BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH
BÀI LUẬN VỀ DỰ
ĐỊNH NGHIÊN CỨU
Họ và tên ứng
viên: Nguyễn Quang Vinh
Tên đề tài,
lĩnh vực dự định nghiên cứu:
“Quản
lý hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi ở TP. Hồ Chí Minh”
Ngành dự
tuyển: Quản lý văn hóa
Mã số: 9229042
ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
Tên đề tài: Quản lý hoạt động Biểu diễn âm nhạc
thiếu nhi
tại TP. Hồ Chí Minh
A.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý
do lựa chọn đề tài
Nhạc thiếu nhi hay nhạc
nhi đồng là thể loại âm nhạc được sáng tác dành cho đối tượng trẻ em. Nhạc thiếu
nhi vừa mang chức năng giải trí vừa mang chức năng giáo dục. Các sáng tác âm nhạc thiếu nhi có nội dung tốt sẽ là những
bài học sinh động dạy trẻ em biết về văn hóa của các địa phương, vùng miền trên
cả nước, giúp các em cảm nhận được cái đẹp - thẩm mỹ, hướng các em đến những điều
tốt đẹp và cách cư xử đẹp trong cuộc sống. Bằng hoạt động âm nhạc, các em sẽ biết
yêu thương, sẻ chia, giúp đỡ lẫn nhau, hiểu hơn những điều mới mẻ trong thực tế
cuộc sống, và có các kỹ năng cần thiết cho bản thân sau này.
Tuy nhiên, quá trình hoạt động và phát triển của âm nhạc thiếu nhi, từ nhiều
năm qua tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), cả lĩnh vực sáng tác lẫn tổ chức biểu
diễn âm nhạc thiếu nhi đang dần thiếu vắng và gần như không còn có nhiều hoạt động
như trước. Trong thực tế, còn thiếu những chương trình ca nhạc thiếu nhi chất
lượng, quy mô, được chú trọng đầu tư dàn dựng để phục vụ trực tiếp cho khán giả
nhỏ tuổi, đáp ứng kịp thời nhu cầu giải trí, giao lưu, thưởng thức nghệ thuật của
con trẻ; thiếu những tay viết nhạc – nhạc sĩ tài năng và tâm huyết trong sáng
tác âm nhạc dành riêng cho thiếu nhi. Đặc biệt, chúng ta hoàn toàn thiếu cơ chế
riêng cho hoạt động của các loại hình nghệ thuật dành cho thiếu nhi nói chung
và biểu diễn âm nhạc thiếu nhi nói riêng, mặc dù, đây là những hoạt động khó
thu lợi nhuận, rất “đặc thù”.
Tại TP.HCM cách đây vài năm, ở khu trung tâm TP.HCM - công viên 23-9, chính
quyền thành phố chỉ đạo thực hiện đầu tư xây dựng sân khấu Sen Hồng. Đây là
công trình văn hóa công cộng, một điểm diễn văn hóa nghệ thuật cho các đơn vị
nghệ thuật, thường xuyên tổ chức các chương trình biểu diễn ca múa nhạc, hát bội,
xiếc, múa rối... phục vụ khán giả thành phố. Đặc biệt, sân khấu Sen Hồng có nhiều
chương trình được dàn dựng phục vụ đối tượng khán giả thiếu nhi, phục vụ những
ngày cuối tuần và miễn phí.
Nhưng, từ trước khi đại dịch Covid-19 bùng phát tại TP.HCM khoảng một năm,
sân khấu này đã bị đóng cửa, bỏ không, dù khu vực này đến nay vẫn chưa được quy
hoạch đưa vào khai thác sử dụng cho bất cứ mô hình nào. Sân khấu ca nhạc thiếu
nhi ở các Nhà thiếu nhi, Trung tâm văn hóa, Trung tâm hoạt động thanh thiếu nhi
các quận huyện tuy có nhưng hoạt động những rất thưa thớt, kém chất lượng, thiếu
sức cuốn hút. Không còn những chương trình có màu sắc vui tươi, sân khấu trang
hoàng “hoành tráng”, hấp dẫn, lung linh dễ thu hút lứa tuổi nhỏ… vì không có
nguồn kinh phí lớn “rót”, “cấp” để đầu tư thực hiện.
Trên sóng truyền hình, những năm qua vẫn luôn có các chương trình gameshow
dành cho thiếu nhi, tạo sân chơi âm nhạc cho con trẻ, nhưng, hầu hết là sự xuất
hiện và biểu diễn của các em thiếu nhi thể hiện tác phẩm âm nhạc người lớn; các
em biểu diễn, khoe những tài năng sớm trước tuổi và phục vụ cho công chúng như
những tiết mục “lạ”, trò “hot”... Trong khi đó, khán giả nhỏ tuổi không còn những
chương trình dành cho mình, các chương trình phát trên sóng Đài Tiếng nói Nhân
dân TP.HCM, đài truyền hình TP.HCM có hình thức quá cũ kỹ, khó thu hút, hấp dẫn
các em cũng như không tạo sự quan tâm của phụ huynh.
Ở một phương diện khác, các sản phẩm nhạc lan tràn và không thể kiểm soát trên
các trang mạng Youtube, Zing, Nhạc của tui hoặc các trang mạng tự phát, các
trang mạng xã hội… trở thành là nguồn giải trí, thưởng thức âm nhạc cho tất cả
mọi người, trong đó có trẻ em. Có thể nói rằng, các em đang nghe nhạc của người
lớn, học cách thể hiện âm nhạc theo kiểu người lớn, thu nhận những nội dung âm
nhạc vô tội vạ, không chọn lựa. Không có những sản phẩm âm nhạc hay trang mạng
dành cho lứa tuổi nhỏ, các em không được định hướng về cảm thụ âm nhạc, xây dựng
thị hiếu, thẩm mỹ lành mạnh và dễ dàng sa lầy vào những xu hướng âm nhạc không chất
lượng, vô bổ, tiếp xúc với những bài hát có ca từ phản cảm, phản thẩm mỹ, hài
nhảm nhí...
Trong thực tiễn, lực lượng thiếu nhi, nhi đồng, thanh thiếu niên dưới 15 tuổi
đang sinh sống và học tập tại TP.HCM có số lượng rất lớn. Chỉ tính riêng các
trường tiểu học (cấp 1) đóng trên địa bàn TP.HCM hiện nay có 593 trường (lứa tuổi
học sinh từ 7 tuổi đến 11 tuổi). Mỗi trường sẽ có từ 1.000 đến hơn 1.200 học
sinh (5 khối lớp) tham gia học tập. Như vậy, chỉ riêng học sinh các lớp khối cấp
1 của TP.HCM sẽ ở khoảng hơn 700.000 học sinh đang đến trường (tuy nhiên, còn có
nhiều học sinh không được đến trường vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, dân nhập
cư từ các tỉnh thành đến TP.HCM làm ăn, sinh sống...). Số liệu trên cho thấy, tổng
số học sinh lứa tuổi theo học hoặc đang theo học tại các trường Mầm non, Tiểu học
và Trung học phổ thông ở TP.HCM có thể vượt qua con số vài triệu.
Có thể thấy, hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi tại TP.HCM gần như đang
bị bỏ lửng ở nhiều phương diện, chưa được sự quan tâm đầy đủ của cơ quan, tổ chức
có trách nhiệm, kể cả các cơ quan chức năng, hội chuyên ngành, tổ chức thông
tin truyền thông v.v… Hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi rất cần có một công
trình nghiên cứu nghiêm túc, đầy đủ để có thể đưa hoạt động này vào quỹ đạo và
có thể phát huy chức năng của âm nhạc đối với trẻ em.
2. Mục
đích nghiên cứu
Đề tài “Quản lý hoạt động biểu diễn âm nhạc
thiếu nhi tại Thành phố Hồ
Chí Minh” nhằm các mục đích
nghiên cứu sau:
- Nhận diện được những tác động, giá trị của hoạt động biểu diễn âm
nhạc thiếu nhi đối với trẻ em tại TP.HCM;
- Nghiên cứu
điều kiện, yêu cầu đối với việc tổ chức,
biểu diễn hoạt động âm nhạc thiếu nhi trên địa bàn TP.HCM;
- Hình thức và nội dung, thực trạng của các hoạt động biểu
diễn âm nhạc thiếu nhi trong thời gian 5 đến 10 năm (từ 2010 – 2025) và nhận diện được nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi trong thời
gian qua;
- Xác định giải pháp quản
lý hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi phù hợp với điều kiện
của TP.HCM hiện nay và trong tương lai.
- Nghiên cứu và
đề xuất kiến nghị các cơ chế, quy định pháp luật về hoạt động biểu diễn âm
nhạc dành cho thiếu nhi.
3.
Đối tượng và
phạm vi nghiên cứu
-
Đối tượng
nghiên cứu: là quản lý hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi.
-
Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: thành phố Hồ Chí Minh (Nhà Thiếu nhi TP.HCM, Nhà thiếu quận
3, Nhà thiếu nhi Huyện Nhà Bè, Đài Truyền hình TP.HCM, Đài Tiếng nói nhân dân
TP.HCM)
+ Phạm vi thời gian: Từ năm 2010 (2015)
đến nay. Ứng viên
chọn thời gian này do có thể khảo sát
thời gian
này các sản phẩm, chương trình hoạt động biểu diễn âm nhạc dành cho thiếu nhi ở nhiều thời kỳ khác nhau và nhất là giai đoạn gần đây, hoạt động này có
phần dần lắng
lại và có chiều hướng chuyển sang thị trường kinh doanh. Với nhiều giai đoạn khác nhau, đề tài sẽ có thể nhận diện được xu hướng
của hoạt động biểu diễn nhạc thiếu nhi, nhất là khi nền kinh tế thị trường tác
động, đã xuất hiện nhiều hoạt động không có lợi cho sự định hướng phát triển
tâm lý tích cực trong nhận thức của trẻ em về sau.
+ Nội dung nghiên cứu chủ yếu là âm nhạc dành cho thiếu nhi, hoạt động
biểu diễn dành cho thiếu nhi, bao gồm cả những hoạt động do người lớn và thiếu
nhi thực hiện cũng như những người tham gia trong hoạt động này như: nhạc sĩ
sáng tác, nghệ sĩ biểu diễn, nhà tổ chức, các đơn vị quản lý, giáo dục, đào tạo
âm nhạc thiếu nhi v.v…
4. Câu
hỏi nghiên cứu
Đề tài xác định những câu hỏi nghiên cứu cơ bản như sau:
-
Hoạt động
biểu diễn âm nhạc thiếu nhi có đủ về chất lượng, số lượng để phục vụ đối tượng
thiếu nhi trên địa bàn TP.HCM?
-
Các hoạt động
biểu diễn âm nhạc thiếu nhi hiện nay đã phù hợp về hình thức và nội dung đúng với
lứa tuổi thiếu nhi hay không?
-
Nguyên nhân của những
hạn chế, những vấn
đề đặt ra đối với trong hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi hiện nay?
-
Cần có những hoạt động quản lý, những quy định hoặc cơ chế đặt thù về hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi như thế nào?
5.
Giả thuyết nghiên cứu
- Hoạt động biểu diễn âm
nhạc thiếu nhi có những
tác động, ảnh hưởng đến
giáo dục, rèn luyện đối với trẻ em tại TP.HCM.
- Thực
trạng của các hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi có những tồn tại, hạn chế và có những nguyên nhân, tác động khách quan cũng như chủ quan;
- Để định hướng, tổ chức thực hiện tốt, điều chỉnh việc tổ chức, biểu diễn hoạt động âm nhạc thiếu nhi trên địa bàn
TP.HCM rất cần có điều kiện, yêu cầu
riêng và có những cơ chế đặc thù để đảm bảo hoạt động này phục vụ tốt nhu cầu và
sự nghiệp giáo dục thiếu nhi.
- Có những giải pháp,
biện pháp hỗ trợ, cơ chế, quy định pháp luật giúp quản lý tốt, phát huy được
giá trị của hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi trong điều kiện hiện nay;
6. Phương
pháp nghiên cứu
Đề tài sẽ sử dụng phương pháp liên
ngành, bao gồm các phương pháp thuộc các ngành khoa học; Quản lý văn hóa, Văn hóa học, Xã hội học, thống kê
học, Âm nhạc dân tộc học... Trong đó:
+ Với ngành Quản lý văn hóa: thể hiện qua việc sử dụng những
quy định hiện hành của nhà nước về quản lý biểu diễn, phát huy hoạt động biểu diễn nghệ thuật trong giáo dục lứa
tuổi nhỏ; phân tích
vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước về quản lý nghệ thuật biểu diễn, vận dụng nghệ thuật
trong giáo dục lứa tuổi nhỏ
+ Với ngành Văn hóa học: thể hiện qua việc phân tích những giá trị văn hóa của âm nhạc nói chung và
hoạt động biểu diễn nói riêng đối với lứa tuổi nhỏ; những giá trị của âm nhạc
thiếu nhi đối với đời sống tinh thần, định hướng giáo dục thẩm mỹ, tình cảm cho
lứa tuổi;
+ Ngành Xã hội học: thông qua thực hiện các cuộc khảo
sát phiếu, phỏng vấn sâu những người làm công tác tổ chức biểu diễn, cán bộ quản lý, nhạc
sĩ, nghệ sĩ và một số
công chúng nhỏ tuổi
hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi; từ đó nhận diện loại hình nghệ thuật này
về mặt yêu cầu, đặc điểm, nội dung… và những tồn tại trong thực tế. Luận án cũng sử
dụng Phương pháp định tính và định lượng: Thống kê, điều tra, phân tích… xã hội học. Cụ thể, luận án sẽ sử dụng các Phương pháp -
kỹ thuật khảo sát, phân tích, tổng hợp tài liệu được sử dụng để thu thập,
nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài. Phương pháp này được sử dụng nhằm
kế thừa các thành quả của những nghiên cứu trước đó, phân tích để thấy được sự
thay đổi của hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi hiện nay để cần có sự quản
lý phù hợp.; phỏng vấn sâu giúp thu thập được thông tin từ nhiều nhóm đối tượng
như quản lý nhà nước, các nhà tổ chức chương trình và các em thiếu nhi đang
tham gia hoạt động biểu diễn âm nhạc.
+ Ngành Âm nhạc
học: những phân tích từ các số liệu thu thập được do sử dụng các phương pháp
nghiên cứu điều tra xã hội học, luận án sẽ sử dụng các lý thuyết nghiên cứu của
ngành Văn hóa học kết hợp với ngành Âm nhạc học, lý giải nguyên nhân, những yếu tố cốt lõi, đặc trưng âm nhạc và tính giá trị của
hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi để đưa ra những phương án, giải pháp, mô
hình phù hợp; tham mưu, đề xuất những chính sách, chế độ có thể định hướng, hỗ
trợ, giúp cho hoạt động này ngày càng tốt hơn và có thể đạt được yêu cầu, phat
huy tốt vai trò của thể loại âm nhạc trong đời sống hiện nay.
7.
Ý nghĩa khoa
học và thực tiễn của đề tài
Về mặt khoa học: Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần kiến giải những vấn đề liên quan
đến khoa học quản lý hoạt động biểu diễn âm nhạc nói chung và âm nhạc thiếu nhi
nói riêng; khẳng định thực tiễn về hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi cũng
là một nội dung cần được nghiên cứu nghiêm túc và có thể sẽ đóng góp cho khoa
học quản lý văn hóa nói chung và quản lý nghệ thuật biểu diễn nói riêng.
Giới thiệu được việc áp dụng trong thực tiễn nghiên cứu những lý thuyết
nghiên cứu của các ngành khoa học: Quản lý Văn hóa, Văn hóa học, Xã hội học và
Âm nhạc học; thể hiện tính chất liên ngành của khoa học quản lý Văn hóa và việc
sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành
Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu có thể là những giải pháp, đề xuất nội dung, hình
thức, phương pháp tổ chức biểu diễn âm nhạc thiếu nhi, đưa ra những đề xuất về quy
phạm pháp luật, quy định về hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi; Những nội
dung, yêu cầu, hình thức tổ chức, quản lý hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu
nhi. Dựa trên những kết quả nghiên cứu, cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị
hoạt động về thiếu nhi có cơ sở khoa học về công tác quản lý, tổ chức, quy định
cụ thể về hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi.
B.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Vấn đề nghiên cứu là một hướng mới trong ngành
quản lý Văn hóa. Bởi trước nay, những loại hình nghệ thuật đều được nghiên cứu
về công tác quản lý Văn hóa một cách riêng lẻ (những tài liệu nghiên cứu về
loại hình biểu diễn của sân khấu kịch, sân khấu kịch hát truyền thống như Cải
Lương, sân khấu ca nhạc…) không mang tính tổng hợp mà lại chuyên sâu về một nội
dung, một đối tượng như đề tài “Quản lý Văn hóa đối với hoạt động biểu diễn âm
nhạc thiếu nhi”. Nhạc thiếu nhi về thể loại có thể hiện diện trong nhiều hình
thức, môi trường khác nhau: từ “Game Show” đến chương trình biểu diễn trên phát
thanh, truyền hình; từ hoạt động phong trào của chính các em trong trường học
cho đến các chương trình doanh thu - phục vụ, từ hoạt động biểu diễn trên sân
khấu thực tế đến các nội dung được đưa lên trên không gian mạng v.v… Do vậy, sự đa dạng trong hình thức thể hiện cũng như môi trường
đòi hỏi phải nghiên cứu mở rộng từ nhiều hướng. Tuy nhiên, ngược lại với thực
tế đa dạng, đề tài nghiên cứu “Quản lý Văn hóa đối với hoạt động biểu diễn âm
nhạc thiếu nhi” hầu như chưa có công trình, nghiên cứu đã được công bố. Đặc
biệt, ngay trong giới âm nhạc, những nghiên cứu về nhạc thiếu nhi cũng không
nhiều… Đây là một thách thức đối với đề tài.
Từ đặc điểm này, những nội dung liên quan đến
đề tài nghiên cứu tập trung các hướng sau:
- Nhóm các văn bản liên quan đến nội dung tài
“Quản lý Văn hóa đối với hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi”: bước đầu, có
thể hiện nay văn bản về hoạt động biểu diễn nghệ thuật chủ yếu là Nghị định số:
144/2020/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2020 Quy định về hoạt động nghệ thuật biểu
diễn; Chỉ thị số 65/CT-BVHTTDL Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch năm 2012 về Chấn chỉnh hoạt động
tổ chức biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang.
Các Nghị định, chỉ thị… này quy định chung về hoạt động nghệ thuật biểu
diễn nhưng trên thực tế hoạt động nghệ thuật biểu diễn nói chung và hoạt động
biểu diễn âm nhạc dành riêng cho lứa tuổi thiếu nhi đang có nhiều bất cập, chưa
có một quy định riêng dành cho hoạt động
đặc thù này.
- Nhóm các đề tài, công
trình về quản lý văn hóa, Văn hóa học, xã hội học có liên quan nghệ thuật biểu
diễn nói chung như: Kỷ yếu
hội thảo: “Thực trạng và giải pháp để
phát triển ngành nghệ thuật biểu diễn” của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch,
Cục Nghệ thuật biểu diễn năm 2006;
- Nhóm các công trình nghiên cứu về âm nhạc thiếu
nhi và vấn đề giáo dục thiếu nhi bằng âm nhạc: “Quyền được ca hát của trẻ em” nhạc sĩ Trương Quang Lục, bài tham luận “Âm nhạc thiếu nhi trong đời sống âm nhạc TP. Hồ Chí Minh” Kỷ yếu hội thảo Hội
Âm nhạc TP.HCM 2018; “Tác động của âm nhạc đến thiếu nhi” Tiến sĩ, nhạc sĩ Lê
Chí Hiếu, bài tham luận “Âm nhạc thiếu nhi trong đời sống âm nhạc TP. Hồ Chí Minh” Kỷ yếu hội thảo Hội
Âm nhạc TP.HCM 2018; Ca khúc thiếu nhi trong “Thế giới phẳng” thời đại của kỹ
thuật số và Internet, của nhạc sĩ Bảo Huy, bài tham luận “Âm nhạc thiếu nhi trong đời sống âm nhạc TP.
Hồ Chí Minh” Kỷ yếu hội thảo Hội Âm nhạc TP.HCM 2018; “Thiếu
nhi trong đời sống âm nhạc TP. Hồ Chí Minh, nhạc sĩ Nguyễn Văn Chung, bài tham luận “Âm nhạc thiếu nhi trong đời sống âm nhạc TP. Hồ Chí Minh” Kỷ yếu hội thảo Hội
Âm nhạc TP.HCM 2018; “Giáo dục âm nhạc trong học đường và vấn đề định hình thẩm
mỹ âm nhạc cho giới trẻ” Thạc sĩ, nhà lý luận phê bình âm nhạc Nguyễn Cẩm Lệ, bài tham luận “Âm nhạc thiếu nhi trong đời sống âm nhạc TP. Hồ Chí Minh” Kỷ yếu hội thảo Hội
Âm nhạc TP.HCM 2018;
- Nhóm các công trình
nghiên cứu về nghệ thuật biểu diễn âm nhạc: “Quản
lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang - Còn nhiều khoảng
cách” của Như Hoa năm 2014, http://www.baomoi.com, ngày 31/3/2014; “Hoạt động nghệ thuật biểu diễn thời hội nhập:
quản lý như thế nào” của Tuệ Diễm năm 2015, http://hanoimoi.com.vn, ngày 13/11/2015; “Làm sạch môi trường biểu diễn” Minh Hải năm
2015, http://vhttdlkv3.gov.vn,
ngày 29/4/2015;
Ngoài ra, các số liệu thực
tế từ các nhà tổ chức biểu diễn âm nhạc thiếu nhi có thể tham khảo như:
+ Về các đơn vị nhà nước: Đài Truyền hình TP.Hồ Chí Minh, Đài Tiếng nói
nhân dân TP.Hồ Chí Minh, Nhà Thiếu nhi TP.Hồ Chí Minh, Nhà Thiếu nhi 21 quận
huyện và TP. Thủ Đức,.. tổ chức biểu
diễn các chương trình âm nhạc thiếu nhi chưa thu hút được sự quan tâm của các
em, số lượng chương trình còn khiêm tốn, giờ phát sóng chưa phù hợp, địa điểm
biểu diễn chỉ phụ vụ được một nhóm nhỏ chưa lan rộng, chưa có một chương trình
âm nhạc dành cho thiếu nhi định kỳ hàng ngày, hàng tuần…
+ Về các đơn vị tư nhân, công ty tổ chức sự kiện: Phần lớn chạy theo
thị hiếu phong trào và lượt xem để thu quảng cáo mà quên đi phần nội dung, vì
vậy thời gian gần đây có nhiều chương trình game show cho các em lứa tuổi thiếu
nhi hát nhạc có nội dung yêu đương ủy mị không phù hợp với lứa tuổi các em…
+ Nhóm Nhạc sĩ sáng tác ca khúc thiếu nhi: Hiện nay lực lượng này có
nhưng mỏng, các nhạc sĩ trẻ sáng tác có phù hợp theo dòng chảy âm nhạc và đáp
ứng nhu cầu thưởng thức của các em nhưng còn hạn chế về số lượng tác phẩm, đa
số các nhạc sĩ có những ca khúc thiếu nhi quen thuộc nay đã lớn tuổi và phần
lớn bị trùng lặp với các ca khúc đã “đóng đinh” trước đó.
Tóm lại, như nêu trên, “Quản lý hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi
dành cho thiếu nhị tại Thành phố Hồ Chí Minh” là hướng nghiên cứu chưa được
thực hiện mặc dù thực tế còn nhiều tồn tại, vấn đề. Đây là đề tại cần được thực
hiện sớm để góp phần đưa hoạt động biểu diễn nói chung, hoạt động biểu diễn âm
nhạc thiếu nhi đóng góp tích cực vào đời sống tinh thần của người dân thành
phố, góp phần giáo dục đạo đức, thẩm mỹ cho thể hệ trẻ và trở thành một nội
dung có thể phát huy tiềm năng văn hóa, nghệ thuật cũng như kinh tế cho Thành
phố Hồ Chí Minh.
C.
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1.
Cơ sở lý thuyết, lý luận, cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết, lý luận: Luận án bước đầu xác định một số cơ sở lý luận
để nghiên cứu làm cơ sở đề xuất quy định về hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi,
tìm ra sự tồn tại những điều chưa phù hợp đi đến phát triển hoạt động này theo
hướng tích cực trong thời gian sau.
Cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu:
Ứng viên dự kiến các cách tiếp cận sau:
- Tiếp cận từ
quan điểm quản lý nhà nước về văn hóa
Cách tiếp cận
này được thể hiện thông qua việc sử dụng các văn bản pháp quy hiện hành về lĩnh
vực nghệ thuật biểu diễn âm nhạc.
-
Tiếp cận dựa trên khung lý thuyết về
Văn hóa học, Âm nhạc học: nhằm xác định giá trị của âm nhạc, âm nhạc thiếu nhi
đối với con người; về chức năng của âm nhạc và ứng dụng lý thuyết chức năng; về
vấn đề nghiên cứu văn hóa – âm nhạc trong thời đại ngày nay;
- Tổ chức hội thảo về hoạt động biểu diễn âm
nhạc thiếu nhi để tìm ra những vấn đề còn tồn tại hiện nay và tìm hướng mới.
- Phỏng vấn các nhóm quản lý, nhà tổ chức, nhạc
sĩ sáng tác về âm nhạc thiếu nhi.
- Tham gia các hội thảo chuyên đề, các chương
trình thực tế về hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi.
- Thống kê số liệu các về hoạt động biểu diễn âm
nhạc thiếu nhi.
- Tham khảo phương pháp đào tạo về quản lý hoạt
động biểu diễn các nước tiên tiến
2.
Kết quả nghiên cứu và phân tích đánh giá
B. PHẦN NỘI
DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1.
Cơ sở lý
luận
1.1.1.
Một số khái niệm
- Khái niệm về thiếu nhi
Theo các
văn bản quốc tế và các chương trình của Liên Hợp quốc hiện nay sử dụng đồng thời
cả hai khái niệm trẻ em và người chưa thành niên. Theo đó, Liên Hợp Quốc quy định
người thành niên là người đủ 18 tuổi và người chưa thành niên là người chưa đủ
18 tuổi. Như vậy có thể thấy thiếu nhi là những người dưới 18 tuổi. Có sự quy định
trên do thiếu nhi là những chủ thể còn non nớt về trí tuệ và thể chất. Đây là đối
tượng cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ về mặt pháp lý, trước
cũng như sau khi ra đời.
Theo quy định
tại Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam năm 2004 quy định
thì: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”. Từ khi Luật trẻ em
năm 2016 có hiệu lực thi hành thì đã quy định cụ thể và chi tiết hơn về trẻ em.
Cụ thể tại điều 1 Luật trẻ em 2016 cũng quy định độ tuổi của trẻ em là dưới 16
tuổi.
-
Khái niệm về biểu diễn
nghệ thuật
-
Khái niệm về âm nhạc
thiếu nhi
-
Khái niệm về hoạt động
biểu diễn âm nhạc thiếu nhi
1.1.2.
Lý thuyết chức năng và ứng dụng lý thuyết
chức năng của âm nhạc trong nghiên cứu
1.1.3.
Tác động của
âm nhạc và biểu diễn âm nhạc trong giáo dục thiếu nhi
- Những tác động tốt đối với thiếu nhi từ hoạt
động biểu diễn âm nhạc
-
Hậu quả của sự chệch hướng trong hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi
1.1.4. Mối quan hệ giữa quản lý nhà nước và hoạt động
biểu diễn âm nhạc
1.2 Cơ sở
thực tiễn
1.2.1. Hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi
1.2.2 Nguyên tắc cơ bản tổ chức quản lý chương trình
âm nhạc
1.2.3 Quản lý về hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu
nhi
Tiểu kết
Chương 2: QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN ÂM NHẠC TẠI TP.HỒ CHÍ MINH.
2.1. Thực trạng
hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi
2.1.1. Những kết quả đạt được của hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi TP.HCM
2.1.2. Những tồn tại, yếu kém về chất lượng, số lượng của hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi TP.HCM
2.1.3. Thiếu nhi TP.HCM - đối tượng, nội dung, chủ thể sáng tạo của hoạt động
biểu diễn âm nhạc thiếu nhi tại TP.HCM
2.2. Thực trạng
của công tác quản lý văn hóa trong hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi tại
TP.HCM
2.2.1. Quản lý nhà nhà nước qua các văn bản pháp lý
và chính sách dành cho hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi
2.2.2. Quản lý nhà nước về nhạc sĩ, nghệ sĩ hoạt động
lĩnh vực âm nhạc dành cho thiếu nhi
2.2.3. Quản lý nhà nước về nội dung, tác phẩm âm nhạc
dành cho thiếu nhi
2.3. Nguyên nhân
tồn tại của hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi tại TP.HCM
Tiểu kết
Chương 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN ĐỂ QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG BIỂU
DIỄN ÂM NHẠC THIẾU NHI
3.1. Định hướng của Đảng và Nhà nước trong việc
bảo vệ, phát huy giá trị hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi
3.2. Tác động của bối cảnh kinh tế - văn hóa
– xã hội trong hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi
3.3. Vai trò của Cơ chế chính sách về quản lý hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi
3.4. Kiến nghị đối với quản lý hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi
3.5. Các giải pháp quản lý
hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi
- Giải pháp đối với chủ thể sáng tạo
- Giải pháp cơ chế, chính sách
- Giải pháp khuyến khích vật chất, tạo phong
trào, thúc đẩy sáng tạo trong hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi
Tiểu kết
D. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
D.1. Kết luận
Nội dung
kết luận cụ thể của luận án, ứng viên NCS sẽ đưa ra sau khi có kết quả nghiên cứu
chính thức, đầy đủ và đáng tin cậy.
D.2. Kiến nghị
Nội
dung chi tiết của các kiến nghị sẽ được ứng viên NCS đưa ra sau khi đề tài
nghiên cứu hoàn thiện. Dưới đây là một số đơn vị mà ứng viên NCS dự kiến sẽ đề
xuất kiến nghị:
- Thành ủy, Uỷ ban Nhân dân TP. HCM
- Sở
Văn hóa và Thể thao TP.
HCM
-
Các đơn vị sự nghiệp nghệ thuật công: Đài truyền hình, Đài phát thanh, các nhà thiếu nhi quận huyện và TP. Thủ
Đức, nhà thiếu nhi TP.HCM
-
Trường Cao đẳng văn hóa nghệ
thuật TP.HCM, Nhạc viện TP.HCM.
- Hội
Âm nhạc TP.HCM, Liên hiệp
các Hội VHNT TP.HCM, Hội nhạc sĩ Việt Nam…
E.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ĐƯỢC TRÍCH DẪN VÀ SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN
1.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Nghệ thuật biểu diễn (2006), Kỷ yếu hội
thảo: Thực trạng và giải pháp để phát triển
ngành nghệ thuật biểu diễn, Hà Nội.
2.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam (2009), kỷ
yếu hội thảo: Công nghiệp văn hóa Việt
Nam, thực trạng và giải pháp, Hà Nội.
3.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2012), Chỉ thị số 65/CT-BVHTTDL về Chấn chỉnh hoạt động tổ chức biểu diễn nghệ
thuật, trình diễn thời trang.
4.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí
Minh (2013), kỷ yếu hội thảo: Kinh tế
trong văn hóa, văn hóa trong kinh tế, Thành phố Hồ Chí Minh.
5.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2013), Thông tư số 03/TT-BVHTTDL Quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 79/2012/NĐ-CP.
6.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2014), Quyết định Số 26/QĐ-BVHTTDL ban hành kém theo Đề án cấp thẻ hành
nghề cho nghệ sỹ trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn.
7. Chris Barker (2011), Nghiên cứu Văn hóa: lý thuyết và thực hành (Dịch: Đặng Tuyết Anh),
Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội.
8. Tuệ Diễm (2015), “Hoạt động nghệ thuật biểu diễn thời hội nhập:
quản lý như thế nào”, http://hanoimoi.com.vn, ngày 13/11/2015.
9. Minh Hải (2015), “Làm sạch môi trường biểu diễn”, http://vhttdlkv3.gov.vn,
ngày 29/4/2015.
10. Như Hoa (2014), “Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật, trình
diễn thời trang - Còn nhiều khoảng cách”, http://www.baomoi.com, ngày 31/3/2014.
11. Học viện hành chính quốc gia (1994), Giáo trình về quản lý nhà nước tập III, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội.
12. Học viện Chính trị quốc gia Thành phố Hồ Chí
Minh (2004), Khoa học quản lý, Nxb.
Lý luận chính trị, Hà Nội.
13. Hội Đồng quốc gia chỉ đạo
biên soạn từ điển Bách khoa Việt Nam (2005), Từ điển bách khoa Việt Nam, tập 4, Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội.
14. Hội Âm nhạc TP.HCM (2011), Kỷ yếu hội
thảo: “Âm nhạc TP.
Hồ Chí Minh – Thực trạng và giải pháp”.
15. Hội Âm nhạc TP.HCM (2018), Kỷ yếu hội
thảo: “Âm nhạc thiếu
nhi trong đời sống âm nhạc TP. Hồ Chí Minh”.
16. Lê Ngọc Hùng (2015), Lịch sử & lý thuyết xã hội học, Nxb. Đại
học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
17. Khoa Quản lý kinh tế
(Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) (2004), Khoa học quản lý, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội.
18. Trần Thị Phương Lan (2013), “Để các hoạt động tổ
chức biểu diễn nghệ thuật phát triển lành mạnh”, http://www.tuyengiao.vn, ngày 12/9/2013.
19. Nguyễn Thị Tuyết Mai (2011), Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật ca -
múa - nhạc dân tộc trong các đoàn nghệ thuật quân đội, luận văn thạc sỹ.
20. Nhiều tác giả (2006a), Sức mạnh của thiết kế điều tra, Nxb.
Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội.
21. Nhiều tác giả (2006b), Giải
pháp phát triển nghệ thuật biểu diễn, Nxb. Sân khấu, Hà Nội.
22. Nhiều tác giả (2009), Giáo trình chính sách văn hóa, Nxb. Đại
Học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội.
23. Trần Ngọc Giàu, Trần Bạch Đằng và cộng sự (2018), Địa chí Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, Tập
I, II, III, IV, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.
24. Nguyễn Xuân Nghĩa (2010), Phương pháp & kỹ thuật trong
nghiên cứu xã hội, Nxb.Đại Học Mở Bán Công Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố
Hồ Chí Minh.
25. Thủy Nguyên (2015), “Quản lý hoạt động biểu diễn Nghệ thuật
- Trám kẽ hở trong Nghị định 79” http://www.baohaiphong.com.vn,
ngày 12/7/2015.
26. Đinh Thị Phương (2012), “Cần siết chặt quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật và
có chế tài đủ sức răn đe”, http://laocai.gov.vn,
ngày 25/7/2012.
27. Lê Thị Hoài
Phương (2016), Quản lý hoạt động nghệ thuật biểu diễn trong cơ chế thị trường,
Nxb. Sân Khấu, Hà Nội.
28. Phan Thọ (2009), Mấy vấn đề về công
chúng của nghệ thuật sân khấu, Nxb. Sân Khấu, Hà Nội.
29. Thủ tướng Chính phủ (1995), Nghị định
số 87/CP Về tăng cường quản lý các hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa, đẩy mạnh
bài trừ một số tệ nạn xã hội nghiêm trọng.
30. Thủ tướng Chính phủ (2006), Nghị
định số 11/NĐ-CP về Quy chế hoạt động
văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng.
31. Thủ tướng chính
phủ (2008), Nghị định số 69/2008/NĐ – CP về chính sách khuyến khích xã hội hóa
đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể
thao, môi trường.
32. Thủ tướng Chính phủ (2009), Nghị
định số 103/NĐ-CP kèm theo Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn
hóa công cộng.
33. Thủ tướng Chính phủ (2010), Nghị định số 75/2010/NĐ-CP về Quy định xử phạt
vi phạm hành chính trong hoạt động văn hoá.
34. Thủ tướng Chính phủ (2012), Nghị định
số: 79/2012/NĐ-CP ngày 05 tháng 10 năm 2012 Quy định về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn
thời trang; thi người đẹp và người
mẫu; lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu.
35. Thủ tướng Chính phủ
(2013), Quyết định số 2631/QĐ – TTg về:
Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội Tp. Hồ Chí Minh đến năm 2020, tầm nhìn đến
năm 2025.
36. Thủ tướng Chính phủ (2013), Nghị định số
158/NĐ-CP về Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa,
thể thao, du lịch và quảng cáo.
37. Thủ tướng chính
phủ (2014), Nghị định số 59/2014/NĐ – CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị
định số 69/2008/NĐ – CP về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt
động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường.
38. Thủ tướng Chính phủ (2014), Quyết định số 1456/QĐ-TTg về Phê
duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển nghệ thuật biểu diễn đến năm 2020, định hướng
đến năm 2030.
39. Thủ tướng Chính
phủ (2015), Quyết định số 1400/QĐ-TTg về
việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển văn hóa, gia đình, thể dục thể
thao và du lịch vùng Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030.
40. Thủ tướng Chính
phủ (2016), Nghị định số: 15/2016/NĐ-CP Sửa đôi, bổ sung một số điều của Nghị định số 79/2012/NĐ-CP ngày 05 tháng 10 năm 2012 Quy
định về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; thi người đẹp và người mẫu; lưu hành, kinh
doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu.
41. Thủ tướng Chính
phủ (2017), Nghị định số: 28/2017/NĐ-CP ngày 20 tháng 3
năm 2017 Sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 131/2013/NĐ-CP ngày 16
tháng 10 năm 2013 của chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền
tác giả, quyền liên quan và nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm
2013 của chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa,
thể thao, du lịch và quảng cáo.
42.
Thủ tướng Chính phủ (2020), Nghị
định số: 144/2020/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2020 Quy định về hoạt động nghệ
thuật biểu diễn.
43. Tổng Cục Thống kê Việt Nam (2020), Niên giám thống kê 2019, Nxb. Thống Kê,
Hà Nội.
44. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1999), Đại từ điển Tiếng Việt,
Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
45. Văn hóa học những phương pháp nghiên cứu;
46. Trí tưởng tượng và sáng tạo nghệ thuật của thiếu nhi (sách của Nga).
F.
KINH
NGHIỆM NGHIÊN CỨU CỦA ỨNG VIÊN
Ứng viên đã có thời gian công tác 11 năm trong ngành Văn hóa và 12 năm
công tác chuyên môn tại Hội Âm nhạc TP.HCM. Hiện nay, bản thân vẫn đang công tác tại Hội Âm nhạc TP.HCM và tham gia thỉnh giảng tại Trường
Cao đẳng Văn hóa, Nghệ thuật TP.HCM. Tuy nhiên, với đặc thù nhiều năm làm công
việc quản lý, ứng viên cảm thấy chưa có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên
cứu khoa học. Ứng viên đã tham gia và tổ chức một số hội thảo khoa học của đơn
vị. Tuy nhiên, cảm thấy còn hạn chế trong lĩnh vực này. Quá trình công tác đã
tạo cơ hội cho ứng viên được gặp gỡ, học hỏi về các vấn đề liên quan đến chủ đề
dự định nghiên cứu cùng các nhà khoa học, và các đồng nghiệp. Ứng viên tin
tưởng rằng, những kiến thức đã tích lũy trong quá
trình học tập, những kinh nghiệm nhất định trong nghiên cứu khoa học và trong hoạt
động thực tiễn sẽ là tiền đề nhận thức tốt để có thể tiếp tục ở bậc học nghiên
cứu sinh.
Những hạn chế của bản thân
cũng là động lực thôi thúc ứng viên quyết tâm theo đuổi hoạt động nghiên cứu
chuyên sâu vấn đề mà mình tâm huyết, mong muốn được tiếp tục học hỏi, nâng cao
sự hiểu biết, bồi đắp thêm kiến thức chuyên ngành và kỹ năng giải quyết trọn
vẹn một chủ đề khoa học.
Nếu được xét trúng tuyển là
nghiên cứu sinh của Trường Đại học văn hóa
TP.HCM, ứng viên sẽ hết sức cố gắng khắc phục hạn chế của bản thân, tích
cực tiếp cận, nghiên cứu thêm các nguồn tài liệu và dành tối đa thời gian cho
việc nghiên cứu để luận án tiến sĩ trở thành một công trình khoa học thực sự
chất lượng.
Các Hội thảo và chương
trình hoạt động âm nhạc mà ứng viên đã tổ chức và tham gia:
-
Hội thảo: “Âm nhạc TP. Hồ Chí
Minh – Thực trạng và giải pháp” do Hội Âm nhạc TP. Hồ Chí Minh tổ chức năm
2011, tham gia Trưởng Ban Tổ chức, cấp thành phố.
-
Hội thảo: “Âm nhạc thiếu nhi
trong đời sống âm nhạc TP. Hồ Chí Minh” năm 2018, tham gia Trưởng Ban Tổ chức,
cấp thành phố .
-
Tổ chức
các chương trình ca, múa nhạc thiếu nhi biểu diễn trực tiếp, quy hình và phát sóng
VTV, HTV: Giai điệu tuổi thơ, Âm nhạc tỏa sáng, Thiếu nhi thành phố Bác, Vườn
âm nhạc tuổi thơ, Em yêu làn điệu dân ca… với vai trò Chỉ đạo nghệ thuật, Giám
đốc sản xuất, Biên tập, hóa âm, sáng tác ca khúc (luân phiên)
- Bài báo khoa học “Hoạt động biểu diễn âm nhạc thiếu nhi Thành phố Hồ Chí
Minh – thiếu chiến lược phát triển”, tạp chí “LÝ
LUẬN PHÊ BÌNH VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT”, chỉ số ISSN: 0866-7349, số 2022.7.