển biệt lập, một số nếp sống truyền thống không còn phát huy. Tuy vậy, hình thức tiểu gia đình, cá nhân vẫn chưa thoát khỏi cơ chế truyền thống, vẫn còn ràng buộc trong nghi lễ cộng đồng như ma chay, lễ nhập “kut”, cưới hỏi,… Chính vì vậy mà cộng đồng người làng Chăm vẫn còn chi phối rất lớn trong đời sống kinh tế, văn hoá xã hội của người Chăm thôn Bàu Trúc. Đây là yếu tố quan trọng, là cái nôi văn hoá để người Chăm Bàu Trúc bảo lưu nghề gốm truyền thống từ bao đời nay.

          Người Chăm Ninh Thuận nói chúng và người Chăm Bàu Trúc nói riêng có một hệ thống nghi lễ và tục thờ cúng phong phú, đa dạng . Có rất nhiều lễ hội lớn, nhỏ được tổ chức trong năm. Có những lễ hội mang tính định kì thường niên như lễ hội Pơh Mbăng Yang và Rịja Nưgar vào tháng giêng (lịch Chăm), lễ cầu đảo tại các tháp (Yôr Yang) và lễ cầu đảo tại các cửa biển (Plao Pasah) vào tháng 2, lễ Mbăng Katê tưởng nhớ đến các vị anh hùng và ông bà tổ tiên vào tháng 7, lễ chặn nguồn nước (Kap hlâu krong) vào tháng 8, lễ Mbăng Chămbur vào tháng 9. Ngoài các lễ hội lớn mang tính cộng đồng, người Chăm còn thực hiện một loạt các nghi lễ cho cây lúa.

Điều dễ nhận thấy nhất trong bản sắc Chăm của các lễ hội là chất ‘lễ” hay chất linh thiên của tôn giáo và tín ngưỡng thường trội hơn, thậm chí còn át hẳn chất “hội” của các lễ hội. Một trong những nguyên nhận quan trọng tạo ra bản sắc này của các lễ hội Chăm từ xưa đến nay, luôn luôn là những tín đồ nhiệt thành của tôn giáo thế giới: Bàlamôn giáo và Hồi giáo. Chính vì vậy, mà nhiều lễ hội lớn, nhỏ của người Chăm chủ yếu là một lễ hội dâng cúng ( truyền thống dâng cúng thần của Bàlamôn giáo) hay cầu nguyện (truyền thống quy thuận thượng đế của đạo hồi). Do đó, không thể thiếu được trong các lễ hội Chăm là các chức sắc của các tôn giáo – những người điều hành và thực hiện các lễ thức, các đồ dâng cúng và các nghi lễ. Vì vậy, đễ nhận thấy những nét tương đồng giữa các lễ hội Chăm với các lễ hội của các dân tộc khác trên thế giới [7].

          Thế nhưng, dù dưới hình thức tôn giáo nào thì người Chăm vẫn đưa những sắc thái văn hoá riêng của dân tộc mình vào nhiều biểu hiện khác nhau của từng lễ hội. Dù mục đích chính là tạ ơn anh hùng và tổ tiên, thần linh bằng cúng tế như các lễ tễ thần của Balamôn giáo, những nghi thức rước y của các thần lên tháp và các vũ điệu dâng hoa lên các thần linh tại các tháp.

 

 

         

 

 

 

 

 

 

Tiểu kết

Quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống là yêu cầu tất yếu để khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống, góp phần phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Hệ thống hoá các khái niệm làng nghề, làng nghề truyền thống, và quản lý làng nghề truyền thống, đặc điểm của làng nghề truyền thống và đặc điểm quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống rất quan trọng, là cơ sở lý luận để nắm vững hoạt động quản lý làng nghề truyền thống, đánh gia thực trạng hoạt động và đề xuất giải pháp quản lý đối với làng nghề truyền thống.

Để hoạt động quản lý làng nghề có hiệu quả cần phải nắm vững các yếu tố tác động đến hoạt động quản lý đối với làng nghề truyền thống. Trên cơ sở đó, ccacs chủ thể quản lý biết tận dụng các yếu tố bất lợi đối với hoạt động của làng nghề. Đồng thời, trong hoạt động quản lý làng nghề truyền thống cần phải biết kế thừa và học tập kinh nghiệm từ các mô hình quản lý có hiệu quả, đó là kinh nghiệm quản lý về phát triển, xúc tiến thuongư mại, nâng cao nguồn lực, hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với làng nghề truyền thống,… để tổ chức tốt hoạt động quản lý đối với làng nghề truyền của địa phương.

Hệ thống hoá các kiến thức về làng nghề truyền thống và quản lý làng nghề truyền thống là cơ sở để tìm ra các giải pháp tốt nhất trong hoạt động quản lý đối với các làng nghề truyền thống.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 2

2. Thực trạng quản lý nghề làm gốm truyền thống của người Chăm thôn Bàu Trúc ở Ninh Thuận

2.1.          Đặc điểm gốm Bàu Trúc

2.1.1.   Qui trình sản xuất và các loại hình sản phẩm

2.1.1.1.                    Nguyên liệu

Nguyên liệu làm gốm của người Chăm Bàu Trúc gồm 3 nghuyên liệu chính đó chính là: đất sét, cát, nước.

Khai thác đất, cát:

Gốm Bàu Trúc được sản xuất từ một loại đát set màu nâu sám, có độ kết dính cao. Từ xưa đến nay, người Chăm thường lấy đất sét trên đất ruộng ở một khu vực nhất định: khu vực đó gọi là ruộng Nu Lăng. Ruộng Nu Lăng nằm cách bờ sông Quao khỏng 1km về phía Nam và cách thôn Bàu Trúc khoảng 4km về phía Bắc. Nới đây được gọi là “ mô đất”.

Vào mua khô, từ tháng 4 đến tháng 6 ruộng bỏ hoang không canh tác. Đây là mùa người thợ Gốm Bàu Trúc đến khai đất sét về làm ghuiuhdvr gtfvuiyhyytgr5tewq`ốm. Cũng thời điểm này, sông cạn nước, cánh đồng khô ráo nên rất thuận tiện cho việc đào đất sét, di chuyển đất sét từ cánh đồng về nhà. Để lấy được đất sét người ta phải đào bỏ lớp đất canh tác phù sa tơi xốp và lẫn nhiều rác bẩn ở phía trên. Độ dày của lớp đất mùn này khoảng 40 – 50cm. Bên dưới lớp đất xốp này là đất sét nặng màu xanh xám, rắn và lớp đất này có độ dày 50cm – 100cm. Vì đất cứng nên người dân Bàu Trúc phải dùng các dụng như cuốc, xẻng… để đào đất thành từng mảnh nhỏ.

Quá trình khai thác đất sẽ để lại những hố nhỏ, sau đó được lấp lại đợi mùa sau trồng lúa. Lúa thu hoạch xong đến mùa khô thì vùng đất này người thợ gốm lại tiếp tục khai thác đất sét. Cứ như vậy, đất sét hình thành, trở thành một nguồn nguyên liệu vô tận cho người làm gốm Bàu Trúc. Đất sét được khai thác về đang còn ngậm nước nên rất ẩm. Do đó, người ta phải đem phơi nắng 3 – 4 ngày cho khô ráo rồi đạp vụn ra. Sau khi loại bỏ các tập chất trong đất, rồi cho vào ngâm trong một cái hố đào sẵn sau gần 50cm, đường kính miệng hố 40cm. Sau đó dùng nước ngọt sạch lấy từ giếng hay sông, suối đổ vào hố. Thời gian ngâm nước là gần 12 tiếng, thiif đất sẽ ngấm nước tơi ra kết dính lại với nhau. Lúc này thợ lấy đất ra khỏi hố ngâm để làm đất.

Nguyên liệu thứ hai để sản xuất gốm là cát mịn có cỡ hạt nhỏ. Cát làm gốm được lấy ở vẹn sông Lu. Thời điểm lấy cát là mùa khô. Đây là mùa nước sông cạn sau mua lũ lụt. Nước lũ ở các con sông Phan Rang, ngoại việc đem lại lượng phù sa lớn còn đem theo những hạt cát nhỏ li ti lắng lại thành từng cồn bãi ven sông. Đó là nguồn cất lý tưởng để người Chăm Bàu Trúc làm gốm. Tuy nhiên, không phải tất cả các loại các ven sông đều dùng để làm gốm. Các được chọn làm gốm là loại cát nhỏ mịn màng, cùng kích cỡ như nhau, không pha tạp chất, khoáng vật, sỏi sạn. Bởi vì, nếu cát bị lẫn nhiều sỏi sạn, bã thực vật thì khi đem trộn với đất sét sẽ không có độ kết dính cao. Dẫn đến khó kahwn trong việc tạo hình dáng gốm, nhất là những sản phẩm có kích thước cao lớn, hơn nữa khi đem nung nấu sẽ rất dễ vỡ.

Nguyên liệu làm gốm của người Chăm Bàu Trúc ngoài đất sét và cát còn có nước ngọt lấy ở sông, suối, giếng để trộn với đất sét, cát theo tỷ lệ nhất địng để làm gốm.

 

2.1.1.2.                    Tạo hình dáng gốm

Gốm Chăm Bàu Trúc tuy cơ bản được làm bằng tay nhưng thợ gốm phải dùng một só dụng cụ phụ trợ để tạo hình dang gốm như: Vải cuộn, vong quơ, vòng cạo. Ngoài ra, người thợ con dùng hòn kê để làm gốm và dùng dao nhọn, thanh tre vót đầu để soi lỗ, gắn kết các kiểu gốm có quai, có đế, có lôc thông hơi.

Tạo hình dáng gốm cơ bản là công đoạn chính trong quy trình sản xuất gốm Chăm Bàu Trúc, chia làm 2 công đoạn nhỏ:

Công đoạn 1: Tạo hình cơ bản

Với mẫu sản phẩm đã được định sẵn, thợ gốm bắt đầu đặt lên hòn kê ( là một các lu úp ngược hoặc một cái bàn tròn). Bằng động tác khum xuống, người thợ dùng hai tay bóp nặn vào khối đất, đi giật lùi chậm rãi xung quanh hòn kê khoảng 8 – 10 vòng thì tạo được dáng gô,s cơ bản. Đây là công đoạn mà thợ làm gốm phải tốn nhiều sức lực để tập trung nắn đáy gốm, xây dựng thành gốm theo một kích thước nhất định đã định sẵn và khối lượng đất cho phép.

Công đoạn 2: Kỹ thuật gắn kết vào thân gốm

Công đoạn này người thợ dùng lọn đất cuộn tròn bằng tay, hay còn gọi là con trạch, gắn kết vào miệng gốm và nâng thành gốm cao dần lên. Công đoạn này chỉ thực hiện cho những sản phẩm có kích thước lớn từ 40cm – 50cm như những cái lu, thạp, khương…

          Gốm Bàu Trúc được nung ngoài trời, không có lò nung riêng. Công đoạn này không đòi hỏi cao về kĩ thuật mà đòi hỏi nhiều công sức. Khi số lượng gốm đã đủ cho một mẻ thì người ta tiếng hành nung. Thông thường một lò nung có khoảng 100 – 200 sản phẩm lớn ,nhỏ. Khi đã chọn được thời điểm nung gốm thì người thợ bắt đầu đem gốm trong kho ra phơi. Trong lúc phơi, để cho gốm khô đềuthif phải thường xuyên xoay chuyển phần miệng, thân, đáy gốm theo hướng mặt trời. Nếu gốm khô đều thì khi nung gốm sẽ chín màu đỏ hồng rất đẹp, ngược lại nếu gốm chưa khô hoặc khô không đều mà đem nung thì gốm sẽ chín không đều, có màu đen, xám và bị nứt.

* Các sản phẩm của làng nghề gốm Bàu Trúc

Dòng sản phẩm của làng gốm Bàu Trúc gồm 2 loại chính:

Sản phẩm gốm truyền thống như: lu, chum, lò, trã, nồi niêu, khuôn bánh…vẫn giữ nguyên màu đỏ sau khi nung, chủ yếu phục vụ sinh hoạt ở nông thôn và đặc biệt là hoạt động ẩm thực tại các nhà hàng, khu du lịch. Thị trường tiêu thụ chủ yếu là trong tỉnh và các tỉnh lân cận ( Bình Thuận, Bình Định, Khánh Hoà, Tp. Hồ Chí Minh).

          Sản phẩm gốm mỹ nghệ: là những sản phẩm gốmtheo hướng mỹ nghệ, được các nghệ nhân sáng tạo dựa trên nét văn hoá nghệ thuật gốm Chăm kết hợp với thị hiếu thẩm mỹ của người tiêu dùng. Dòng sản phẩm này chủ yếu phục vụ trang trí nội thất với nhiều kiểu dáng khác nhau, đa dạng về chủng loại. Thị trường tiêu thụ sản phẩm tương đối rộng khắp, từ Bắc đến Nam như : Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Bình Định, Khánh hoà, Bình Thuận, Hồ Chí Minh, Đà Lạt,… và đang hướng đến thị trường xuất khẩu.

 

2.1.2.   Ý nghĩa các hoa văn trên gốm Bàu Trúc

 

Chủ đề chính của hoa văn trên gốm Bàu Trúc là mô tả một cách sinh động những hình ảnh thân quen của cuộc sống hằng ngày, chủ yếu là thế giới thực vật. Chỉ bằng một vải nét đơn giản như dấu chấm, dấu gạch ngang, hình tam giác, hình chữ nhật… hoa văn gốm Chăm đã ẩn chứa những nội dụng phong phú, nó chuyển tải hình ảnh thiên nhiên, phong tục tập quán, tín ngưỡng của người Chăm. Hoa văn trên gốm Chăm còn mang tính tượng trưng với nhiều ý nghĩa: những đường vạch nằm song song gọi là “đường xe chạy” (jalan riteh), những dấu chéo X là dấu hiệu mang tính tượng trưng để quyết định sự sở hữu [24, tr.58].

Hoa văn trên gốm Bàu Trúc có nét tương đồng với hoa văn trên thổ cẩm Chăm. Vì xuất phát từ một kho tàn văn hoá chung, cho nên hoa văn trên gốm có nhiều mô típ tương tự như hoa văn trên thổ cẩm. Đồng thời, thổ cẩm Chăm sử dụng màu thực vật để trang trí hoa văn tương tự như cách chế biến màu trang trí gốm. Nhìn chung, hoa văn gốm và hoa văn thổ cẩm có nội dung, chủ đề trang trí tương tự nhau. Có điều là, hoa văn trên thổ cẩm có hoa văn động vật, nhưng hoa văn động vật lại không có mặt trên gốm Chăm. Nhưng chung qui lại, giữa hoa văn thổi cẩm và hoa văn gốm đều có cùng chủ đề phản ánh diện mạo văn hoá Chăm: “ Gốm Chăm Bàu Trúc mang dâu sấn của gốm lục địa và hải đảo, cũng như vùng đồng bằng và ven biển miền trung nước ta”[25, tr.58].

Hoa văn và cách thể hiện hoa văn trên gốm Bàu Trúc là muôn hình muôn vẻ, nó không chỉ được thể hiện thẩm mỹ, phong tục tập quán trong xã hội Chăm mà còn ghi lại những dấu ấn về văn hoá, phản ánh sắc thái, diện mạo một nền văn hoá Chăm. Hoa văn trên gốm Bàu Trúc nói riêng và hoa văn Chăm nói chúng chính là một kho tàng tư liệu phong phú. Kho tàng ấy không chỉ dừng lại ở giá trị nghệ thuật mà nó còn mang lại một giá trị văn hoá, lịch sử của người Chăm, một dân tộc đã từng một thời phát triển rực rỡ ở khu vực Đông Nam Á.

 

2.2.          Thực trạng hoạt động của làng nghề

2.2.1.   Định hướng phát triển

Đứng trước nguy cơ một đặc sản của dân tộc mất dần, đã có rất nhiều nhà khoa học, các cấp chính quyền và đặc biệt là những người con làng Bàu Trúc cùng nhau nghiên cứu tìm hướng đi mới cho làng nghề. Tất cả những người có tâm huyết đều muốn tìm ra mẫu mã mới cho sản phẩm gốm Bàu Trúc. Trong suốt nhữn năm nghiên cứu, thử nghiêm, cuối cùng các nhà nghiên cứu cũng tạo ra dòng sản phẩm mới đã ra đời. Đó là dòng gốm mỹ nghệ. Dòng sản phẩm này là sự kết tinh giữa bàn tay kéo léo của nghệ nhân Chăm với nét đẹp văn hoá Chăm nổi tiếng bao đời. Nhìn vào những chiếc bình gốm vẫn là màu đỏ, màu đen tự nhiên đặc trưng, vẫn là những sản phẩm được hoà quyện giữa đất và lửa, nhưng toát lên vóc dáng của một phụ nữ Chăm lúc thì đậm nét, lúc như có vẻ mơ hồ trên từng bình gốm. Từ những sản phẩm đơn giản, tuỳ tuý là một vật dụng trong quá khứ đến những bình gốm mang những dấu ấn của điêu khắc, hội hoạ, văn hoá Chăm, là kết quả của một quá trình làm việc nghiêm túc với bao nhiêu mồ hôi, nước mắt của những người có trách nhiệm, trong đó người dân Bàu Trúc đã đóng góp một vai trò quan trọng.

Từ lâu, văn hoá Chăm đã có một sức hút kì lạ với người dân trong nước và du khách quốc tế. Vì vậy, ngay khi dòng sản phẩm đậm nét ản sắc văn hoá Chăm ra đời lập tức nhận được những phản ứng rất tích cực của thị trường. Nhiều cuộc triển lãm, hội chợ giới thiệu sản phẩm đã được thực hiện rất thành công ở trong và ngoài nước. Từ cuối năm 2003, làng gốm Bàu Trúc như có bước chuyển mình hồi sinh. Thể hiện ở việc, làng gốm đã được rất nhiều kênh truyền hình đưa tin, các bài báo viết về sản phẩm của làng. Không những thế, các đon vị sản xuất trong làng còn nhận được rất nhiều đơn đặt hàng có trị giá rất cao. Giờ đây người tiêu dùng đã rất quen thuộc với dòng sản phẩm mỹ nghệ Bàu Trúc.

Việc trở mình phát triển của một làng nghề có một ý nghĩa đặc biết quan trọng. Làng nghề được khôi phục và phát triển tức là tinh hoa văn hoá nghìn năm của dân tộc không chỉ được bảo tồn mà còn tiếp tục phát triển trong thời kỳ hội nhập. Làng nghề tim ra hướng đi mới đã cải thiện rất nhiều về đời sống vật chất, tinh thần của người dân tại địa phương. Kể từ khi gốm mỹ nghệ được sản xuất phổ biến trong làng, thu nhập của nghệ nhân đã tăng lên gấp 5-6 lần so với sản phẩm truyền thống. Gốm mỹ nghệ Bàu Trúc mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc Chăm. Vì vậy thị trường gốm được mở rộng cũng là một cách để giới thiệu tinh hoa văn hoá dân tộc đến bạn bè quốc tế. Không những thế, việc khôi phục và phát triển được một làng nghề truyền thống còn tạo tiền đề, niềm tin, bài học kinh nghiệm cho các nhà nghiên cứu, các cơ quan chức năng trong quá trình khôi phục và quản lý làng nghề.

 

2.2.2.   Tình hình sản xuất

Hiện nay trong làng có 260 hộ trực tiếp tham gia hoạt động sản xuất gốm với hơn 1000 thợ gốm, trong đó có thợ nữ chiếm hơn 70%. Tại làng gốm Bàu Trúc tồn tại 2 hình thức sản xuất chính: sản xuất tại các hộ gia đình và tại các cơ sở (thường là các công ty trách nhiệm hữu hạn, cơ sở sản xuất).

          - Sản xuất tại hộ gia đình có các hình thức: sản xuất gia công cho các cơ sở, sản xuất theo đơn đặc hàng của các đại lý; sản xuất rồi gia đình tự đem sản phẩm của mình đi bán.

          - Sản xuất tại các cơ sở: Các cơ sở này thường ban đầu do một cá nhân hoặc hay một gia đình gây dựng nên do nhu cầu mở rộng kinh doanh của họ. Hiện nay, tại Bàu Trúc có khoảng 35 cơ sở sản xuất với qui mô vừa và nhỏ, số lượng thợ tham gia làm gốm trung bình của các cơ sở trong một năm là 5, 6 người. Những mùa cao điểm du lịch như: mùa hè, mùa xuân thì số người tham gia sản xuất đông hơn, khoảng 7 – 12 người/cơ sở.

Về tỷ lệ hai hình thức sản xuất này thì hình thức sản xuất hộ gia đình chiếm tỷ lệ lớn hơn (86%) so với hình thức sản xuất tại các cơ sở(14%) ( Bảng số liệu A3, phụ lục 2).

Hình thức sản xuất tại làng gốm Bàu Trúc vẫn chưa thoát khỏi tình trạng sản xuất tự phát, nhỏ lẻ. Điều này dẫn đến hệ quả là số lượng sản phẩm làm ra ít, chất lượng sản phẩm không được như mong muốn. Vấn đề đặt ra là làng gốm Bàu Trúc cần phải cair thiện qui mô sản xuất mới mong có được sự phát triển bền vững và lâu dài.

Làng gốm Bàu Trúc có thời gian vô cùng trầm lắng, khi hầu hết người dân đều bỏ nghề, do thu nhập thấp, thị trường tiêu thụ khan hiếm.

Sau khi được Nhà Nước và các tổ tức nước ngoài hỗ trợ bảo tồn, làng đã có bước phát triển mạnh mẽ. Năm 2017, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận nghệ thuật làm gốm truyền thống này vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đặc biệt hiện nay, tỉnh Ninh Thuận đang tiến hành hoàn tất các thủ tục liên quan đến việc đề nghị Hội đồng Di sản thế giới công nhận “Nghệ thuật làm Gốm của người Chăm Bàu trúc” là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại cần bảo vệ khẩn cấp.

 

2.2.3.   Thị trường tiêu thụ

          Thị trường trong nước: đây là thị trường có đối tượng khách hàng rất đa dạng. Tạm chia ra thành 3 nhóm khách hàng chính: Cộng động cư dân tại địa phương, khách du lịch đến tham quan làng và khách hàng tiêu thụ sản phẩm thông qua các đại lý tại các tỉnh và thành phố trong cả nước.

          Thị trường ngoài nước: Cho đến nay thì gốm Bàu Trúc đã có mặt trên thị trường của một số nước phát triển như: Mĩ, Pháp, Nhật Bản, Đức và Singapore… nhưng đang phải chịu nhiều bất lợi do kiểu sản xuất thủ congo, nhỏ lẻ mang tính gia đình. Tuy gốm Bàu Trúc có mặt ở thị trường nước ngoài nhưng lại mang nhãn hiệu của địa phương khác, do những điểm làm gốm ở đây chỉ là cơ sở sản xuất, không đủ tư cách pháp nhân để ký hợp đồng mua bán với đối tác nước ngoài. Con đường xuất khẩu qua nhiều khâu khiến giá thành đội lên cao, nhưng bản thân người sản xuất lại không được nhuận cao.

          Như vậy, với thị trường ngoài nước, Bàu Trúc đang gặp nhiều khó khăn, nhưng trong tương lai lại mang nhiều hứa hẹn và cần được đẩy mạnh khai thác, trong đó vai trò của thợ gốm Bàu Trúc và sự hổ trợ, quản lý của cấp chính quyền là vô cùng quan trọng.

Để khôi phục, quản lý và phát triển bất kỳ một làng nghề truyền thống nào, thì tăng và ổn định thu nhập cho người dân theo nghề luôn là vấn đề quan trọng nhất. VÌ cho dù người dân có yêu nghề đến mấy, nhưng thu nhập từ nghề không đủ nuôi sống họ thì việc họ bỏ nghề là tất yếu. Với làng Nghề Bàu Trúc, từ ngày phát triển dòng sản phẩm mỹ nghệ với sự đa dạng về mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc… nhờ sản phẩm đáp ứng được nhu cầu thị trường nên hàng hoá bán chạy, từ đó thu nhập người dân không ngừng tăng lên. Nếu trước đây với sản phẩm truyền thống ( lu, thạp, chậu, nồi…), thu nhập của người dân từ 10.000 đồng – 15.000 đồng/ngày thì với sản phẩm gốm mỹ nghệ hiện nay là từ 60.000 đồng – 100.000đồng/ngày ( tăng 4 – 5 lần). Nghề làm gốm đã nhanh chóng thay đổi bộ mặt của làng Bàu Trúc. Làng không còn hộ đói, số hộ nghèo đã giảm từ 37% xuống dưới 10%  [.  ]. Đây là một rất đáng mưng, là động lực để làng gốm Bàu Trúc không ngugfw cố gắng hơn nữa.

          Như vậy, sở dĩ làng tồn tại và phát triển cho đến ngày hôm nay là nhờ những giá trị kinh tế mà làng đem lại cho người lao động, thu nhập bình quân của mỗi thợ làm gốm khoảng 1.3 – 1.6 triệu đồng/tháng. Nguồn thu nhập chính cư dân làng Bàu Trúc là từ sản xuất nông nghiệp và nghề gốm, nên vào những ngày mùa, người thợ làm gốm chuyển sang thu hoạch lúa, tạm ngưng sản xuất gốm. Vì vậy mỗi tháng trung bình họ tham gia sản xuất tầm 20 ngày. Nhưng chúng ta có thể thấy rằng, với mực thu nhập hiện tại chỉ đủ để người thợ trang trải cuộc sống hằng ngày. Vì vậy, điều mà làng gốm cần thiết phải hướng tới là có thể làm giàu bằng chính nghề gốm của họ. Có nhờ vậy thì làng gốm mới phát triển bền vững.

          Sự gắn kết giữa làng nghề và du lịch, đây không những là cách tạo thị trường cho sản phẩm của làng nghề mà còn là động lực thúc đẩy du lịch cho làng gốm Bàu Trúc nói riêng và du lịch tỉnh Ninh Thuận nói chung. Những nổ lực nhằm phát triển bền vững làng nghề cũng là một trong những nổ lực giúp phát triển bền vững sản phẩm du lịch văn hoá của tỉnh Ninh Thuận.

Tỉnh Ninh Thuận là một trong những tỉnh thuộc đồng bằng Duyên Hải miền Trung, có nguồn lực tự nhiên rừng, biển để khai thác và phát triển du lịch. Sự tiếp giáp của các tỉnh như Khánh Hoà ở phía Bắc, Đà Lạt ở phía Tây, Phan Thiết ở phía Nam. Khí hậu lại nắng nóng, cơ sở vật chất phục vụ du lịch chưa được hoàn thiện dẫn đến việc thu hút khách bằng tài nguyên du lịch còn hạn chế. Tuy vậy, Ninh Thuận lại sở hữu tài nguyên du lịch văn hoá mà không nơi nào trên nước ta có được. Đó chính là những nét văn hoá độc đáo của đồng bào Chăn. Trong đó hai làng nghề truyền thống gốm Chăm Bàu Trúc và dệt Mỹ Nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nhận thấy điều này, chính quyền tỉnh Ninh Thuận đã có nhiều cố gắn để đưa việc phát triển 2 làng nghề này vào chiến lược phát triển du lịch chung của tỉnh nhà.

Gắn vào du lịch, làng nghề gốm Bàu Trúc đã phải chú trọng nhiều yếu tố hơn, không đơn thuần chỉ là sản xuất và kinh doanh. Tiến sĩ Ilhamy Elias – chủ tịch hiệp hội làng nghề Indonesia khẳng định rằng, du lịch làng nghề là một cách học. Du khách không chỉ học cách thức làm ra một sản phẩm mà còn hiểu được câu chuyện văn hoá đằng sau những sản phẩm. Đó là một các học độc đáo và sinh động. Họ rất quan tâm và hài lòng với hình thức du lịch kết hợp tham quan, khám phá văn hoá này. Nhờ vậy, sản phẩm gốm mỹ nghệ của Bàu Trúc bán được giá cao, thu nhập của người dân khá hơn. Đây chính là thế mạnh về du lịch của tỉnh Ninh Thuận so với các tỉnh khác trong khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Đồng thời cũng là cách tốt để gìn giữ và phát triển làng nghề trong bối cảnh cạnh tranh khóc liệt của nền kinh tế thị trường.

 

2.3.          Thực trạng quản lý làng nghề gốm Chăm Bàu Trúc

Trong suốt quá trình tìm hướng đi mới, làng gốm Bàu Trúc đã có được những thuận lợi từ nhiều phía, giúp cho việc khôi phục và phát triển làng nghề đạt được kết quả như mong đợi.

Với bề dày văn hoá của vùng đất Ninh Thuận, với sự phong phú, đa dạng về vùng sinh thái gắn với các làng nghề truyền thống góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống cho lao động nông thôn, góp phần quan trọng trong tiến trĩnh xây dựng nông thôn mới và giữ gìn nét vănhoas truyền thống đặc sắc của cộng đồng người Chăm ở Ninh Thuận.

          Quản lý làng nghề truyền thống ở tỉnh nhà rất khó khăn và phức tạp. Với cách thức hình thành, tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh rất đa dạng với nhiều hình thức khác nhau, nên hoạt động quản lý làng nghề truyền thống khó tập trung.

 

2.3.1      Việc ban hành, hướng dẫn và tổ chức triển khai thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính thông thường trong hoạt động quản lý đối với làng nghề truyền thống tại tỉnh Ninh Thuận.

Nhằm khuyến khích, động viên, phát huy vai trò của các nghệ nhân, thợ giỏi ở địa phương trong việc khôi phục nghề truyền thống. UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 79/2009/QĐ-UBND ngày 09/03/2009 của UBND tỉnh về việc ban hành quy chế xét tặng danh hiệu nghệ nhân, thợ giỏi, người có công đưa nghề về địa phương.

Trong nhiều năm qua, Chính phủ đã có nhiều biện pháp để hỗ khôi phục các làng nghề truyền thống có giá trị cao cả về văn hóa và kinh tế. Hỗ trợ việc triển khai các chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống phải kể đến Quyết định 132/2000/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ với những chính sách cụ thể về đât đai, mặt bằng sản xuất, nguyên liệu đầu tư tín dụng, thuế và lệ phí, khoa học công nghệ, chất lượng sản phẩm và đào tạo lao động. Tiếp đến là nghị định số 66/2006/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn.

Do vậy, những năm qua nhiều bộ ngành xây dựng nhiều đề án phát triển ngành nghề nông thôn, tập trung vào hỗ trợ phát triển sản xuất khôi phục phát triển ngành nghề truyền thống, thúc đẩy mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm làng nghề trong và ngoài nước. Nhiều khu tiểu thủ công nghiệp, làng nghề đã được hình thành, tạo nên điều kiện cho ngành nghề nông thôn phát triển. Nhiều hiệp hội, hội nghề nghiệp được thành lập như: Hiệp hội xuất khẩu hành thủ công mỹ nhệ Việt Nam, Hiệp hội làng nghề Việt Nam, Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ ngành nghề nông thôn, các hiệp hội, câu lạc bộ tại địa phương....

Làng nghề thủ công truyền thống với các bí quyết nghề nghiệp riêng là sản phẩm độc đáo của nền văn hóa Việt Nam. Đó là một cộng đồng có sự liên kết chặt chẽ bởi những mối liên hệ chằng chịt về lãnh thổ, huyết thống, kinh tế, văn hóa và tâm linh. Đây là nơi hiện lưu giữ kho tàng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng phong phú, nơi biểu hiện cụ thể, sinh động bản sắc văn hóa dân tộc. Xu hướng thương mại hoá do chỉ hướng tới mục tiêu lợi nhuận làm cho bản sắc văn hóa của làng nghề bị phai mờ, đánh mất bản sắc văn hóa là điều nguy hiểm đối với sự tồn tại bền vững của mỗi một làng nghề.

Chính sách nghệ nhân và bảo tồn phát triển nghệ nhân là một nhân tố quan trọng và là hạt nhân để phát triển làng nghề hiện nay, họ là những người có tài. Họ là người vừa thừa hưởng truyền thống của ông cha, vừa có điều kiện tiếp thu kỹ thuật tiên tiến kết hợp với tài năng của hộ phát triển với nhiều nét mới, mặc dù không được đào tạo hỗ trợ, nhưng các nghệ nhân vẫn liên tục sáng tạo ra những sản phẩm đã góp phần đem lại việc làm cho cả làng nghề; tạo ra những sản phẩm có giá trị và được đánh giá cao tại các hội chợ triển lãm trong và ngoài nước, và làm cho thế giới hiểu rõ tinh hoa nghệ thuật truyền thống của Việt Nam. Nghệ nhân không phải là người chỉ giỏi nghề mà chính họ là người nắm giữ tinh hoa của nghề, nếu thiếu nghệ nhân nghề có thể không mất, nhưng tinh hoa của nghề không còn, làng nghề khó mà phát triển được. Ngày 26 tháng 11 năm 2003 Quốc hội ban hành luật thi đua khen thưởng số 15/2003/QH11 trong đó có điều khoản Điều 58 quy định tặng thưởng danh hiệu nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú, nhưng lại không giao nhiệm vụ cụ thể cho cơ quan nào có trách nhiệm thực hiện vì thế vần đề khen thưởng và chính sách nghệ nhân cho làng nghề còn bế tắc. Trước cơ hội đó, nhiều tổ chức đã tự đặt ra các danh hiệu giải thưởng đề khen thưởng cho các nghệ nhân chủ yếu nhằm khoa trương cho các hoạt động kinh doanh, dịch vụ của họ. Thực tế các giải thưởng mang lại lợi ích cho nghệ nhân thì ít, mang lại uy doanh cho người đứng ra tổ chức thưởng thì nhiều.

Quyết định Số: 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 06 năm 2010phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020. Trong nội dung chương trình chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập có Nội dung 4: Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm “mỗi làng một sản phẩm”, phát triển ngành nghề theo thế mạnh của địa phương.

          Đồng thời, cùng với sự hội nhập và quá trình toàn cầu hoá trên nhiều lĩnh vực khác nhau của nhân loại như thông tin, công nghệ, môi trường, hiểm hoạ thiên thiên, ràng buộc tài chính,… việc quản lý đối với làng nghề truyền thống đều phải chịu sự chi phối của các quốc gia: ví dụ như về giá cả của các sản phẩm trên thị trường phải phù hợp, có tính cạnh tranh với các sản phẩm khác, chất lượng sản sản phẩm làng nghề cũng đòi hỏi cao hơn,…

-         Quản lý làng nghề truyền thống mang tính tổ chức cao.

Các cơ sở sản xuất, kinh doanh tại các làng nghề truyền thống phải luôn tuân thủ các quy định của cơ quan quản lý nhà nước đối với làng nghề: Như việc tuân thủ trong quy hoạch, trong các biện pháp bảo vệ moi trường làng nghề, vấn đề an toàn thực phẩm và cả chiến lược phát triển của làng nghề vẫn phải nằm trong sự kiểm soát, quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước.

Các làng nghề truyền thống chỉ có thể tồn tại và phát triển mạnh khi việc quản lý nhà nước đối về làng nghề có hiệu quả. Vì vậy, nhận thức được vai trò của hoạt động quản lý đối với làng nghề nên trong những năm qua, địa phương luôn hoàn thiện công tác tổ chức để hoạt động quản lý đạt hiệu quả. Phân chia nhiệm vụ quản lý đố từng sở ngành liên quan trong hoạt động quản lý đối với làng nghề.

-         Quản lý làng nghề truyền thống tỉnh Ninh Thuận luôn có tính mục tiêu, chiến lược, chương trình, kế hoạch.

Bảo tồn và phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống của tỉnh luôn gắn với chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, khai thác các tiềm năng lợi thế của địa phương, tạo ra những sản phẩm đặc trưng, mang dấu ấn, thương hiệu của làng nghề gốm Chăm Bàu Trúc Ninh Thuận. Phát triển làng nghề để góp phần thức đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn, tạo việc làm, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo, giảm dần khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn, phát triển làng nghề phải dựa trên cơ sở phát triển hài hoà giữa sản xuất hài hoà giữa sản xuất hàng hoá với bảo vệ môi trường và giữ gìn gìn, phát huy giá trị văn hoá truyền thống của địa phương.

Việc ban hành hướng dẫn , hướng dẫn và tổ chức triển khai thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính thông thường trong hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống. Tỉnh Ninh Thuận đã chỉ đạo và tổ chức thực hiện tốt các văn bản của cấp trên và dựa trên tình hình thực tế của địa phương, UBND tỉnh Ninh Thuận đã ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản liên quan đến quy định, hỗ trợ phát triển các làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh.

Trong thời gian từ năm 2010 đến nay, UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản để khuyến khích hỗ trợ phát triển làng nghề truyền thống của địa phương. Sau khi các văn bản được ban hành, các văn bản được phổ biến đến các tổ chức, cá nhân liên quan trên địa bàn tỉnh thông qua các hình thức như tuyên truyền phổ biến trên các phương tiện thông tin, hội thảo, tập huấn và văn bản được chuyển đến  các tổ chức cá nhân có liên quan. Phần lớn các văn bản sau khi ban hành đã được áp dụng vào thực tế và đem lại hiệu quả trong trong việc phát triển làng nghề truyền thống của địa phương, cụ thể như sau:

Để kịp thời khuyến khích, thúc đẩy việc đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp tại địa phương và áp dụng cá hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến phục vụ quá trình hoạt động quản lý, sản xuất kinh doanh của các cá nhân, tổ chức trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận, UBND tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 01 tháng 6 của Ban chấp hành trung ương Đảng bộ Tỉnh Ninh Thuận về phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2006 - 2010 và đến 2020. Theo đó, từ năm 2006 đến nay đã hổ trợ cho các cơ sở sản xuất trong các làng nghề truyền thống trong hoạt động đăng ký xác lập quyền, hỗ trợ xây dựng hệ thống quản lý chất lượng cho cơ sở sản xuất.

Nhằm khuyến khích, động viên, phát huy vai trò của các nghệ nhân, thợ giỏi ở địa phương trong việc khôi phục làng nghề truyền thống, UBND tỉnh đã ban hành quyết định số 79/2009/QĐ-UBND ngày 15 tháng 8 năm 2006 của UBND tỉnh ban hành quy định tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và hồ sơ xét tặng danh hiệu nghệ nhân, thợ giỏi, người có công đưa nghề mới về Ninh Thuận. Đến nay, trong tỉnh đã có 10 nghệ nhân vinh dự được chủ tịch nướccoong nhận danh hiệu nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú và UBND tỉnh công nhận danh hiệu nghệ nhân, thợ giỏi cho 16 cá nhân.

Ngoài ra, cơ quan quản lý thường xuyên tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến văn bản cấp trên, kiến thức pháp luật về doanh nghiệp, làng nghề, về hội nhập kinh tế quốc tế WTO; tổ chức các hội thảo, tập huấn về các hiệp định thương mại tự do Việt Nam, nhằm giúp doanh nghiệp, làng nghề trên địa bàn tỉnh nắm bắt kịp thời các văn bản cấp trên, quy định pháp luật, phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của của các cơ sở tại làng nghề.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động quản lý làng nghề về việc ban hành, hướng dẫn, tổ chức, triển khai thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính thông thường tại địa phương vẫn còn nhiều bất cập; cụ thể như:

-         Một số văn bản đã ban hành, tuy nhiên vẫn không thể áp dụng thực hiện, do thiếu thực tế, thiếu nguồn kinh phí triển khai và đồng thời còn mang tính chất chung chung, không cụ thể.

-         Tại làng nghề truyền thống cũng chưa xây dựng được văn bản riêng và hoạt động quản lý và phát triển làng nghề riêng cho địa phương minh. Hoạt động tuyên truyền và hướng dẫn phổ biến các văn bản liên quan chưa được triệt để. Ví dụ như chính sách về hổ trợ xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm làng nghề chưa phổ biến kịp thời đến với làng nghề gốm truyền thống tại thôn Bàu Trúc.

-         Chưa xây dựng được quy hoạch ngành nghề nông thôn, vì vậy đa số nguồn nguyên liệu phục vụ cho sản xuất của làng nghề truyền thống bị khan hiếm, không có sự liên kết chặc chẽ giữa cơ quan quản lý với các hooj sản xuất kinh doanh trong làng nghề,…

Nguồn nhân lực trong hoạt động quản lý làng nghề gốm truyền thống chưa đủ và hợp lý. Chuyên viên phụ trách hoạt động về làng nghề thực hiện rất nhiều nhiệm vụ ở các lĩnh vực khác trong đó kiêm nhiệm thực hiện nhiêm vụ quản lý làng nghề. Vì vậy, hoạt động quản lý đối với làng nghề tại địa phương không được đẩy mạnh và không chặt chẽ. Qua phiếu khảo sát điều tra tại địa phương hầu hết các nguồn lực thực hiện quản lý về làng nghề tại địa phương còn gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực thi công như thiếu kinh nghiệm, không được đào tạo, tập huấn nhiều, việc tiếp cận các văn bản cấp trên còn sơ sài, chưa nắm rõ các đầu công việc để báo cáo cơ quan quản lý cấp trên.

Nhìn chúng, với đội ngủ nguồn nhân lực hiện có tại địa phương mới đáp ứng nhu cầu cơ bản về quản lý nhà nước đối với làng nghề, Làng nghề truyền thống có những bước đột phá cần phải tăng cường nguồn nhân lực cho địa phương. Chỉ có tạo ra nguồn nhân lực quản lý chuyên nghiệp, có kiến thức, kinh nghiệm, chuyên môn vững thì mới phát triển làng nghề theo hướng bền vững và lâu dài.

2.3.2.   Xây dựng và thực hiện chính sách quản lý phát triển đối với làng nghề truyền thống

Thứ nhất, để đẩy mạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh tại làng nghề gốm truyền thống của tỉnh, UBDN tỉnh đã hổ trợ vốn đầu tư cho làng nghề thông qua dự án đầu tư phát triển làng nghề.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tiểu kết chương 2

          Làng nghề gốm Chăm truyền thống của tỉnh Ninh Thuận xuất hiện sớm, tồn tại trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Làng nghề gốm đã đóng góp tích cực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân. Nhưng, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế như hoạt động sản xuất tại làng nghề còn manh mún, nhỏ lẻ, thiếu liên kết, việc tiếp cận các nguồn vốn còn khó khăn, sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường còn kém,…

          Trước thực trạng đó, hoạt đông quản lý làng nghề đã được đẩy mạnh, nhiều cơ chế, chính sách được triển khai thực hiện để duy trì và phát triển các làng nghề truyền thống. Các tổ chức ohi chính phủ cũng đã quan tâm đến việc hỗ trợ các dự án đầu tư phát triển làng nghề gốm truyền thống. Tuy nhiên, nguồn lực hổ trợ của Trung ương, tỉnh còn hạn chế, chủ yếu đầu tư cơ sở hạ tầng, chưa quan tâm nhiều đến việc hỗ trợ phát triển sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Bộ máy quản lý nhà nước đối với làng nghề thiếu đồng bộ, phân tán, còn chồng chéo giũa các cơ quan quản lý nhà nước, chưa có sự liên kết và thể hiệ tính thứ bật. trong công tác quản lý làng nghề truyền thống. Thiếu cán bộ quản lý làng nghề tại các địa phương, đặc biệt chú tâm đến việc đào tạo nguồn nhân lực quản lý tại địa phương. Hoạt động vê thanh tra, kiểm tra rất mờ nhạt, làm giảm hiệu quả quản lý làng nghề truyền thống. Xã hội hoá trong hoạt động quản lý làng nghề được đẩy mạnh, bước đầu đã huy động được sự đóng góp, tham gia quản lý của người dân đối với hoạt động quản lý, góp phần phát triển làng nghề truyền thống tại địa phương nhưng vẫn còn ở mức thấp.

          Việc phân tích đánh giá thực trạng của hoạt động quản lý làng gốm Bàu Trúc, đã xác định được những yếu tố thuận lợi, những điểm hạn chế trong hoạt động quản lý của làng gốm Bàu Trúc và tìm ra nguyên nhân nhân của những điểm thuận lợi trong hoạt động quản lý đối với làng gốm Bàu Trúc truyền thống cũng như những nguyên nhân của những điểm hạn chế trong hoạt động quản lý làng gốm. Đây là cơ sở để đề xuất ra các giải pháp trong hoạt động quản lý làng nghề gốm truyền thống của địa phương, nhằm góp phần duy trì và phát triển nghề gốm Chăm một cách bền vững và hiệu quả nhất.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 3: Nâng cao hiệu quả quản lý và đề xuất giải pháp pháp triển nghề làm gốm truyền thống Chăm Bàu Trúc ở tỉnh Ninh Thuận.

3.1. Văn bản quản lý nhà nước và các chính sách về việc quản lý và phát triển làng nghề truyền thống.

3.1.1. Văn bản quản lý nhà nước và các chính sách từ trung ương

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI [38] về xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước đã đauw ra mục tiêu:

          Mục tiêu chúng: xây dựng nên văn hoá và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hoá thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng, bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc tổ quốc vì mục tiêu dân giàu , nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh [38].

          Mục tiêu cụ thể: hoàn thiện các chuẩn mục giá trị văn hoá và con người Việt Nam, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực, sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật. Đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người với bản thân mình, với gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước. Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Xây dựng văn háo trong bối cảnh hệ thống chính trị, trong từng cộng đồng làng, bản, khu phố, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và mỗi gia đình; Phát huy vai trò của gia đình, cộng đồng, xã hội trong việc xây dựng môi trường văn hoá, làm cho văn hoá trở thành nhân tố thúc đẩy con người Việt Nam; Hoàn thiện thể chế, chế định pháp lý và thiết chế văn hoá bảo đảm xây dựng và phát triển văn hoá, con người trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế; Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hoá, tăng cường quảng bá văn hoá Việt Nam; từng bước thu hẹp khoản cách hưởng thụ văn hoá giữa thành thị và nông thôn, các vùng miền và các giai tầng xã hội. Ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội [38].

          Tại Đại Hội khoá XI của Đảng đã nêu: tiếp tục đổi mới, tăng cường việc giới thiệu, truyền bá văn hoá, văn học, nghệ thuật, đất nước, cong người, tiếp tục giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Đại hội đề cập đến vấn đề phát triển du lịch trên cơ sở phát huy có hiệu quả giá trị của các làng nghề thủ công là một định hướng phù hợp với chủ trương, chính sách phát triển du lịch của Đảng, nhà nước và địa phương và xem đây là một chiến lược phát triển có tính lâu dài. Ngoài ra, còn có một số văn bản quản lý nhà nước như:

          Nghị định của Chính Phủ về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn [39]. Nhà nước tổ chức hoạt động khuyến kích, hướng dẫn, hỗ trợ và tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sản xuất công nghiệp nông thôn nhằm mục tiêu sau: Động viên và huy động các nguồn lực trong nước và ngoài nước tham gia hoặc hỗ trợ các tổ chức, cá nhân đầu tư sản xuất công nghiệp của cả nước và từng địa phương; Góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Trước hết là công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn, tạo việc làm, tăng thu nhập, thực hiện phân công lại lao động xã hội; Hỗ trợ, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư sản xuất công nghiệp nông thôn một ccash bên vững, nâng cao năng lực cạnh tranh, thực hiện có hiệu quả lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế.

          Nghị định của chính phủ về một số chính sách hổ trợ, khuyến khích phát triển hợp tác xã [40]: nghị định này quy định một số chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển hợp tác xã về việc hỗ trợ khuyến khích thành lập hợp tác xã; Chính sách về bồi dưỡng và đào tạo trong hợp tác xã; Về đất đai; Về thuế; Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã, Tín dụng; Hỗ trợ hoạt động xúc tiến thương mại; Hỗ trợ về ứng dụng đổi mới, nâng cao trình độ, khuyến nông, khuyến ngư, khuyến công; Hỗ trợ hợp tác xã đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, đời sống của cộng đồng xã viên và than gia các chương trình phát triển kinh tế - xã hội.

          Nghị định của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn [41]: nghị định quy định một số chính sách khuyến khích như các chương trình bảo tồn, phát triển làng nghề; Mặt bằng sản xuất; Đàu tư tín dụng; Xúc tiến thương mại; Khoa học công nghệ.

3.1.2.   Văn bản quản lý nhà nước và cụ thể hoá chính sách tại địa phương.

Theo “Quy hoạt tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Thuận đến năm 2020” [42] hướng đến mục tiêu là: Phát huy yếu tố con người, coi trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; bảo tồn, phát huy, phát triển nền văn hoá truyền thống các dân tộc trong tỉnh. Phát triển du lịch toàn diện dựa trên tiềm năng và lợi thế du lịch của tỉnh, tiếp tục phát huy có hiệu qủa giá trị văn hoá dân tộc và đảy mạnh đầu tư phát triển các làng nghề thủ công truyền thống. Xây dựng Ninh Thuận trở thành điểm đến của Việt Nam trong tương lai, có hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, có khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng tránh thiên tai; Kinh tế phát triển nhanh, bền vững theo mô hình kinh tế “ xanh, sạch”; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp và dịhc vụ, gắn với giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; bảo đảm quốc phòng an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Thực hiện chỉ đạo của tỉnh uỷ về hỗ trợ phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, làng nghề trên địa bàn tỉnh, yêu cầu trước tiên phải xây dựng được đề án hoặc định hướng chiến lược phát triển để triển khai thực hiện. Việc xây dựng đề án phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, làng nghề tỉnh Ninh Thuận đến năm 2040, là rất cần thiết nhằm sử dụng nguồn lực từ tài nguyên ở khu vực nông thôn một cách hiệu quả; đồng thời góp phần lớn trong việc bảo tồn, giữ gìn và phát triển bản sắc văn hoá dân tộc là khâu quan trọng, làm nên sự khác biệt của mỗi tỉnh và mỗi quốc gia trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sau rộng hiện nay. Phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, làng nghề không chỉ góp phần quan trọng thực hiện chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn mà còn góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống nhân dân. Nội dụng của đề án nhằm đánh giá thực trạng hoạt động các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, làng nghề trên địa bàn tỉnh; dự báo về tìm năng phát triển, khả năng mở rộng thị trường; định hướng các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, đề ra những chính sách hỗ trợ cụ thể và giải pháp để phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, công tác tổ chức triển khai thực hiện thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá, góp phấn chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, giải quyết việc làm cho người lao động, nang cao mức sống của người dân, là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương.

Những quy định tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và hồ sơ xét tặng danh hiệu nghề nhân giỏi, người có công đưa nghề về với tỉnh. Chính sách này đã khuyến khích người dân tại các làng nghề trong việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của làng nghề; không ngừng nâng cao trình độ kỹ năng kỹ xảo, tay nghề điêu luyện; sáng tác và thiết kế nhiều mẫu sản phẩm đạt trình độ nghệ thuật cao, có giá trị kinh tế, kỹ thuật, mỹ thuật, trong việc truyền nghề, dạy nghề sáng tạo và phát triển ngành nghề thủ công mỹ nghệ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương [42].

 

 

 

 

 

 

 

 

3.1.3.   Những vấn đề trong quá trình hội nhập

Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, các làng nghề Việt Nam đã có một sức sống mới, phong phú hơn về hạ tầng, công nghệ và mở rộng thị trường xuất khẩu. Các làng nghề hiện thu hút hơn 12 triệu lao động, và tạo việc làm cho hàng triệu lao động nông nhàn. Những năm gần đây, xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đã lên đến hơn 700 triệu USD/ năm.

Trên thực tế đã có rất nhiều làng ghề được khôi phục, phát triển mạnh trong một thời gian nhưng sau đó bị đình trệ. Khoảng từ cuối năm 2008 đến nay, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới, các làng nghề Việt Nam lâm vào tình cảnh hết sức khó khăn, thiếu vốn, thiếu nguyên liệu sản xuất, thị trường bị thu hẹp.

Theo thống kê gần đay nhất của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, đến giữa tháng 3 năm 2009, qua báo cáo của 38 tỉnh, thành phố thì có 9 làng nghề phá sản; 124 làng nghề sản xuất cầm chừng; khoảng 2166 hộ kinh doanh và 02 doanh nghiệp phá sản; 468 doanh nghiệp sản xuất cầm chừng”[43; tr.19].

Như vậy, đứng trước thực trạng chung của các làng nghề truyền thống hiện nay, làng gốm Bàu Trúc muốn có được sự phát triển bền vững thì cần phải thực hiện kết hợp nhiều biện pháp để giải quyết hàng loạt các vấn đề về vốn, về phát triển vùng nguyên liệu, xúc tiến thương mại mở rộng thị trường xuất khẩu đồng thời tập trung khai thác tốt thị trường trong nước… Đây là một thách thức không nhỏ, đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng về việc tư vấn phát triển bền vững làng nghề, cũng với sự nổ lực của các làng nghề, trong đó có Bàu Trúc.

Thứ nhất đó là những tác động, theo từ điển tiếng Việt thì kinh tế thị trường là một nền kinh tế được điều tiết chủ yếu của các quy luật kinh tế và hàng hoá được sản xuất theo yêu cầu của thị trường.

Tác động tích cực của nền kinh tế thị trường là tạo ra sức mạnh cạnh tranh giữa các nhà sản xuất trên thị trường. Nó đòi hỏi nhà sản xuất phải làm mọi cách để hạ giá thành sản phẩm, áp dụng máy móc, tiến bộ khoa học kỹ thuật để nâng cao số lượng và chất lượng sản phẩm.

Bên cạnh mặt tích cực đó, sự cạnh tranh khóc liệt của những qui luật kinh tế lại là mối đe doạ nghiêm trọng đến sự tồn tại của những làng nghề thủ công truyền thống trong đó có làng Gốm Bàu Trúc.

Đầu tiên là là qui luật giá cả và mức hao phí sức lao động bình quân mà xã hội chấp nhận. Qui luật này chỉ rõ giá cả và hao phí sức lao động để tạo ra một sản phẩm có giá cả trung bình mà thị trường đó chấp nhận. Nghĩa là, không phải sản phẩm nào tốn nhiều sức lao động thì luôn bán được giá cao. Đồng thời, do kinh tế thị trường phát triển nhanh, việc mở rộng thị trường diễn ra dễ dàng hơn nên đòi hỏi sản phẩm phải được sản xuất hàng loạt để đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của ngừi tiêu dụng. Chính qui luật này đã tác động đến sản phẩm thủ công truyền thống. Bởi lẽ, đặc trưng của những sản phẩm này là không thể sản xuất hàng loạt dễ dàng và thường ngừi sản xuất tốn rất nhiều sức lao động để có thể tạo ra một sản phẩm. Như vậy, đặc trưng này dường như đối lập hoàn toàn với tính tất yếu của nên kinh tế thị trường. Và một khi sản phẩm nào không thể đáp ứng được những yêu cầu của thị trường thì tính tất yếu sẽ bị đào thải.

          Thứ hai là về lớp nghệ nhân kế tục trong các làng nghề truyền thống, lực lượng nghệ nhân có trình độ tay nghề cao, có tâm huyết với nghề, là những hạt nhâm để duy trì và phát triển làng nghề. Họ là cơ sở cho sự tồn tại bền vững của làng nghề trước mọi thăng trầm và đẩm bảo duy trì những nét độc đáo truyền thống của các làng nghề.

Vai trò của nghệ nhân có tính chất quyết định đến sự tồn tại và phát triển của bất kỳ một làng nghề nào. Nghệ nhân được coi là linh hồn của các làng nghề truyền thống. Thế nhngw hiện nay, nguy cơ thiếu lực lượng nghệ nhân kế thừa đã trở thành một thực trạng khá phổ biến trong các làng nghề truyền thống, không riêng gì làng gốm Bàu Trúc.

          Qua khảo sát thực tế về độ tuổi đang tham gia sản xuất tại làng gốm Bàu Trúc cho thấy: (Bảng số liệu A2, phụ lục 2)

          

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3.1.4. Để pháp triển làng nghề bền vững

3.2. Giải pháp quản lý làng nghề truyền thống gốm Bàu Trúc ở Ninh Thuận

3.2.1. Giải pháp quy hoạch, kế hoạch

3.2.2. Giải pháp về nguồn vốn đầu tư, quản bá và tìm kiếm thị trường

3.2.3. Giải pháp về tổ chức và quản lý nhà nước, đạo tạo nguồn nhân lực

 

 

 

Tiểu kết chương 3

          KẾT LUẬN

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.                 Ngọc An, Phan Xuân Biên, Phan Văn Dốp (1991), Văn Hóa Chăm, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

2.                                   Bùi Văn Vượng (2002), Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội.

3.                  Từ Trang (2001), Nghề cổ nước Việt Nam, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội.

4.                  Phạm Công Sơn (2004), Du khảo nhân văn: làng nghề truyền thống Việt Nam” Nxb Văn Hoá Dân Tộc, Hà Nội.

5.                  Nguyễn Văn Đại, Trần Văn Luận (1997), Tạo việc làm thông qua khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

6.                  Phan An, Phan Xuân Biên, Phan Văn Dốp (1991), Văn hoá Chăm, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

7.                 Phan Quốc Anh (2006), Nghi lễ vòng đời của người Chăm Ninh Thuận, Nxb Van hoá dân tộc, Hà Nội.

8.                  Inrasara (2008), Văn hóa xã hội chăm nghiên cứu và đối thoại, Nxb Văn học, Hà Nội.

9.                  Trần Ngọc Khánh (1981), Một số đặc trưng văn hoá dân tộc trong nghề gốm và nghề dệt của người Chăm ở Thuận Hải”

10.             Trần Công Nguyện (1996), Nghề thủ công cổ truyền của người Chăm ở Việt Nam, luận văn tốt nghiệp tiến sĩ tại Viện khoa học xã hội và Nhân Văn

11.             Minh Phong (1997), Làng gốm Chăm – Bàu Trúc tỉnh Ninh Thuận, luận văn thạc sĩ Đại học Văn Hoá thành phố Hồ Chí Minh.

12.             Ban Chấp hành trung ương (2014), Nghị quyết 33 của Hội nghị BCH Trung ương 9 khóa XI, hà Nội.

13.             Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2006), Thông tư số 1/2007/TT-BCN, Hà Nội.

14.             Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn (2006), Thông tư số 01/2007/TT-BCN, Hà Nội

15.             Văn Món (2001), Nghề gốm cổ truyền của người Chăm Bàu Trúc – Ninh Thuận”, công trình nghiên cứu

16.             Luật di sản Văn hoá năm 2001 (sửa đổi bỏ sung 2009), Nxb Chính trị Quốc gia

17.             Unesco (2003), Công ước quốc tế về di sản văn hoá

18.             Mai Thế Hởn, Hoàng Ngọc Hòa (2003), Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb trẻ, TP.HCM.

 

19.             Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ lao động – Thương binh xã hội và Bộ văn hoá – Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể Thao và Du lịch) (2002), Thông tư liên tịch số 41/2002/TTLT/BNN-BLĐTBXH-BVHTT, hà Nội

20.             Bộ Công Nghiệp (nay là Bộ Công Thương) (2007), Thông tư số 01/2007/TT-BCN, Hà Nội.

21.             Mai Thế Hởn, Hoàng Ngọc Hoà (2003), Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Trẻ, TP.HCM

22.             Chương trình phối hợp Hội Nông dân – Sở Công nghiệp (2006): Tài liệu tập huấn quy trình sản xuất gốm mỹ nghệ Bàu Trúc, Ninh Thuận.

23.             Hoàng Lương (1988), Hoa Văn Thái, Nxb Văn hoá Dân tộc

24.             Văn Món (2001), Nghề gốm cổ truyền của người Chăm Bàu Trúc – Ninh Thuận, Nxb Văn hoá thông tin.

25.             Nguyễn Hồ Phong (2009), Bảo tồn và phát triển làng nghề thổ cẩm Mỹ Nghiệp Ninh Thuận trong nền kinh tế thị trường. Đề tài nghiên ccusw khoa học cấp khoa, trường Đại hóc Văn hóa TP.HCM.

26.             Dương Bá Phượng (2012), Phát triển bền vững vùng Trung Bộ, thực trạng, vấn đề và giải pháp, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

27.             Võ Quang Trọng Bảo (2010), Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể, Nxb Hà Nội, Hà Nội.

28.             Chính phủ (2018), Nghị định 52/2018/NĐ-CP về phát triển ngành nghề nông thôn

29.             Đặng Kim Chi (2012), Làng nghề Việt Nam và Môi trường, Nxb Khoa học và Kỹ thuật.

30.             Vũ Độ (2011), Phát triển làng nghề truyền thống ở Tp. Hồ Chí Minh: Mỗi làng một sản phẩm, http://www.baohaiquan.vn, ngày 19/3/2016

31.             Mai Thế Hởn (2003), Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

32.             Nguyễn Kim Loan (chủ biên) (2014), Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

33.             Nguyễn Thịnh (2012), Di sản văn hóa Việt Nam - Bản sắc và những vấn đề về quản lý, bảo tồn, Nxb Xây dựng, Hà Nội

34.             Trần Quốc Vượng (1996), Kỷ yếu hội thảo quốc tế “bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống Việt Nam”

35.             Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1999), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin.

36.             Lê Chi Mai “Những vẫn đề cơ bản về chính sách và chính sách công” NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh – 2001.

37.             Trần Thị Minh Châu (2007), Về chính sách khuyến khích đầu tư ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội.

38.             Ban chấp hành trung ương (2014), Nghị quyết 33 của hội nghị Ban chấp hành trung ương 9 khoá XI, Hà Nội.

39.             Thủ tướng Chính phủ (2004), Nghị định số 134/2004/NĐ-CP, Hà Nội.

40.             Thủ tướng Chính phủ (2005), Nghị định số 88/2005/NĐ-CP, Hà Nội

41.             Thủ tướng Chính phủ (2006), Nghị định số 66/2006/NĐ-CP, Hà Nội

42.             UBND tỉnh Ninh Thuận ( 2009 ), , Quyết định số 79/2009/QĐ-UBND, Ninh Thuận.

43.             Kỷ yếu hội thảo khoa học (2009), Nghề và làng nghề thủ công truyền thống, tiềm năng và định hướng phát triển. Thừa Thiên Huế.

 

 

 

 

 

 

 

 

 



[1] Phan Quốc Anh.(2007)…trang.23.


 [A1]Lưu ý hình thức trình bày phải chuẩn, phông chữ, cỡ chữ, căn lề page set up

văn hóa học

Đăng nhận xét

Mới hơn Cũ hơn