BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN
VĂN THẠC SỸ
HOẠT ĐỘNG SẢN
XUẤT VIDEO NGẮN
DƯỚI GÓC
NHÌN QUẢN LÝ VĂN HOÁ
(TRƯỜNG HỢP CÔNG TY
CP TV HUB, QUẬN 1, TPHCM)
GVHD: PGS.TS. PHAN QUỐC ANH
TS. PHẠM PHƯƠNG THUỲ
Học
viên: NGUYỄN THỊ HẰNG NGA
Chuyên ngành: Quản lý văn hoá
Mã số: T22QL003
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2025
A.
MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
2.
Mục đích nghiên cứu
3.
Tổng quan tình hình nghiên cứu
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.
Lý thuyết nghiên cứu
6.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
7.
Phương pháp nghiên cứu
8.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
9.
Bố cục luận văn
B.
NỘI DUNG CHÍNH
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1.
Khái niệm
-
Video ngắn
-
Sản xuất video ngắn
-
Quản lý văn hóa
1.1.2.
Quy trình sản xuất video ngắn
1.1.2.1. Lập kế hoạch và xây dựng ý tưởng
1.1.2.2. Triển khai và giám sát quá trình sản
xuất
1.1.2.3. Phân
phối và đánh giá
1.1.3. Yều cầu trong sản
xuất video ngắn
1.1.3.1 Yêu cầu đối với quá trình sx
video ngắn
1.1.3.1.1 Đảm bảo tuân thủ các văn bản pháp luật và quy định trong quá
trình sáng tạo nội dung và sản xuất video ngắn
1.1.3.1.2. Cân bằng được yếu tố văn hoá và tính kinh tế trong quá trình
sản xuất và phát hành video ngắn.
1.1.3.1.3. Tạo điều kiện cho các chủ thể phát
huy tính sáng tạo
1.1.3.2. Yêu cầu đối sản phẩm video
ngắn
1.1.3.2.1 Yều cầu về hình thức thể hiện lành mạnh: video ngắn thể hiện
dưới thủ pháp nghệ thuật, kỹ thuật nhưng phải mang tính thẩm mỹ.
1.1.3.2.2 Yều cầu về nội dung: đảm bảo tính giáo dục và giải trí phù
hợp với người xem.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1
Ảnh hưởng của video ngắn đến đời sống văn hoá xã hội
1.2.1.1. Ảnh
hưởng tích cực của
video ngắn đến đời sống văn hoá xã
hội
1.2.1.2. Ảnh
hưởng tiêu cực của
video ngắn đến đời sống văn hoá xã
hội
1.2.2.
Tổng quan về hoạt động sản xuất video ngắn tại công ty cổ phần TV Hub
1.2.2.1 Quá trình hình thành và phát
triển của Công ty Cổ phần TV Hub.
1.2.2.2 Khái quát về hoạt động sản
xuất video ngắn của Công ty Cổ phần TV Hub.
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT VIDEO NGẮN TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN TV HUB DƯỚI GÓC NHÌN QUẢN LÝ VĂN HÓA
2.1.
Các văn bản pháp luật và các quy
định về
quản lý sản xuất video ngắn
2.1.1.
Chính sách pháp luật của nhà nước liên quan đến sản xuất video ngắn.
2.1.2.
Quy định của công ty TV Hub liên quan đến sản xuất video ngắn
2.2. Thực trạng sản xuất video ngắn tại công ty cổ phần TV Hub.
2.2.1 Thực trạng về quy trình sản xuất video ngắn
2.2.2. Thực trạng sản phẩm video ngắn
2.3.
Đánh giá chung
2.3.1. Kết quả được
2.3.2. Hạn chế
2.3.1 Nguyên nhân
CHƯƠNG 3:
GIẢI PHÁP QUẢN LÝ TRONG SẢN XUẤT VIDEO NGẮN TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN TV HUB
3.1.
Dự báo xu hướng phát
triển video ngắn tại VN
3.2.
Đề xuất giải
pháp
3.2.1. Nhóm giải pháp đối với kiểm soát quá trình sản xuất
3.2.1.1. Xây
dựng bộ quy tắc ứng xử cho người sáng tạo nội dung trên nền tảng của TV
Hub
3.2.1.2. Phát triển đội ngũ nhân lực
sáng tạo nội dung
3.2.1.3. Ứng dụng công nghệ trong
quản lý nội dung
3.2.1.4. Thúc đẩy hợp tác
giữa các bên liên quan trong kiểm duyệt nội dung
3.2.2. Nhóm giải pháp đối với kiểm soát chất lượng sản phẩm
3.3.
Kiến nghị
3.3.1. Đối với cơ quan quản
lý nhà nước
3.3.2. Đối với công ty cổ
phần TV Hub
C.
KẾT LUẬN
D.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
E.
PHỤ LỤC
MỞ
ĐẦU
1.
LÝ
DO CHỌN ĐỀ TÀI
-
Theo khảo sát của Younet Group, một trong
những tập đoàn hàng đầu thế giới về nghiên cứu xu hướng phát triển của nền tảng
số, hành vi và thói quen người dùng mạng xã hội, giai đoạn 2020-2025 chứng kiến
sự bùng nổ của video ngắn tại Việt Nam. Video ngắn trở thành định dạng nội dung được yêu thích nhất nhờ
tính tương tác cao và tính thực tế, được ưa chuộng hơn video dài, hình ảnh và
bài viết.
-
Sự phát triển bùng nổ của công nghệ số và thói quen người dùng nội dung nhanh
trên thiết bị di động đã làm xuất hiện một xu hướng truyền thông mới, đó là video
ngắn. Video
ngắn được thúc đẩy bởi sự phát triển của thế hệ Gen Z, nhóm người tiêu thụ nội dung lớn nhất trên các nền tảng
và dự kiến sẽ tiếp tục tăng trưởng vào năm 2026. Báo cáo Digital 2024 cho thấy
người dùng từ 16 đến 25 tuổi dành 3-4 tiếng mỗi ngày cho mạng xã hội.
Thêm một nghiên cứu cho thấy trong khi
Gen Y có thời gian chú ý khoảng 12 giây đầu thì Gen Z có khoảng thời gian chú ý
ngắn hơn, chỉ khoảng 6-8 giây đầu.
-
Video ngắn không chỉ là một hình thức giải trí
phổ biến, mà ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi, lối sống và tư duy của người xem,
đặc biệt là giới trẻ. Từ TikTok, Reels của Facebook, Instagram đến Shorts của YouTube,
video ngắn đã dần thay thế vị trí trung tâm của các định dạng truyền hình
truyền thống trong đời sống số. Việc video ngắn trở thành xu thế là một
tất yếu trong quá trình thay đổi phương thức tiếp cận thông tin của xã
hội hiện đại,
nơi sự ngắn gọn, sinh động và dễ chia sẻ là yếu tố cốt lõi.
-
Tuy
nhiên, cùng với sự phát triển nhanh về lượng, nội dung video ngắn trên không
gian mạng cũng đặt ra nhiều thách thức về mặt văn hóa, như sự
lan truyền thông tin sai lệch, nội dung phản cảm, ngôn ngữ lệch chuẩn hay việc
tiếp nhận văn hóa ngoại lai một cách thiếu chọn lọc. Trong bối cảnh đó, quản
lý văn hoá không chỉ dừng lại ở các quy định cứng từ phía cơ quan quản
lý nhà nước, mà còn cần đến những nguyên tắc đạo đức, những tiêu chuẩn nghề
nghiệp và sự tự điều chỉnh từ chính các đơn vị sản xuất. Việc nghiên cứu hoạt
động sản xuất video ngắn từ góc nhìn quản lý văn hoá vì thế mang ý
nghĩa thực tiễn cấp thiết, giúp hiểu rõ vai trò của tổ chức sản xuất
nội dung trong việc định hướng, gìn giữ và phát triển giá trị văn hoá trên
không gian mạng.
-
Trong
số các đơn vị sản xuất nội dung tại Việt Nam, TV Hub là một trường hợp tiêu biểu. Là công ty sản xuất các chương
trình truyền hình nổi tiếng như Shark Tank Việt Nam, Top Chef,
Nhập Gia Tùy Tục và đồng thời là một trong những đơn vị tiên phong
trong việc chuyển đổi nội dung truyền thống sang video ngắn, TV Hub đã thể hiện sự chuyên nghiệp, bài
bản trong tổ chức sản xuất, kiểm duyệt và truyền thông sản phẩm. Việc lựa chọn
TV Hub làm trường hợp nghiên cứu sẽ mang
lại cái nhìn cụ thể, sinh động về cách một đơn vị sản xuất lớn vận dụng
các nguyên tắc quản lý văn hoá trong thực tiễn sản xuất video ngắn, từ
đó rút ra những khuyến nghị cho cả góc độ quản lý nhà nước lẫn hoạt động sản
xuất nội dung xã hội.
2.
MỤC
ĐÍCH NGHIÊN CỨU
2.1
Mục đích
nghiên cứu:
Luận văn được thực hiện nhằm đề
xuất các giải pháp quản lý văn hóa phù hợp nhằm định hướng, phát huy những giá
trị tích cực và hạn chế những tác động
tiêu cực của video ngắn đến
đời sống văn hóa xã hội của người Việt Nam
hiện nay.
Để đạt được mục đích trên, luận văn cần thực hiện các mục tiêu sau
2.2.1 Hệ thông hoá cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về hoạt động sản xuất video
ngắn.
2.2.2
Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất
video ngắn và các yếu tố liên quan tại công ty TV Hub dưới góc nhìn quản lý văn
hóa.
2.2.3
Đề xuất giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng
và giá trị văn hóa của video ngắn do TV Hub sản xuất.
3.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
-
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả được tiếp cận một
số tài liệu nghiên cứu về hoạt động sản xuất video ngắn. Những tài liệu đó giúp
cho tác giả có thêm cơ sở lý luận và học hỏi được nhiều về cách tiếp cận với
công tác quản lý hoạt động sản xuất video ngắn. Để nghiên cứu về mặt lý luận
thì tác giả dựa vào các tài liệu sau:
3.1. Tài liệu nghiên cứu
về hoạt động sản xuất video ngắn
-
Đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của nội dung video trên
TikTok đến hành vi, thái độ của sinh viên Hà Nội” do nhóm tác giả Phạm
Thùy Trinh, Phạm Thị Yến, Hoàng Phi Yến, Trần Thị Hiên và Nguyễn Hồng Hạnh (Đại
học Kinh tế Quốc dân) thực hiện, nhằm làm rõ tác động của các dạng nội dung
video ngắn trên
TikTok tới hành vi và thái độ của sinh viên tại Hà Nội. Thông qua phương pháp
khảo sát 305 sinh viên và phỏng vấn sâu 15 sinh viên đang sử dụng TikTok,
nghiên cứu chỉ ra rằng TikTok có sức ảnh hưởng mạnh mẽ tới giới trẻ nhờ đặc
trưng nội dung ngắn, dễ tiếp cận, tính lan tỏa cao và cơ chế đề xuất cá nhân
hóa. Các nội dung giải trí chiếm
tỷ lệ lớn, trong khi đó các video giáo dục, truyền cảm hứng cũng tạo ảnh hưởng
tích cực tới nhận thức, hành vi học tập và xu hướng tiêu dùng của sinh viên. Tuy nhiên, bài nghiên cứu đồng thời
chỉ ra rằng sinh viên cũng dễ bị
tác động bởi các video có nội dung, hình ảnh phản cảm, giật gân, gây lệch lạc về thẩm mỹ và chuẩn mực ứng xử.
-
Đề tài nghiên cứu "Short Video Platforms and the
Emergence of a New Form of Social Media Content Production" của Tác giả: Guo, M. & Zhao, X. đăng trên Tạp chí Journal of
Broadcasting & Electronic Media năm 2020 đã phân tích sự trỗi dậy của
các nền tảng video ngắn như TikTok, Kuaishou và ảnh hưởng của chúng đối với
hành vi tiêu thụ
nội dung, thói quen giải trí. Nghiên cứu này đã cung cấp các thông
tin về định hướng hành vi của video ngắn, cũng như cách video ngắn tái định hình mối quan hệ giữa người sáng tạo nội dung và người xem. Các video ngắn có thời lượng ngắn, nội dung súc tích có thể
làm thay đổi cách người xem tiếp cận thông tin, khiến họ thích nội dung nhanh
gọn và dễ tiếp thu hơn. Điều
này có thể làm giảm khả năng tư duy sâu và phân tích thông tin của người xem. Theo đó, quản lý đối với người
sáng tạo nội dung
cần có tiêu chuẩn về tính chính xác và trách nhiệm khi truyền tải thông tin, đặc biệt đối với các
video văn hoá, giáo
dục, tin tức xã hội. Bên cạnh đó, video ngắn được thực hiện
bởi các cá nhân với tốc độ rất nhanh, với sự hỗ trợ của các phần mềm và công
nghệ, có thể lan truyền nhanh chóng, nên việc kiểm soát hình ảnh, thẩm mỹ là thách thức lớn.
-
Cuốn sách "The Art of Short Form
Content: From Concept to Color Correction" của tác giả Bryan Cook được xuất bản lần đầu vào ngày 21 tháng 12
năm 2015 cung cấp một hướng dẫn chi tiết về việc tạo ra nội dung phim ngắn, bao
gồm các thể loại như quảng cáo truyền hình, video ca nhạc, trailer phim và nhiều
hình thức khác có thời lượng dưới năm phút đã nêu ra rất rõ tầm quan trọng của việc thể hiện hình ảnh
đối với sản phẩm video ngắn, cách hình ảnh tác động đến nhận thức của người xem.
3.2. Tài liệu nghiên cứu
về quản lý văn hoá đối với phim và video
-
Bài bình luận đánh giá của tác giả Vũ Quỳnh với nội
dung “Kiểm soát văn hoá phẩm thời kỳ công nghệ số “vấn đề cấp bách” đăng trên
trang báo điện tử nhandan.vn ngày 12/08/2022 đề cập rằng các nhà quản lý văn hóa rất quan tâm vấn đề tiền
kiểm, hậu kiểm với dòng phim chiếu mạng. Mỗi ngày có
hàng nghìn sản phẩm phim ảnh được cập nhật trên các trang mạng, các nền tảng
công nghệ đòi hỏi phải có cách thức "kiểm duyệt" nhanh chóng, phù hợp
hơn để vừa bảo đảm quyền lợi của doanh nghiệp sản xuất phim, quyền được hưởng
thụ của công chúng, vừa khích lệ, động viên nghệ sĩ sáng tạo, nhưng đồng thời
cũng không bỏ lọt các sản phẩm có nội dung độc hại làm ảnh hưởng đến môi trường
văn hóa nói chung. Với
các quy định cụ thể trong Luật Điện ảnh sửa đổi 2022, vấn đề tiền
kiểm, hậu kiểm phim đã minh bạch, theo đó các cơ quan quản lý có một hành lang
pháp lý với những quy định cụ thể, rõ ràng làm cơ sở để xử lý những sai phạm nếu
xảy ra. Bài viết
cũng thừa nhận ở nhiều lĩnh vực khác như video ngắn, việc tiền kiểm, hậu kiểm vẫn
còn đang lúng túng,
chưa có tiêu chí và giải pháp rõ ràng.
-
Các
nghiên cứu trong nước và ngoài nước đều cho thấy những tác động tích cực và
tiêu cực của video ngắn đối với người xem. Tuy nhiên, dưới góc độ quản lý văn
chưa có công trình nghiên cứu làm rõ vai trò của quản lý văn hoá trong quá
trình sáng tạo, sản xuất và phát hành video ngắn, mang lại môi trường văn hoá
lành mạnh trên nền tảng truyền thông số. Các nghiên cứu hiện tại chưa làm rõ vai
trò của các chủ thể quản lý đối với việc quản lý nội dung, hình thức của video
ngắn trong quá trình nghiên cứu, đồng thời chưa xây dựng được
các tiêu chí phù hợp cho quá trình sáng tạo, sản xuất video ngắn.
4.
ĐỐI
TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Để làm rõ thực trạng và đề xuất phương án dựa theo mục tiêu nghiên cứu,
bài nghiên cứu thực hiện cụ thể như sau:
1.
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
-
Trong khuôn khổ của đề tài, tác giả chọn đối tượng
nghiên cứu chính là hoạt động sản xuất video ngắn từ góc nhìn quản lý văn hóa.
2.
PHẠM VI NGHIÊN CỨU
a.
Phạm vi không gian:
-
Công ty cổ phần TV HUB – 51
Nguyễn Cư Trinh Quận 1 – HCM và
không gian nền tảng mạng xã hội của công ty
b.
Phạm vi thời gian:
-
Thời gian nghiên cứu bắt đầu từ năm 2020 đến năm
2024. Lý do tác giả chọn thời gian này là 2020 là thời điểm bùng nổ của đế chế
video ngắn trên mạng xã hội. Đại dịch Covid khiến cho nhu cầu xem tại nhà tăng
vọt và Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ xem video trên mạng xã hội cao nhất Đông
Nam Á. Các thể loại video ngắn nhanh chóng được biến thành nhiều thể dạng khác
nhau phục vụ tối đa nhu cầu người xem. Cũng chính trong thời điểm này khi mọi sự
quan tâm, chú ý đều hướng tới đại dịch Covid nên việc kiểm soát nội dung, chất
lượng của video ngắn có phần bị nới lỏng và kéo dài đến hiện tại.
-
Phạm vi nội dung: sản xuất video bao gồm sáng tạo,
sản xuất và phát hành, và trong luận văn này chỉ trình bày phần sáng tạo và sản
xuất.
5.
LÝ
THUYẾT NGHIÊN CỨU
-
Lý thuyết quản lý tổng hợp và thích nghi (hay còn
được gọi là thuyết tích hợp trong quản lý) là sự tổng hợp và kế thừa những tư
tưởng tốt nhất của các lý thuyết cổ điển, lý thuyết tâm lý xã hội và lý thuyết
định lượng. Trong lý thuyết tích hợp có quan điểm quản lý quá trình của được đề
cập đến bởi Henri Ford từ năm 1903, nhưng chỉ thực sự phát triển vào năm 1960 bởi
Harold Koontz và các cộng sự. Quan điểm này cho rằng quản lý là một quá trình
liên tục của các chức năng quản lý trong đó bao gồm hoạch định, thực hiện, kiểm
soát, đánh giá. Sản xuất video ngắn là một quá trình bao gồm các bước sáng tạo
nội dung, sản xuất và phát hành. Áp dụng quan điểm này giúp tác giả xác định rõ
muốn quản lý sản xuất video ngắn thì cần áp dụng quản lý qúa trình.
-
Trong
bài nghiên cứu này, tác giả kết hợp lý thuyết quản lý và các chính sách pháp luật của nhà nước trong
quản lý mạng xã hội để đưa ra các nhận
định chặt chẽ hơn, đảm bảo việc sản xuất video ngắn được quản lý trong hệ quy
chiếu với các quy định của pháp luật. Luật An ninh mạng không chỉ nhằm bảo vệ an toàn thông tin mà
còn có tác động sâu rộng đến quản lý văn hóa trên không gian mạng. Điều 8 quy
định các hành vi bị cấm trên không gian mạng, trong đó có hành vi tuyên truyền
thông tin kích động bạo lực, hủy hoại thuần phong mỹ tục. Điều này giúp ngăn
chặn các nội dung video ngắn có yếu tố phản cảm, dung tục hoặc bôi nhọ văn hóa
truyền thống. Điều 16 và 17 quy
định trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc đăng tải thông tin chính
xác, tránh các nội dung gây hiểu lầm, xuyên tạc sự thật. Trong lĩnh vực sản
xuất video ngắn, điều này giúp hạn chế các nội dung bóp méo lịch sử, lan truyền
tin giả hoặc cổ xúy những quan điểm sai lệch. Điều 29 nhấn mạnh trách nhiệm của các doanh nghiệp
cung cấp dịch vụ trên không gian mạng trong việc phối hợp với cơ quan nhà nước
để quản lý nội dung. Điều này có ý nghĩa lớn trong việc yêu cầu các nền tảng
như TikTok, Facebook Reels và YouTube Shorts kiểm duyệt chặt chẽ hơn đối với
video ngắn có yếu tố vi phạm văn hóa. Bên cạnh đó, Luật An ninh mạng không chỉ mang tính
ràng buộc mà còn khuyến khích việc tạo ra những video ngắn có nội dung mang
tính giáo dục, lan tỏa giá trị văn hóa tích cực. Việc áp dụng luật một cách linh hoạt và hiệu quả sẽ
góp phần bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, giữ gìn sự trong sạch của không gian
mạng và nâng cao chất lượng nội dung trên các nền tảng số.
6.
CÂU
HỎI NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
6.1
CÂU HỎI
NGHIÊN CỨU
a.
Hoạt động sản xuất video ngắn tại công ty Cổ phần TV Hub như thế nào? Các sản phẩm của công ty
Cổ phần TV Hub có những ưu điểm và hạn chế gì về mặt giá trị văn hoá?
b.
Các chủ thể quản lý cần có giải pháp nào để nâng
cao hiệu quả sản xuất và chất lượng của video ngắn tại công ty Cổ phần TV Hub?
6.2
GIẢ THUYẾT
NGHIÊN CỨU
-
Quy
trình sản xuất video ngắn tại TV Hub được tổ chức chuyên nghiệp theo mô hình
sản xuất nội dung số, bao gồm các giai đoạn: lập kế hoạch,
xây dựng ý tưởng; triển khai và giảm sát quá trình sản xuất; phát hành và đánh
giá; đảm bảo yếu tố sáng
tạo và chất lượng kỹ thuật. Các sản phẩm video ngắn của TV Hub có ưu điểm về tính chuyên nghiệp, hấp
dẫn và thu hút sự quan tâm của khán giả, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế về sự
cân bằng giữa giá trị văn hóa và yếu tố giật tít, câu view và các yếu tố thương
mại.
-
Việc
xây dựng một quy trình kiểm duyệt nội dung chặt chẽ sẽ giúp cân bằng giữa yếu
tố thương mại và giá trị văn hóa trong sản phẩm của TV Hub. Sự phối hợp giữa TV
Hub và các cơ quan quản lý văn hóa, cùng với việc tuân thủ các quy định về nội
dung số, các quy định của pháp luật sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và đảm bảo tính
định hướng văn hóa trong các sản phẩm video ngắn. Hướng đến mục
tiêu xây dựng bộ quy tắc ứng xử cho người sáng tạo nội dung
trên nền tảng của TV Hub, ứng dụng công nghệ trong quản lý nội dung và hình ảnh giúp bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, giữ
gìn sự trong sạch của không gian mạng và nâng cao chất lượng nội dung trên các
nền tảng số.
7.
PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
Với đề tài này, tác giả
sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như:
-
Phương pháp tiếp cận liên ngành: Trong quá trình thực
hiện đề tài, tác giả sử dụng các quan điểm, tri thức của các nhà nghiên cứu thuộc
các chuyên ngành: quản lý văn hoá, văn hoá giải trí, sân khấu
điện ảnh có liên quan trực tiếp đến quy trình sản xuất video ngắn như kịch bản, quay phim… để có cách tiếp cận đa
chiều để có thể giải quyết khách quan các vấn đề đặt ra.
-
Phương pháp quan sát tham dự: học viên sẽ tham gia
vào quá trình sản xuất video, từ đó đánh giá được quy trình, tiêu chuẩn của các
khâu thực hiện nội dung, rà soát và chọc lọc nội dung của video ngắn.
-
Phương pháp nghiên cứu định lượng: Lập bảng hỏi để
thu thập số liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu. Sử dụng phương pháp này, học
viên hướng đến mục đích đo lường, phản ánh của khách tham quan của khán giả đối
với từng thể loại video, nội dung video được sản xuất.
-
Phương pháp nghiên cứu định tính: Với phương pháp này, học viên xâm nhập thực tế và phỏng vấn sâu cá nhân để phỏng vấn thu thập
thông tin từ nhiều đối tượng và có cái nhìn khách quan, đa chiều hơn. Thành phần phỏng vấn gồm: Trưởng bộ phận chọn lọc nội
dung, Trưởng bộ phẩn sản xuất video, Trưởng bộ phận kinh doanh video bán quảng
cáo, khán giả xem video ở nhiều lứa tuổi khác nhau.
-
Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp sẽ giúp học viên có thể phân tích và tổng hợp những thông tin
và số liệu thu thập được. Từ đó đề xuất giải pháp phát huy công tác quản lý nguồn
lực trong phạm vi nghiên cứu đề tài.
8.
Ý
NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN
8.1
Ý NGHĨA KHOA HỌC
-
Góp phần xây dựng lý luận về quản lý văn hóa
trong môi trường số (digital). Nghiên cứu này góp phần
bổ sung và làm phong phú thêm lý thuyết về quản lý văn hóa, đặc biệt là trong
bối cảnh số hóa và sự phát triển mạnh mẽ của video ngắn. Nghiên
cứu này giúp
chúng ta hiểu rõ hơn về các nguyên tắc, phương pháp và công cụ quản lý nội dung
số một cách hiệu quả, đảm bảo tuân thủ các giá trị văn hóa.
-
Đề tài có thể góp phần xây dựng khung lý thuyết về quản lý sản xuất video ngắn dựa trên các quy
định văn hóa, bao gồm các yếu tố như: hệ thống các quy định pháp luật và đạo
đức, cơ chế kiểm duyệt và giám sát, vai trò của các chủ thể tham gia (nhà sản
xuất, nền tảng, người dùng), và các biện pháp giáo dục và nâng cao nhận thức.
8.2
Ý NGHĨA THỰC TIỄN
-
Tài liệu nghiên cứu đối với các sinh viên ngành
truyền thông đa phương tiện và các ngành báo chí.
-
Giải
quyết thực trạng sản xuất video ngắn hàng loạt mỗi ngày với nội dung quá ngắn không truyền tải đầy đủ nội dung, ý nghĩa, thông điệp, định
hướng giáo dục đối với lượng người xem.
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1.
Khái niệm
-
Video
ngắn (Short Videos) là một loại video có độ dài
từ 60 giây đến 120 giây. Đây là một loại nội dung ngắn gọn, dễ tiếp
cận và thường được chia sẻ trên các nền tảng truyền thông xã hội như Instagram,
TikTok, Snapchat, Facebook, Twitter và YouTube. Tuy nhiên, tùy thuộc vào từng
nền tảng, thời lượng của video ngắn có thể khác nhau. Chẳng hạn như
Google cho rằng video ngắn là video có thời lượng dưới 10 phút, trong khi
Instagram, Reels thì định dạng video ngắn là dưới 90 giây. Và hiện tại, thị
trường Việt Nam đồng ý rằng video ngắn dưới 60 giây.
-
Video ngắn rất đa dạng
nội dung bao gồm nội dung giáo dục, tuyên truyền, văn hoá, giải trí.... Video
ngắn chính là một sản phẩm văn hoá đang được ưa chuộng bởi hàng tỉ người xem.
-
Sự khác nhau giữa video ngắn và video dài
|
Đặc điểm |
Video dài |
Video ngắn |
|
Thời lượng |
Thường từ 10 phút trở lên |
Thường dưới 1-3 phút, thị trường
và khán giả đang rất chuộng video dưới 1 phút |
|
Mục đích |
Truyền tải thông tin chi tiết, câu chuyện dài hoặc nội dung chuyên sâu |
Truyền tải thông tin ngắn gọn, không đào sâu, quảng cáo nhanh |
|
Cấu trúc nội dung |
Chi tiết, có nhiều phần, phát triển câu chuyện. |
Tập trung, đơn giản, vào thẳng vấn đề |
|
Chi phí sản xuất |
Cao hơn do yêu cầu nhiều cảnh quay và thời gian thực hiện |
Thấp hơn, ít yêu cầu về thời gian và cảnh quay |
|
Phân phối |
Thường phên các kênh có nội dung chuyên sâu như website, youtube.. |
Thường phát trên các kênh như tiktok, watch của Facebook, Reel… |
|
Ví dụ |
Phim, chương trình truyền hình, tài liệu.. |
Review, hậu trường, video marketing… |
1.1.2 Sản xuất video ngắn (Short Video Production):
-
Sản xuất video ngắn là quá trình tạo ra các nội
dung có định dạng là video thời lượng không quá 10 phút. Sản xuất video ngắn có
thể tạo ra bởi một cá nhân hoặc một tổ chức nhằm mục đích cung cấp thông tin,
tuyên truyền, giáo dục, giải trí đến với công chúng. Dù ngắn gọn, việc sản xuất video ngắn vẫn cần được thực hiện bài bàn, có quy trình để đảm bảo chất lượng và hiệu quả truyền tải thông điệp.
1.1.3 Điều kiện xuất hiện, phát triển video ngắn.
-
Tiktok ra đời định dạng video ngắn năm 2019 đã nổ
phát súng đầu tiên cho loại hình video ngắn trên thị trường truyền thông, thu
hút một lượng người xem không lồ và tăng trưởng chóng mặt. Video ngắn trở thành
tâm điểm khi tất cả các nền tảng khác như youtube, meta (tên gọi hiện tại của
facebook) đều thấy tính ưu việt của nó, đẩy mạnh phát triển bằng nhiều thuật
toán và chiến lược khác nhau, ví dụ như tiktok bằng cách tạo ra những filter,
hashtag độc đáo hoặc tung ra các thử thách video thú vị nhằm có thể khơi dậy
cơn sốt tự tạo nội dung và đăng tải từ người dùng.
-
Xu hướng sản xuất và xem video ngắn này chủ yếu xuất
phát do mức độ tập trung của người dùng đã giảm, cụ thể là thời gian tập trung
của Gen Z khi xem video chỉ là 5-6 giây. Trên nền tảng social media thì loại
bài đăng có sử dụng video dễ dàng thu hút người xem hơn. Video giúp truyền tải
thông điệp hoặc tính năng của sản phẩm, dịch vụ một cách sinh động, trực tiếp
hơn, chính vì thế, 93% những người làm marketing đã sử dụng video để thu hút
khách hàng. Trong một khảo sát mà tác giả thực hiện tháng 5/2024, trên tổng số
234 sinh viên cho thấy kết quả 51% sinh viên cho rằng việc học và tìm thông tin
kiến thức qua video ngắn kích thích và tạo hứng thú cho họ nhiều hơn là đọc
sách hoặc các văn bản có nội dung tương tự. Video ngắn khởi xướng cho những tò
mò, sau đó nhóm sinh viên này mới bắt tay vào tìm hiểu chuyên sâu thông qua các
kênh khác như sách, tài liệu hoặc các video dài.
-
Trên thế giới, video ngắn cũng phát huy tối đa thế
mạnh của nó khi các hãng tin tức mà điển hình là Las Veagas Review – Journal sử
dụng video ngắn và cực ngắn để thay thế cho các bản tin dài đã thành công vang
dội. Hoặc kênh ESPN – một trong những kênh thể thao lớn nhất thế giới đã dùng video
ngắn là công cụ lan truyền tin tức thể thao và đạt hiệu quả bất ngờ. Ở Việt
nam, chương trình Bản tin 60 Giây cũng là một thành công điển hình thành công của
video ngắn.
-
Một bối cảnh xã hội khác là đại dịch Covid 19 và
các quy định về giãn cách đã trở thành cú huých mạnh mẽ nhất cho nhu cầu chia sẻ
thông tin từ người dùng. Chưa kể đến là nhu cầu giải trí nhằm giải toả những
căng thẳng trong thời kỳ bức bối cuả đại dịch là một trong những nhu cầu thúc đẩy
sự phát triển nhanh chóng của video ngắn.
-
15 giây video ngắn của TikTok đã thực sự làm
nên cuộc cách mạng sáng tạo nội dung trên toàn cầu. Năm 2020, TikTok Việt bùng
nổ kéo theo sự lên ngôi của video ngắn và tạo ra một sân chơi sáng tạo không
giới hạn cho người dùng. Theo thống kê từ We Are Social, các ứng dụng mạng xã
hội và xem video là những ứng dụng phổ biến nhất trong tập người dùng từ 16-64
tuổi tại Việt Nam. Theo báo cáo “Ứng dụng di động 2021” do
Appota phát hành, TikTok Việt đã chứng tỏ sức hút không thể cưỡng lại của mình
khi ghi nhận 16 triệu lượt tải và đạt mức tăng trưởng 160% lượt tải trên iOS
trong năm 2020. Dưới đây là biểu đồ mô tả lượt tải ứng dụng Tiktok tại Việt Nam.

-
Tittok là một làn gió mới nhưng
vô cùng mạnh mẽ ở
thị trường Việt Nam khiến cho các nền tảng khác như
Youtube , Instagram không thể ngó lơ. Các nên tảng này đã chính thức nâng cấp tính năng video ngắn tại
Việt Nam với Youtube Shorts, Reel đã giúp
cho sự phát triển của video ngắn sôi động hơn bao giờ hết.
1.1.4
Quản lý văn hóa (Cultural Management)
-
Quản lý văn hóa là một quá trình có hệ thống, bao gồm tất cả các hoạt
động của nhà nước, các tổ chức xã hội và cá nhân nhằm tác động vào đời sống văn
hóa của xã hội, bao gồm cả việc xây dựng môi trường văn hóa, giáo dục văn hóa, bảo
tồn di sản văn hóa, phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, và phát huy các giá trị văn hóa. Đây là nền tảng của quản lý văn hóa, bao gồm việc nhận diện các
giá trị văn hóa vật thể (di tích, hiện vật) và phi vật thể (truyền thống, phong
tục, tập quán, ngôn ngữ, nghệ thuật), bảo vệ chúng khỏi sự mai một và khai
thác, sử dụng một cách hợp lý để phát huy giá trị.
-
Quản lý văn hóa là xây dựng, định hướng và điều
chỉnh các hoạt động văn hóa, bao gồm việc hoạch định chính sách, chương trình, kế hoạch và các
hoạt động văn hóa, nghệ thuật, nhằm định hướng sự phát triển của văn hóa theo mục
tiêu đã đề ra, đồng thời điều chỉnh các hoạt động này sao cho phù hợp với tình
hình thực tế và các quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, quản lý văn hoá là tổ chức, điều hành và kiểm
soát các nguồn lực văn hóa gồm nhân lực, vật
lực, tài chính dành cho các hoạt động văn hóa, đảm bảo sử dụng hiệu quả và tiết
kiệm. Quản lý văn hoá cũng bao gồm việc thiết lập các cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh
giá hiệu quả của các hoạt động văn hóa.
-
Quản lý văn hóa là một quá trình phức tạp, đa diện, đòi hỏi sự phối hợp
của nhiều yếu tố và sự tham gia của nhiều chủ thể. Mục tiêu cuối cùng của quản
lý văn hóa là xây dựng và phát triển một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc, đáp ứng nhu cầu tinh thần ngày càng cao của người dân và góp phần vào
sự phát triển bền vững của đất nước.
Trên cơ sở các khái niệm
trên, tác giả tổng hợp và đưa ra quan niệm
tiếp cận vấn đề sản xuất video ngắn dưới góc nhìn quản lý văn hoá như sau:
-
Quản lý văn hóa trong sản xuất video ngắn là định hướng sáng tạo nội dung video ngắn, quản lý quá trình sản xuất cần đặc biệt chú trọng đến việc xác định các giá trị văn hóa cần bảo tồn và phát
huy trong nội dung video như thuần phong mỹ tục, lịch
sử, văn hóa truyền thống… Xây dựng các quy định và cơ chế kiểm duyệt nội
dung video để đảm bảo nội dung không vi
phạm các giá trị văn hóa và pháp luật; khuyến khích sáng tạo nội
dung video lành mạnh và có giá trị văn hóa; Tạo môi trường cho các
nhà sáng tạo phát triển nội dung tích cực.
-
Vai trò của quản lý văn hóa trong sản xuất video ngắn vô cùng quan
trọng, đặc biệt trong bối cảnh nội dung số ngày càng phát triển mạnh mẽ. Quản
lý văn hóa không chỉ giúp đảm bảo video tuân thủ các quy định pháp luật và đạo
đức, mà còn góp phần định hình giá trị, bảo tồn bản sắc và tạo ra những sản
phẩm chất lượng, có ý nghĩa. Cụ thể, quản lý văn hóa đóng vai trò trong các
khía cạnh sau:
Định hướng nội dung và
giá trị văn hoá:
-
Quản lý văn hóa giúp xác định những giá trị văn hóa cốt lõi
cần được thể hiện và truyền tải thông qua video ngắn. Ví dụ như giá
trị truyền thống, lòng yêu nước, tình cảm gia đình, lối sống lành mạnh. Điều
này giúp video có mục đích rõ ràng và mang tính giáo dục. Quản lý văn hóa đảm bảo
nội dung video phù hợp với thuần phong mỹ tục, không vi phạm các giá trị đạo
đức xã hội và các quy định pháp luật. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối
cảnh nội dung số lan truyền nhanh chóng và có thể tác động mạnh mẽ đến người
xem, đặc biệt là giới trẻ. Quản lý văn hóa khuyến
khích việc xây dựng những thông điệp tích cực, mang tính xây dựng và lan tỏa
những giá trị tốt đẹp trong cộng đồng.
Kiểm soát và ngăn chặn
nội dung tiêu cực:
-
Quản lý văn hóa trong sản xuất video ngắn giúp ngăn chặn việc sản
xuất và phổ biến các video có nội dung vi phạm pháp luật như kích động bạo lực, tuyên
truyền văn hóa phẩm đồi trụy, vi phạm đạo đức, hoặc gây ảnh hưởng tiêu cực đến
tâm lý người xem như nội dung gây sợ hãi, lo lắng. Quản
lý văn hóa bao gồm việc thiết lập các cơ chế kiểm duyệt nội dung video trước
khi phát hành và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
Bảo tồn và phát huy bản
sắc văn hóa:
-
Video ngắn là một phương tiện hiệu quả để quảng bá và giới thiệu
các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc đến với công chúng, đặc biệt là
thế hệ trẻ. Quản lý văn hóa giúp đảm bảo việc quảng bá này được thực hiện một
cách chính xác và tôn trọng các giá trị văn hóa. Bên
cạnh đó, video
ngắn có thể được sử dụng để ghi lại và lưu giữ các di sản văn hóa vật thể và
phi vật thể, góp phần vào việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa cho các thế
hệ sau.
Nâng cao nhận thức và
trách nhiệm:
-
Quản lý văn hóa góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm
quan trọng của việc tuân thủ các giá trị văn hóa trong môi trường số. Nâng cao trách nhiệm của
người sáng tạo nội dung: Quản lý văn hóa giúp
người sáng tạo nội dung nhận thức rõ hơn về trách nhiệm của mình đối với xã hội
và cộng đồng, khuyến khích họ tạo ra những sản phẩm chất lượng và có ý nghĩa.
Tạo môi trường sáng tạo
lành mạnh:
-
Khuyến khích sáng tạo: Quản lý văn hóa không có nghĩa là hạn chế sự sáng tạo, mà là
định hướng sự sáng tạo theo hướng tích cực, khuyến khích việc tạo ra những nội
dung mới mẻ, sáng tạo nhưng vẫn đảm bảo tuân thủ các giá trị văn hóa.
-
Xây dựng hệ sinh thái văn hóa: Quản lý văn hóa góp phần xây dựng một hệ sinh thái văn hóa
lành mạnh trong lĩnh vực sản xuất video ngắn, tạo điều kiện cho các nhà sáng
tạo phát triển và đóng góp vào sự phát triển của văn hóa xã hội.
Tóm lại, quản lý văn hóa
là yếu tố then chốt đảm bảo sự phát triển bền vững của lĩnh vực sản xuất video
ngắn. Nó không chỉ giúp ngăn chặn những tác động tiêu cực mà còn tạo ra những
giá trị tích cực cho xã hội và cộng đồng. Để quản lý văn hóa hiệu quả, cần có
sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức xã hội, các
nhà sản xuất video và cộng đồng người xem.
1.1.2.
Quy trình sản xuất video ngắn
Quy
trình sản xuất video ngắn gồm 3 bước chính
Bước 1: Lập kế hoạch và xây dựng ý tưởng
Bước 2: Triển khai sản xuất và giám sát quá trình sản xuất
Bước 3: Phát hành và đánh giá
1.1.2.1. Lập kế hoạch và xây dựng ý tưởng

1.1.2.2. Triển khai và giám sát quá trình sản
xuất

1.1.2.3. Phân phối và đánh giá

1.1.3 Yều cầu trong sản
xuất video ngắn
1.1.3.1 Yêu cầu đối với quá trình sản
xuất video ngắn
Đảm bảo tuân thủ các văn bản pháp luật và quy
định trong quá trình sáng tạo nội dung và sản xuất video ngắn.
-
Trong
bối cảnh bùng nổ của các nền tảng video ngắn như TikTok, YouTube Shorts, và
Facebook Reels, việc tuân thủ các quy định pháp luật không chỉ là trách nhiệm
mà còn là yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp nội
dung số. Những quy định về bản quyền, quyền riêng tư, an ninh mạng và quản lý
nội dung số là nền tảng quan trọng để bảo vệ quyền lợi của người sáng tạo, khán
giả và cả nền tảng phát hành. Để đảm bảo nội dung phù hợp với văn hóa, đạo đức
xã hội và an ninh thông tin, nhiều bộ, ngành và đơn vị đã tham gia vào quá
trình giám sát và kiểm soát video ngắn trên không gian mạng.
-
Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT) là cơ quan chủ quản trong lĩnh vực
quản lý nội dung số. Bộ TT&TT ban hành các quy định để đảm bảo video không chứa nội dung
xấu độc, phản cảm hoặc gây ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội.
-
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) cũng đóng vai trò quan trọng trong
việc kiểm soát nội dung video liên quan đến văn hóa, nghệ thuật. Thông qua Cục
Điện ảnh và Cục Nghệ thuật biểu diễn, bộ này giám sát
các nội dung có yếu tố nghệ thuật, quảng bá văn hóa để đảm bảo không vi phạm
thuần phong mỹ tục, không xuyên tạc lịch sử hoặc ảnh hưởng đến bản sắc dân tộc.
-
Bộ Công an, đặc biệt là Cục An ninh mạng và Phòng chống tội
phạm sử dụng công nghệ cao (A05), có nhiệm vụ phát hiện và xử lý các
video có nội dung xuyên tạc, lừa đảo, kích động bạo lực hoặc xâm phạm quyền
riêng tư. Các vi phạm liên quan đến thông tin giả mạo, tuyên truyền chống phá
Nhà nước cũng thuộc phạm vi quản lý của đơn vị này.
-
Các quy định về an ninh mạng và bảo vệ thông tin cá nhân, như
Luật An ninh mạng 2018 tại Việt Nam và Quy định Bảo vệ Dữ liệu Chung (GDPR) của
EU, yêu cầu các nhà sáng tạo phải có trách nhiệm với nội dung đăng tải, tránh
lan truyền tin giả, kích động bạo lực hay vi phạm quyền riêng tư của người khác. Việc quản lý nội dung số còn liên quan
đến những yếu tố về văn hóa và đạo đức. Các quốc gia đều có quy định chặt chẽ
về kiểm duyệt nội dung, đảm bảo không đăng tải những thông tin vi phạm thuần
phong mỹ tục, cổ xúy các hành vi tiêu cực. Nếu không tuân thủ, video có thể bị
xóa, tài khoản bị hạn chế tiếp cận, ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của người sáng tạo.
-
Bên
cạnh sự quản lý từ phía nhà nước, các nền tảng mạng xã hội như TikTok, YouTube
và Facebook cũng có bộ phận kiểm duyệt nội dung theo chính sách nội bộ. Tuy
nhiên, để đảm bảo tuân thủ pháp luật Việt Nam, các nền tảng này vẫn phải hợp tác chặt chẽ với cơ quan
quản lý trong nước. Việc
kiểm duyệt video ngắn tại Việt Nam không chỉ là trách nhiệm của một cơ quan mà
đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều bộ, ngành và nền tảng mạng xã hội. Điều này giúp
bảo vệ không gian mạng lành mạnh, góp phần xây dựng một nền tảng truyền thông
số chuyên nghiệp và bền vững.
Cân bằng được yếu tố văn hoá và tính kinh tế
trong quá trình sản xuất và phát hành
video ngắn.
-
Trong
bối cảnh phát triển mạnh mẽ của công nghệ và mạng xã hội, video ngắn đã trở
thành công cụ quan trọng để truyền tải thông tin, quảng bá thương hiệu, đồng
thời góp phần bảo tồn và lan tỏa giá trị văn hóa. Tuy nhiên, việc cân bằng giữa
yếu tố văn hóa và kinh tế trong quá trình sản xuất video ngắn đang đặt ra nhiều
thách thức cho các công ty sản xuất nội dung. Trước hết, các công ty sản xuất nội dung cần xác định
rõ mục tiêu kép, một là vừa đảm bảo sản phẩm vừa mang tính giải
trí, hấp dẫn với khán giả đại chúng, hai là vừa truyền tải được thông điệp văn
hóa tích cực. Điều này đòi hỏi đội ngũ sáng tạo phải có sự hiểu biết sâu sắc về
giá trị văn hóa bản địa, đồng thời nhạy bén với thị hiếu khán giả và xu hướng
thị trường. Tính toán kỹ lưỡng tỷ lệ giữa yếu tố giải trí và văn hóa trong từng
video sẽ giúp nội dung vừa cuốn hút, vừa giàu giá trị, không rơi vào tình trạng
giáo điều hoặc thương mại hóa quá mức.
-
Một
trong những tiêu chí quan
trọng khi khai thác các
chất liệu văn hóa, đặc biệt là văn hóa truyền thống là tôn trọng tính chân thực
của văn hóa. Các công ty cần đảm bảo việc tái hiện hình ảnh, phong tục, tập
quán, ngôn ngữ và trang phục một cách chuẩn xác. Điều này không chỉ bảo vệ sự
nguyên bản của văn hóa mà còn nâng cao uy tín của thương hiệu nội dung. Các video
ngắn khi chạm đến yếu tố văn hóa phải đóng vai trò như cầu nối giúp công chúng
hiểu và trân trọng các giá trị truyền thống, thay vì chỉ lợi dụng yếu tố văn
hóa để câu view hay tạo hiệu ứng ngắn hạn.
-
Bên
cạnh yếu tố văn hóa, bài toán kinh tế cũng không thể xem nhẹ.
Các công ty sản xuất nội dung phải tính toán chi phí sản xuất hợp lý, khai thác
tối đa nguồn lực sáng tạo từ con người đến công nghệ. Việc lựa chọn đề tài, bối
cảnh, khách mời, âm nhạc hay hiệu ứng thị giác đều cần được cân nhắc dưới góc
nhìn chi phí và lợi nhuận. Tuy nhiên, tiêu chí kinh tế không đồng nghĩa với
việc cắt xén nội dung văn hóa hoặc làm sai lệch thông điệp ban đầu. Thay vào
đó, doanh nghiệp cần hướng tới các mô hình nội dung văn hóa hấp dẫn, dễ tiếp
cận nhưng vẫn giữ được chiều sâu, từ đó mở rộng tệp khán giả và khai thác giá
trị thương mại dài hạn.
-
Để
cân bằng hai yếu tố này, các đơn vị sản xuất cần xây dựng bộ tiêu chí rõ ràng,
trong đó đề cao tính sáng tạo có định hướng, đảm bảo tính giải trí không vượt
quá ranh giới văn hoá, đồng thời khai thác giá trị thương mại theo hướng văn
minh, không đánh đổi bằng nội dung giật gân, câu view rẻ tiền. Dưới góc nhìn quản lý văn hoá, tiêu
chí cân bằng văn hoá và kinh tế phải được lồng ghép vào quy trình kiểm duyệt và hậu kiểm, đảm bảo mỗi
video ngắn khi ra mắt vừa mang giá trị giải trí, kinh tế, vừa đóng góp tích cực
vào dòng chảy văn hoá hiện đại, thể hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
truyền thông trong bối cảnh hội nhập số và bảo vệ bản sắc văn hoá Việt Nam.
Tạo điều kiện cho các chủ thể phát huy tính sáng
tạo
-
Tạo điều kiện cho các chủ thể phát huy tính sáng tạo trong quản lý sản xuất video ngắn
không chỉ là yêu cầu mang tính kỹ thuật mà còn là yếu tố then chốt đảm bảo sự
đa dạng văn hóa, thúc đẩy dòng chảy sáng tạo và làm giàu thêm bản sắc văn hóa
đương đại. Việc phát huy tính sáng tạo không đơn thuần là khuyến khích các nhà
sản xuất nội dung tự do thể hiện ý tưởng cá nhân, mà còn phải đặt trong khuôn
khổ định hướng văn hóa quốc gia, bảo đảm sự hài hòa giữa sáng tạo cá nhân và
trách nhiệm xã hội, giữa khai thác yếu tố thị trường và bảo tồn giá trị văn hóa
truyền thống.
-
Video
ngắn, đặc biệt trên các nền tảng số, là dạng thức nội dung đòi hỏi cao về khả
năng biến hóa thông tin thành hình ảnh sinh động, súc tích,
thu hút người xem trong thời gian rất ngắn. Cho nên bản chất của sáng tạo trong video ngắn buộc người sáng tạo nội dung cần liên tục tìm tòi các cách
biểu đạt mới, áp dụng kỹ thuật dựng hiện đại, khai thác góc nhìn độc đáo hoặc
kết hợp văn hóa truyền thống với xu hướng đương đại. Chính sự sáng tạo phong
phú này làm nên hệ sinh thái nội dung đa dạng, phản ánh bức
tranh văn hóa sôi động của thời đại số.
-
Tuy
nhiên, trong vai trò người làm công tác quản lý văn hóa, việc tạo điều kiện
phát huy tính sáng tạo không đồng nghĩa với “thả lỏng hoàn toàn”. Tự do sáng
tạo cần đặt trong khuôn khổ tôn trọng bản sắc văn hóa dân tộc, không
xuyên tạc, bóp méo giá trị truyền thống hoặc lợi dụng sáng tạo để gây
sốc, phản cảm, chạy theo thị hiếu thấp kém. Ví dụ, việc sáng tạo các video ngắn
về ẩm thực đường phố có thể khuyến khích cách tiếp cận phá cách, nhưng không
được bôi nhọ, xuyên tạc hoặc xúc phạm giá trị văn hóa ẩm thực vốn có của địa
phương. Sự sáng tạo bền
vững trong video ngắn phải gắn liền với trách nhiệm cộng đồng,
tôn trọng giá trị đa dạng văn hóa và bảo vệ các đối tượng yếu thế về văn hóa
(dân tộc thiểu số, nghề thủ công truyền thống, di sản phi vật thể…). Người quản
lý văn hóa cần truyền thông, nâng cao nhận thức để các nhà sáng tạo nội dung
hiểu rằng mỗi sản phẩm sáng tạo không chỉ là “tài sản cá nhân” mà còn là một
phần của nền văn hoá đa sắc trên con đường hoà
nhập quốc tế. Phát huy tính sáng tạo trong sản xuất video ngắn, từ góc độ
quản lý văn hóa, là một bài toán cân bằng giữa tự do và kiểm soát,
giữa khuyến khích cá nhân và bảo vệ lợi ích văn hóa cộng đồng.
Quản lý tốt tiêu chí này không chỉ giúp ngành công nghiệp nội dung số phát
triển bền vững, mà còn đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng, quảng
bá và bảo tồn văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa.
-
Luật Điện ảnh 2022 (Luật số 05/2022/QH15) khuyến khích sản xuất tác phẩm đa dạng
về nội dung, phong cách thể hiện, đảm bảo không bóp nghẹt tính sáng tạo cá
nhân. Nghị quyết
23-NQ/TW về Định hướng chính sách phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030 Nêu rõ định hướng phát triển công
nghiệp văn hóa, trong đó nhấn mạnh “Tạo môi trường thuận lợi cho sáng tạo văn hóa nghệ thuật, tôn
trọng sự sáng tạo và tự do biểu đạt trong khuôn khổ pháp luật."
-
The Rise of the Creative Class dịch
sang tiếng Việt là Sự trỗi dậy của tầng lớp sáng tạo của tác giả Richard Florida, xuất bản năm
2002. Cuốn sách kinh
điển nghiên cứu về vai trò của sáng tạo trong các ngành công nghiệp sáng tạo, bao gồm cả
truyền thông đa phương tiện. Nhấn mạnh về việc môi trường quản lý cần khuyến khích sáng tạo cá
nhân và nhóm, tôn trọng sự khác biệt để kích thích sản phẩm đa dạng. Đề cập tới việc nhà quản lý cần đóng
vai trò "người khơi gợi" thay vì kiểm soát chặt chẽ. Hoặc
torng quyển sách Convergence
Culture - Henry Jenkins xuất bản năm 2006 có viết rằng Các nhà sản xuất truyền thông cần từ
bỏ một phần quyền kiểm soát và tạo ra cơ hội cho sự sáng tạo từ cộng đồng — nơi
người hâm mộ, nhà sáng tạo và chuyên gia cùng hợp tác để tạo ra nội dung có sức
lan tỏa trên nhiều nền tảng
"Media producers must relinquish
some degree of control and open up opportunities for grassroots creativity —
where fans, creators, and professionals collaborate to produce content that
resonates across platforms."
(Jenkins, 2006, p. 131)
1.1.3.2. Yêu cầu đối sản phẩm video
ngắn
Yều cầu về nội dung: đảm bảo tính giáo dục và
tính giải trí phù hợp với người xem.
-
Trong
bối cảnh phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội, video ngắn đã trở thành một loại
hình nội dung phổ biến, đặc biệt trong giới trẻ. Tuy nhiên, sự lan tỏa nhanh chóng của loại hình này đặt ra nhiều
thách thức về kiểm soát nội dung, đòi hỏi các nhà sản xuất và người dùng phải
tuân thủ nghiêm túc Luật An ninh mạng. Việc không kiểm duyệt kỹ nội dung có thể
dẫn đến việc lan truyền thông tin sai lệch, kích động thù hằn, xâm phạm đời tư
cá nhân, hoặc vi phạm thuần phong mỹ tục, gây ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh xã
hội và hình ảnh quốc gia. Nhằm
đảm bảo tuân thủ luật an ninh mạng trong quá trình sáng tạo nội dung và sản
xuất video ngắn, tác giả để xuất các tiêu chí sau:
a.
Tiêu
chí về nội dung thông tin
|
Tiêu chí |
Yêu cầu cụ thể |
Căn cứ pháp lý |
|
Chính xác |
Thông tin về văn hóa, lịch sử, địa
danh, con người phải đúng sự thật, không thêu dệt, cắt ghép gây hiểu nhầm. |
Điều 8, Điều 16 |
|
Không xuyên tạc, bịa đặt |
Không bóp méo văn hóa truyền thống,
tín ngưỡng; không vu khống, bôi nhọ cá nhân, tổ chức. |
Điều 8 |
|
Không kích động, chia rẽ dân tộc |
Không làm nội dung gây tranh cãi
vùng miền, chia rẽ tôn giáo, dân tộc. |
Điều 16 |
|
Bảo vệ trẻ em và người yếu thế |
Không khai thác hình ảnh trẻ em, người
khuyết tật, người yếu thế sai mục đích hoặc phản cảm. |
Điều 29 |
|
Không đăng tải nội dung vi phạm
thuần phong mỹ tục |
Hình ảnh, ngôn từ, trang phục, hành
động phải phù hợp thuần phong mỹ tục Việt Nam. |
Điều 8 |
b. Tiêu
chí về nguồn gốc và bản quyền
|
Tiêu chí |
Yêu cầu cụ thể |
Căn cứ pháp lý |
|
Ghi rõ nguồn gốc nội dung |
Nếu trích dẫn tư liệu, lời nhân
vật, phải ghi nguồn chính xác, tránh gây nhầm lẫn. |
Điều 17 |
|
Tôn trọng bản quyền hình ảnh, âm
nhạc |
Sử dụng nhạc, hình ảnh, footage
phải được cấp phép hoặc mua bản quyền hợp pháp. |
Điều 26 |
|
Không cắt ghép, lồng ghép sai sự
thật |
Không chỉnh sửa hình ảnh, lời nói
để phục vụ mục đích sai lệch. |
Điều 8 |
c.
Tiêu
chí về xử lý sai phạm
|
Tiêu chí |
Mô tả cụ thể |
Căn cứ pháp lý |
|
Xóa, gỡ nội dung vi phạm khi có yêu
cầu |
Tuân thủ yêu cầu của cơ quan chức
năng về gỡ bỏ nội dung sai phạm. |
Điều 16 |
|
Giải trình nguồn tư liệu, bối cảnh
quay |
Khi được yêu cầu, đơn vị sản xuất
phải cung cấp đầy đủ thông tin về nguồn tư liệu, nhân vật, bối cảnh. |
Điều 26 |
|
Phối hợp xử lý khi có tranh chấp |
Đơn vị sản xuất có trách nhiệm phối
hợp giải quyết khi có phản ánh từ cộng đồng, nhân vật. |
Điều 48 |
d.
Tiêu chí về bảo tồn văn hoá
|
Tiêu chí |
Yêu cầu cụ thể |
Tham chiếu quản lý văn hóa |
|
Tôn vinh bản sắc Việt Nam |
Khuyến khích nội dung lan tỏa giá
trị tốt đẹp về ẩm thực, con người, truyền thống văn hóa Việt. |
Đề án phát triển công nghiệp văn
hóa 2020 - 2030 |
|
Khuyến khích nội dung sáng tạo,
tích cực |
Nội dung nên khai thác câu chuyện
chân thật, nhân văn, giàu cảm xúc. |
Chiến lược phát triển truyền thông
số |
|
Hạn chế kịch tính hóa quá mức |
Không dàn dựng tình huống drama phi
thực tế làm méo mó nhận thức khán giả. |
Quy định kiểm duyệt nội dung mạng
xã hội |
|
Tôn vinh di sản, không thương mại
hóa thô thiển |
Không dùng yếu tố văn hóa truyền
thống để giật gân, câu view phản cảm. |
Nghị định 144/2020/NĐ-CP |
|
Không cổ súy mê tín dị đoan |
Nội dung văn hóa tín ngưỡng phải
dựa trên tư liệu, nghiên cứu khoa học, tránh thần thánh hóa quá mức. |
Điều 8 Luật An ninh mạng |
-
Áp
dụng các quy định của pháp luật trong quản lý sản xuất nội dung video ngắn,
việc tham chiếu với góc nhìn quản lý văn hoá là điều cần thiết. Các tiêu chí pháp lý chủ yếu mang
tính răn đe, xử phạt; trong khi đó, tiêu chí từ góc độ quản lý văn hoá có vai
trò định hướng sáng tạo nội dung tích cực như khuyến khích
tính nhân văn, sự đa dạng bản sắc, tinh thần trách nhiệm xã hội, và khả năng
giáo dục cộng đồng. Sự kết hợp này giúp quản lý nội dung video ngắn một cách
toàn diện, không chỉ ngăn chặn cái xấu mà còn thúc đẩy cái đẹp, từ đó phát
triển ngành công nghiệp nội dung số theo hướng lành mạnh, bền vững và giàu tính bản sắc văn hoá dân tộc.
-
Bộ
tiêu chí góp phần nâng cao chất lượng nội dung văn hóa số,
tránh tình trạng nội dung giật gân, phản cảm, câu view bất chấp, xuyên tạc văn hóa truyền thống, lợi dụng văn hóa để gây tranh cãi,
kích động xung đột xã hội. Nhằm hướng đến
sản xuất video ngắn
không chỉ là sáng tạo mà còn là trách nhiệm bảo tồn và lan tỏa văn hóa
trong thời đại số hóa.
Yêu cầu về hình thức thể hiện lành mạnh: video ngắn
thể hiện dưới thủ pháp nghệ thuật, kỹ thuật nhưng phải mang tính thẩm mỹ.
-
Trong
bối cảnh bùng nổ của các nền tảng video ngắn như TikTok, Facebook Reels và
YouTube Shorts, hình thức thể hiện đóng vai trò vô cùng quan trọng, quyết định
sức hấp dẫn, khả năng lan tỏa và giá trị thẩm mỹ của mỗi tác phẩm. Không đơn
thuần là những đoạn phim ngắn vài chục giây, video ngắn ngày nay vừa là phương
tiện truyền tải thông tin, vừa là sản phẩm nghệ thuật, đòi hỏi sự kết hợp hài
hòa giữa thủ pháp nghệ thuật, kỹ thuật hiện đại và tính thẩm mỹ.
-
Về
thủ pháp nghệ thuật, người sáng tạo cần lựa chọn ngôn ngữ hình ảnh phù hợp với
nội dung và thông điệp muốn truyền tải. Góc máy sáng tạo, bố cục chặt chẽ, màu
sắc hài hòa và biểu cảm tự nhiên của nhân vật là những yếu tố cơ bản. Đặc biệt,
nghệ thuật kể chuyện qua hình ảnh ngắn gọn nhưng giàu tính biểu cảm là thử
thách quan trọng. Ví dụ, để thể hiện câu chuyện về một làng nghề truyền thống,
người làm nội dung có thể sử dụng kỹ thuật timeslape kết hợp với âm nhạc dân
gian, tạo cảm xúc hoài cổ nhưng vẫn hiện đại.
-
Về
mặt kỹ thuật, sự hỗ trợ của công nghệ quay dựng hiện đại giúp nâng tầm chất
lượng hình ảnh. Camera độ phân giải cao, filter, hiệu ứng chuyển cảnh, hay kỹ
thuật chỉnh màu hậu kỳ đều góp phần hoàn thiện hình thức thể hiện. Tuy nhiên,
sự lạm dụng kỹ xảo hoặc filter quá đà dễ khiến video mất đi sự tự nhiên và tính
chân thực, yếu
tố then chốt tạo nên cảm xúc cho người xem.
-
Về tính thẩm mỹ là tiêu chí không thể
tách rời trong bất kỳ video ngắn nào, đặc biệt là những sản phẩm mang tính
quảng bá văn hóa, du lịch, ẩm thực hay phong tục truyền thống. Tính thẩm mỹ
không chỉ đến từ khung hình đẹp, màu sắc hài hòa mà còn thể hiện ở sự tôn
trọng văn hóa, con người trong khung hình. Những cảnh quay đặc tả đôi
bàn tay nghệ nhân, ánh mắt người lao động hay sự chuyển mùa của cảnh vật, khi
được xử lý bằng ngôn ngữ điện ảnh tinh tế, sẽ chạm đến cảm xúc người xem, vừa
đảm bảo yếu tố nghệ thuật vừa truyền tải được giá trị văn hóa.
-
Tóm
lại, để một video ngắn đạt hiệu quả cao cả về nội dung lẫn hình thức, người sản
xuất cần biết cân bằng giữa nghệ thuật sắp đặt, kỹ thuật hiện đại và tính thẩm
mỹ văn hóa. Đây chính là thước đo cho sự chuyên nghiệp và trách nhiệm của người
làm nội dung trong thời đại số hóa.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Vai trò
của video ngắn trong đời sống văn hoá xã hội
-
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, quá trình tiếp
nhận thông tin của con người bằng mắt thông qua việc xem, nghe, nhìn lưu lại
thông tin tốt hơn việc đọc, và hình ảnh lưu lại trong trí nhớ tốt hơn là từ
ngữ. Video có khả năng kể chuyện nhưng không cần giải thích, mà công chúng vẫn
có thể hiểu toàn bộ nội dung câu chuyện đang diễn ra, điều đó giúp công chúng
tiếp nhận thông tin dễ dàng và nhanh chóng hơn. Video ngắn có khả năng lan tỏa các yếu tố văn hoá
đại chúng một cách rộng rãi và nhanh chóng. Với đặc điểm dễ sản xuất, dễ chia
sẻ và dễ tiếp cận, video ngắn đã giúp những yếu tố văn hóa như ngôn ngữ, trang
phục, ẩm thực, âm nhạc, phong tục tập quán... đến gần hơn với công chúng, đặc
biệt là giới trẻ. Những video hướng dẫn nấu món ăn truyền thống, clip biểu diễn
nhạc cụ dân tộc, hoặc các trào lưu thời trang mang đậm dấu ấn địa phương được
thể hiện ngắn gọn, sinh động, góp phần giữ gìn và làm mới những giá trị văn hoá
đang có nguy cơ mai một.
-
Video
ngắn phản ánh hiện thực cuộc sống một cách tự nhiên, súc tích nên tác động mạnh
đến tư tưởng, tình cảm của con người và định hướng hành động xã hội.
Giá trị tư tưởng, sự nhân văn hay giá trị nghệ thuật trong video ngắn được cảm
thụ và trở thành nhận thức tư tưởng và hành động của người xem. Video ngắn được
sản xuất ra dưới sự hỗ trợ của các thiết bị thông minh, internet phủ rộng khắp
nơi, đã giúp cho nội dung tưởng chừng là “bình thường” lại mang tính chân thực
và khách quan, dễ dàng đi sâu vào lòng người.
Sản phẩm video ngắn với nội dung phong phú, hình thức thể hiện đa dạng
dưới góc nhìn đa chiều của nhà sáng tạo nội dung dưới nhiều hình thức sinh động như ca
nhạc, nhảy múa, diễn kịch, hoạt hình, vlog, review, hướng dẫn,... giúp người
xem dễ dàng tiếp thu và cảm nhận.
-
Giá trị sử dụng của video ngắn là một
sản phẩm văn hoá thoả mãn nhu cầu thụ hưởng của con người. Cùng một lúc, video
ngắn có thể đáp ứng nhu cầu thông tin giải trí của nhiều người. Video ngắn giúp văn hóa vượt qua biên giới quốc gia và khoảng
cách thời gian, cho phép mọi người trên khắp thế giới tìm hiểu và trải nghiệm
những nền văn hóa khác nhau. Cùng với sự
phát triển của các nền tảng công nghệ, sáng tạo nội dung số là một nghề khá phổ
biến hiện nay. Trên phạm vi toàn cầu, sáng tạo nội dung số đã và đang thu hút
một lượng lớn lao động trình độ cao tham gia. Việt Nam được đánh giá là một thị
trường sôi động với tỷ lệ người dân sử dụng internet đạt 73,2% dân số, đứng thứ
12 về lượng người dùng internet trên toàn cầu. Sự phát triển đa dạng của
thị trường sáng tạo nội dung số những năm gần đây đã ít nhiều tạo ra những giá
trị nhất định. Theo ông Nguyễn Thiện Nghĩa, Phó Cục trưởng phụ trách Công nghệ
thông tin và Truyền thông (Bộ Thông tin và Truyền thông) cho biết, lĩnh vực sáng
tạo nội dung số đang phát triển rất nhanh tại Việt Nam và có doanh thu khoảng
800 triệu USD trong năm 2022. Nhiều sản phẩm giàu tính sáng tạo, đáp ứng thị
hiếu và nhu cầu của công chúng thế hệ mới, lan tỏa những thông điệp có ý nghĩa
với cộng đồng. (trích
báo nhân dân ngày 31/03/2023)
-
Sản
xuất video ngắn là ngành cung cấp dịch vụ nghe nhìn với kho nội dung khổng lồ
trực tiếp phục vụ nhu cầu thông tin giải trí của đông đảo quần chúng. Với hàng
triệu video ngắn ra đời mỗi ngày tính trên tất cả cả nền tảng, sản xuất video
ngắn thu hút lực lượng lao động lớn từ những chuyên ngành khác nhau, tạo ra
nguồn thu nhập cao và đóng góp vào GPD. Nguồn thu nhập của nhân sự sản xuất
video ngắn đến từ quảng cáo, thu nhập từ lượt xem và thu nhập đến từ chính các
thương hiệu, nhãn hàng.
1.2.2 Ảnh hưởng của video ngắn đến đời sống văn hoá xã hội
1.2.2.1 Ảnh hưởng tích cực của video ngắn đến đời sống văn hoá xã hội
Với thời lượng ngắn, hình thức linh
hoạt và khả năng lan truyền mạnh mẽ, video ngắn đã không chỉ thay đổi cách con người tiếp cận
thông tin mà còn góp phần định hình xu hướng tiêu dùng văn hoá, nhận thức xã
hội và hành vi cộng đồng theo nhiều chiều hướng tích cực.
Video ngắn khơi dậy và lan tỏa giá trị nhân văn
trong đời sống
-
Video
ngắn là công cụ mạnh mẽ để truyền cảm hứng sống tích cực và thúc đẩy sự đồng
cảm trong xã hội. Rất nhiều video ghi lại hành động tử tế, câu chuyện vượt khó,
hoặc nội dung giáo dục giá trị đạo đức, từ việc nhường ghế xe buýt đến phong trào đổi rác lấy
cây, đã nhận được sự
lan toả mạnh mẽ và tạo ra hiệu ứng xã hội sâu rộng. Những nội dung này không
chỉ truyền cảm hứng mà còn khơi gợi tinh thần trách nhiệm cộng đồng, nâng cao
nhận thức và thúc đẩy hành vi tích cực trong đời sống hàng ngày.
-
Video
ngắn giúp gắn kết cộng đồng bằng cách tạo ra những không gian chia sẻ, đối
thoại mở. Người dùng có thể dễ dàng phản hồi, bình luận, hoặc sáng tạo theo xu
hướng, góp phần tạo nên dòng chảy truyền thông hai chiều và dân chủ hơn. Những
tiếng nói vốn bị bỏ quên trong xã hội như người khuyết tật, người lao động phổ
thông, phụ nữ nông thôn… nay có cơ hội được lắng nghe, từ đó giúp tăng tính đa
dạng trong diễn ngôn xã hội và góp phần thúc đẩy sự bao trùm, công bằng trong
đời sống văn hoá.
Video ngắn tăng cường khả năng tự học và phát
triển kỹ năng
-
Trong
xã hội tri thức ngày nay, kỹ năng tự học trở thành một năng lực cốt lõi để
thích nghi với sự biến đổi không ngừng của thế giới nghề nghiệp và công nghệ.
Video ngắn, với đặc điểm ngắn gọn, trực quan, dễ hiểu và dễ tiếp cận, đã góp
phần mở rộng không gian học tập ngoài nhà trường, giúp hình thành và củng cố văn
hoá học tập linh hoạt, cá nhân hoá cho mọi đối tượng.
-
Trên
các nền tảng như TikTok, YouTube Shorts hay Facebook Reels, người dùng có thể
dễ dàng tìm thấy vô số video chia sẻ kiến thức và kỹ năng thực hành trong nhiều
lĩnh vực từ ngoại ngữ, tin học, chỉnh sửa ảnh/video, kỹ năng giao tiếp, đến
hướng dẫn nghề thủ công, nấu ăn, xử lý tình huống trong công việc. Kết quả khảo sát mà học viên đã thực
hiện trên 234 sinh viên sinh năm 2002 cho thấy có gần 82 sinh viên (chiếm 35,5
%) chọn hình thức learn on tiktok, tức là học các kiến thức và tìm hiểu thông
tin qua video ngắn trên tiktok.
-
Quan
trọng hơn, video ngắn khơi dậy động lực học tập nhờ tính tương tác và giải trí.
Những video lồng ghép kiến thức trong tình huống thực tế (ví dụ: mẹo ứng xử
trong phỏng vấn, cách viết email chuyên nghiệp, kỹ thuật bán hàng tâm lý…)
không chỉ giúp người học ghi nhớ kiến thức mà còn hiểu được giá trị ứng
dụng của nó trong đời sống. Điều này khiến người học chủ động tìm hiểu
sâu hơn, từ đó mở rộng hành trình học tập từ video ngắn sang sách, khóa học
hoặc trải nghiệm thực tế. Đặc
biệt, video ngắn tạo điều kiện để cộng đồng cùng nhau học tập.
Khi một người chia sẻ kỹ năng hoặc trải nghiệm nghề nghiệp, người khác có thể
phản hồi, hỏi thêm, làm theo hoặc thậm chí sáng tạo lại nội dung. Quá trình này
giúp hình thành môi trường học tập tương tác mở, nơi ai cũng
có thể là người học và cũng có thể trở thành người dạy. một biểu hiện rõ ràng của tinh thần
học tập suốt đời trong xã hội số.
-
Tóm
lại, video ngắn không đơn thuần là hình thức giải trí nhanh mà đang trở thành cánh
cửa học tập linh hoạt, thực tiễn và mở rộng cho hàng triệu người, đặc
biệt là thế hệ trẻ. Việc tận dụng hợp lý loại hình nội dung này sẽ góp phần
hình thành một xã hội học tập năng động, sáng tạo và kết nối.
Định hình và thay đổi nhận thức văn
hoá trong xã hội đương đại
-
Video
ngắn không chỉ phản ánh hiện thực xã hội mà còn góp phần định hình và thay
đổi nhận thức văn hoá của người xem một cách mạnh mẽ và liên tục. Với khả
năng lan truyền nhanh, ngôn ngữ thị giác sinh động và sức ảnh hưởng từ các nhà
sáng tạo nội dung có tầm ảnh hưởng (KOL, influencer), video ngắn tạo nên những
chuẩn mực văn hoá mới, nhất là trong thế hệ trẻ.
-
Nhiều
giá trị văn hoá tích cực như bình đẳng giới, tôn trọng sự khác biệt,
bảo vệ môi trường, sống tối giản, văn hoá ứng xử
nơi công cộng...
đã được lồng ghép khéo léo trong video ngắn và được người dùng tiếp nhận tự
nhiên qua giải trí. Các chiến dịch xã hội như tôn vinh văn hoá đọc, tẩy chay
bạo lực học đường, lan toả thông điệp sống xanh có thể bắt đầu từ một video
ngắn và nhanh chóng trở thành xu hướng lan rộng.
Thúc đẩy sáng tạo và phát triển kinh
tế nội dung
-
Sự
phát triển của video ngắn đã tạo điều kiện cho hàng triệu người trở thành nhà
sáng tạo nội dung, một
nghề mới trong thời đại số. Nhờ sự hỗ trợ của công nghệ sản xuất đơn giản và
nền tảng phân phối rộng khắp, cá nhân ở bất kỳ đâu cũng có thể chia sẻ ý tưởng,
tài năng và câu chuyện của mình đến công chúng. Điều này thúc đẩy mạnh mẽ tinh
thần sáng tạo trong xã hội, tạo ra hệ sinh thái nội dung đa dạng, giàu bản sắc
và góp phần hình thành nền kinh tế sáng tạo. Đặc biệt, nhiều video ngắn chất
lượng đã trở thành phương tiện quảng bá du lịch, sản phẩm địa phương, nghệ
thuật dân gian…, mang lại giá trị kinh tế thiết thực cho cộng đồng.
1.2.2.2 Ảnh hưởng tiêu cực của video ngắn đến đời sống văn hoá xã hội
-
Video ngắn, nếu được sử dụng và quản lý hợp lý, là một công
cụ mạnh mẽ thúc đẩy những thay đổi tích cực trong đời sống văn hoá xã hội. Nó
không chỉ làm giàu thêm đời sống tinh thần của công chúng mà còn mở ra không
gian sáng tạo, kết nối và phát triển bền vững cho cộng đồng. Trong bối cảnh số
hóa toàn cầu, việc tận dụng hiệu quả tiềm năng của video ngắn đồng thời kết hợp
với các tiêu chí đạo đức, văn hoá và pháp lý sẽ góp phần xây dựng một xã hội
văn minh, sáng tạo và đầy nhân văn. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, video ngắn cũng tiềm ẩn một số tác động tiêu cực đến văn hóa.
-
Một
trong những ảnh hưởng tiêu cực rõ nét nhất là sự suy giảm về chuẩn mực văn hóa và thẩm mỹ cộng đồng. Nhiều video ngắn khai thác yếu tố giật gân, phản cảm,
đời tư cá nhân, hay thậm chí bạo lực, dung tục nhằm thu hút sự chú ý, câu tương
tác. Những nội dung này, khi xuất hiện với tần suất dày đặc, đã và đang làm
"nhiễu" hệ giá trị văn hoá truyền thống, làm lệch lạc cách nhìn nhận
của giới trẻ về các giá trị đạo đức, thẩm mỹ và cách ứng xử văn minh. Thực tế
cho thấy, không ít trào lưu tiêu cực như “khoe thân để nổi tiếng”, “đóng vai
giả danh” hay “đùa cợt vô cảm” đã xuất hiện và lan nhanh trên nền tảng video
ngắn.
-
Bên cạnh
đó, cũng cần kể đến ảnh
hưởng tiêu cực đáng lo ngại của video
ngắn là sự lan truyền các yếu tố văn hoá độc hại, bao gồm lối sống lệch chuẩn, tư
tưởng vị kỷ, bạo lực ngôn ngữ, văn hoá "drama", cổ súy vật chất, và
phiến diện hóa giá trị đạo đức. Nhiều nội dung xuyên tạc văn hoá, lịch sử, tôn giáo
hoặc địa phương cũng được phát tán qua video ngắn với mục đích câu
view, gây tranh cãi hoặc truyền bá tư tưởng sai lệch. Khi các clip này được
chia sẻ rộng rãi, chúng không chỉ bóp méo sự thật mà còn tạo ra định kiến, ảnh
hưởng đến lòng tự tôn dân tộc và sự hiểu biết đúng đắn về bản sắc văn hoá. Những nội dung này thường được “ngụy
trang” dưới lớp vỏ hài hước, giải trí hoặc “trending” để thu hút người xem, đặc
biệt là giới trẻ – đối tượng đang trong quá trình hình thành nhân cách và hệ
giá trị sống. Nhiều
video cổ súy cho lối sống thực dụng, khoe mẽ vật chất, thành công nhanh
chóng, coi nhẹ nỗ lực học tập hay lao động chân chính, các nội dung như "mua nhà trong 6
tháng", "kiếm tiền tỷ nhờ livestream"… xuất hiện tràn lan trên
nền tảng video ngắn đã góp phần nuôi dưỡng tư duy ngắn hạn, thích hưởng thụ, và
đánh đồng giá trị cá nhân với tài sản vật chất. Điều này ảnh hưởng đến nhận
thức của người trẻ về thành công và giá trị sống thực sự.
-
Một trong những ảnh hưởng tiêu cực khác đó
là sự
thâm nhập của văn hoá ngoại lai thông qua video ngắn. Sự phát triển bùng nổ của các nền tảng
video ngắn toàn cầu như TikTok, YouTube Shorts hay Instagram Reels đã mang đến
cơ hội giao lưu văn hoá rộng mở giữa các quốc gia. Tuy nhiên, đi kèm với đó là nguy
cơ thâm nhập ồ ạt và thiếu chọn lọc của các yếu tố văn hoá ngoại lai,
tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đến bản sắc văn hoá và nhận thức của cộng đồng,
đặc biệt là giới trẻ Việt Nam. Sự phổ biến của trào lưu ngoại nhập như thời
trang hở hang, ngôn ngữ pha trộn, biểu cảm “reaction” quá đà, hay các điệu
nhảy, thử thách bắt chước thần tượng Hàn Quốc, Mỹ, Trung Quốc… đã trở thành xu
hướng lan rộng trên video ngắn. Dù mang tính giao lưu, nhưng khi tiếp nhận một
cách thiếu chọn lọc, người trẻ có xu hướng sùng ngoại, coi thường văn
hoá bản địa, từ đó làm phai nhạt bản sắc văn hóa dân tộc trong đời
sống thường nhật.
-
Trong môi trường mạng mở, nhiều video sử dụng tiếng nước
ngoài, không có thuyết minh hay kiểm duyệt nội dung phù hợp, dẫn đến việc
tiếp nhận lệch lạc hoặc không hiểu rõ ngữ cảnh văn hoá. Video ngắn với cơ chế lan truyền
nhanh, lại thường bỏ qua lớp trung gian kiểm duyệt về mặt văn hoá, khiến các
yếu tố văn hóa phương Tây, Hoa ngữ, Nhật, Hàn… dễ áp đảo nội dung bản địa
trên không gian mạng. Trong khi đó, nội dung quảng bá văn hóa Việt Nam lại rơi
vào tình trạng thiếu sáng tạo, ít đầu tư và không đủ sức hấp dẫn giới trẻ, dẫn
đến tình trạng “nhập siêu văn hoá” ngày càng nghiêm trọng.
-
Tính năng gây nghiện của video ngắn và hệ lụy đối với đời
sống văn hoá xã hội. Một đặc điểm dễ thấy của video ngắn
là khả năng gây nghiện mạnh mẽ, bắt nguồn từ hai yếu tố: thời
lượng ngắn, nội dung dồn dập và thuật toán cá nhân hoá.
Người xem chỉ cần trượt ngón tay một cái là có thể tiếp cận hàng trăm video
liên tiếp, được sắp xếp theo sở thích cá nhân, tạo cảm giác dễ chịu, tò mò và
không dứt ra được. Điều này dẫn đến hiện tượng “xem liên tục không kiểm soát”
(doomscrolling), phổ biến ở học sinh, sinh viên và người trẻ tuổi. Thói quen tiêu thụ video ngắn liên
tục gây ra hiện tượng giảm khả năng tập trung dài hạn, người
dùng dần mất kiên nhẫn với những nội dung dài, nghiêm túc, từ đó ảnh hưởng đến năng
lực thưởng thức nghệ thuật truyền thống, văn học, điện ảnh dài tập,
vốn là những sản phẩm giàu chiều sâu văn hoá. Về lâu dài, điều này làm nghèo đi
khả năng cảm thụ văn hoá của cộng đồng.
1.2.3. Tổng quan về hoạt động sản
xuất video ngắn tại công ty cổ phần TV Hub
1.2.3.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần TV Hub.
-
TV Hub là công ty
truyền thông và sản xuất nội dung đa phương tiện có trụ sở tại TP.HCM, hoạt
động từ năm 2016, chuyên sản xuất
các chương trình truyền hình danh tiếng như Shark Tank Việt Nam, Top Chef, Nhập Gia Tùy Tục, Hành
Lý Tình Yêu... Bên cạnh đó, TV Hub còn phát triển
trên nhiều nền tảng số, bao gồm các chuỗi video ngắn hướng tới đối tượng khán
giả trẻ, đồng thời tư vấn chiến lược và truyền thông 360° cho các doanh nghiệp
lớn. TV Hub xây dựng và quản lý nhiều kênh trên các nền
tảng như TikTok, YouTube, Facebook, sản xuất video ngắn dạng viral, clip truyền
thông quảng cáo, và nội dung giải trí thu hút giới trẻ.
-
TV Hub bắt
đầu sản xuất video ngắn từ năm 2018, đến nay đã sở hữu các kênh sau

1.2.3.2 Khái quát về hoạt động sản
xuất video ngắn của Công ty Cổ phần TV Hub.
-
Công
ty Cổ phần TV Hub là một trong những đơn vị tiên phong và chuyên nghiệp trong
lĩnh vực sản xuất video ngắn tại Việt Nam, với năng lực tổ chức sản xuất bài
bản, đội ngũ sáng tạo giàu kinh nghiệm và khả năng thích ứng nhanh với các xu
hướng nội dung số. Xuất phát từ nền tảng sản xuất truyền hình thực tế, gameshow
và truyền hình thực tế như Shark Tank Việt Nam, Top Chef, Nhập
Gia Tùy Tục… TV Hub đã nhanh chóng mở rộng sang lĩnh vực video ngắn, tận dụng lợi thế về kỹ
thuật hình ảnh, biên tập và kể chuyện.
-
TV
Hub sở hữu đội ngũ sản xuất trẻ, linh hoạt, bao gồm content producer, biên tập
hậu kỳ (video editor), quay phim và kỹ thuật viên có chuyên môn cao, cùng hệ
thống thiết bị hiện đại đáp ứng nhu cầu quay dựng chuyên nghiệp cho nền tảng
TikTok, YouTube Shorts và Facebook Reels. Quy trình sản xuất video ngắn tại TV
Hub được vận hành khoa học từ khâu phát triển ý tưởng, viết kịch bản, quay dựng, hậu kỳ, tối ưu nền tảng và lan toả truyền thông. Đặc biệt,
các sản phẩm của TV Hub luôn chú trọng đến thông điệp xã hội, thẩm mỹ hình ảnh
và khả năng kết nối với cộng đồng, thể hiện qua những series ngắn về kỹ năng
sống, môi trường, văn hoá ẩm thực và truyền cảm hứng khởi nghiệp.
-
Mô hình
sản xuất video ngắn của TV Hub

-
TV
Hub đã ứng dụng tốt kỹ thuật sản xuất truyền hình, kết hợp với sự linh hoạt của
nền tảng video số. Quay
dựng chuyên nghiệp, filter ổn định thương hiệu, định dạng dọc tối ưu nền tảng.
Hiệu ứng, phụ đề, âm thanh đều được xử lý đồng bộ, dễ chịu, phù hợp cả khi xem
không có âm thanh. Các
video ngắn phân chia rõ ràng mục tiêu giáo dục, giải trí, thương hiệu, được biên tập chuyên
nghiệp, tạo nội dung hấp dẫn người xem, và đạt hiệu quả lan tỏa cao. Các video có nội dung về kỹ năng đầu tư trong kinh
doanh, ẩm thực Việt Nam, đạt
từ hàng trăm nghìn đến triệu lượt xem, phản ánh lượng kết nối mạnh mẽ với khán
giả, bên cạnh đó
còn được sử dụng như tài
liệu giảng dạy, cho thấy chiều sâu tác động và ý nghĩa cộng
đồng rộng lớn.
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT VIDEO NGẮN TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN TV HUB DƯỚI GÓC NHÌN QUẢN LÝ VĂN HÓA
2.1.
Các văn bản pháp luật và các quy
định về
quản lý sản xuất video ngắn
2.1.1. Chính sách pháp luật của nhà nước liên quan
đến sản xuất video ngắn.
Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của
mạng xã hội và các nền tảng số, việc sản xuất video ngắn không chỉ đơn thuần là
một hoạt động sáng tạo nội dung mà còn đòi hỏi tuân thủ các quy định pháp luật
hiện hành. Khung pháp lý đóng vai trò như một nền tảng định hướng, kiểm soát và
điều chỉnh hoạt động sáng tạo nhằm đảm bảo nội dung truyền thông không đi lệch
chuẩn giá trị văn hóa – đạo đức xã hội. Đối với nghiên cứu này, các văn bản
pháp luật liên quan được chia thành ba nhóm chính: luật, nghị định và các quy
tắc ứng xử bổ trợ.
Luật
An ninh mạng 24/2018/QH14 ban hành ngày 12 tháng 6 năm 2018,
có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2019
-
Luật
An ninh mạng (2018) là cơ sở pháp lý có tính chất bao quát, điều chỉnh trực
tiếp các hành vi và nội dung
lan truyền trên không gian mạng. Điều 8 của luật quy định rõ các hành vi bị
nghiêm cấm như: xuyên tạc lịch sử, xúc phạm tín ngưỡng tôn giáo, xúc phạm danh
dự cá nhân, tuyên truyền văn hóa phẩm đồi trụy, sử dụng hình ảnh, ngôn từ phản cảm, trái thuần phong mỹ
tục Việt Nam. Bên cạnh đó, Điều 16 yêu cầu các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp
cung cấp dịch vụ mạng phải có trách nhiệm gỡ bỏ hoặc vô hiệu hóa nội dung vi
phạm khi được cơ quan có thẩm quyền yêu cầu. Không hông tin sai sự thật gây
hoang mang trong Nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế xã hội, xâm phạm
quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đảm bảo nội dung lành mạnh, tôn trọng
các giá trị văn hóa truyền thống và tránh việc bóp méo, giật gân nhằm thu hút
tương tác; Điều 29 quy
định Cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động
trên không gian mạng có trách nhiệm bảo đảm quyền của trẻ em trên không gian
mạng, ngăn chặn thông tin có nội dung gây nguy hại cho trẻ em.
Luật Sở hữu trí tuệ 07/2022/QH15 sửa đổi năm 2022 ban hành ngày 16
tháng 6 năm 2022
-
Trong
sản xuất video ngắn, việc sử dụng hình ảnh, âm thanh, biểu tượng văn hóa truyền
thống, nhạc cụ dân tộc... rất phổ biến. Luật Sở hữu trí tuệ, đặc biệt là Điều
28, quy định nghiêm cấm việc sao chép, khai thác trái phép các tác phẩm có bản
quyền, bao gồm cả tác phẩm dân gian được truyền miệng. Luật này giúp định hướng
cho đơn vị sản xuất trong việc đảm bảo tính hợp pháp của chất liệu sáng tạo,
tránh vi phạm bản quyền trong quá trình sản xuất và phát hành video ngắn.
Luật Di sản văn hóa 2021, văn bản sửa đổi 32/2009/QH12 ban hành ngày
18 tháng 6 năm 2009
-
Luật
Di sản văn hóa quy định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ
và phát huy giá trị di sản văn hóa, đồng thời cấm các hành vi xuyên tạc, làm
sai lệch ý nghĩa của các biểu tượng, lễ nghi, hiện vật văn hóa. Đây là cơ sở để
xem xét tính chính danh trong việc khai thác chất liệu truyền thống trong video
ngắn, nhất là với các nội dung có yếu tố văn hóa vùng miền, dân tộc thiểu số
hoặc tôn giáo,
tín ngưỡng.
Nghị định 144/2020/NĐ-CP, ban hành ngày 14 tháng 12 năm 2020 về
hoạt động nghệ thuật biểu diễn
-
Nghị
định 144/2020/NĐ-CP điều chỉnh trực tiếp các hoạt động nghệ thuật biểu diễn,
trong đó có cả việc phát hành các chương trình biểu diễn trên nền tảng số. Điều
3 nêu rõ nguyên tắc hoạt động nghệ thuật cần tôn trọng bản sắc văn hóa dân tộc,
không xuyên tạc hay sử dụng sai lệch các yếu tố văn hóa truyền thống. Đặc biệt,
Điều 11 và Điều 12 nhấn mạnh việc cấm lợi dụng yếu tố dân tộc, phong tục, tín
ngưỡng để gây sốc, câu view hoặc thể hiện phản cảm.
Quyết định 874/QĐ về Bộ
Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội ban hành ngày 17 tháng 6 năm 2021
-
Đây
là văn bản mang tính định hướng mềm, không có tính ràng buộc pháp lý nhưng lại
có giá trị tham khảo cao trong hoạt động truyền thông và sáng tạo nội dung số.
Bộ quy tắc khuyến khích cá nhân và tổ chức chia sẻ nội dung tích cực, có giá
trị nhân văn, bảo vệ truyền thống văn hóa dân tộc và hạn chế thông tin độc hại,
kích động, giật gân. Việc tham chiếu bộ quy tắc này giúp nâng cao tính đạo đức
và trách nhiệm xã hội trong quá trình sản xuất và kiểm duyệt video ngắn.
Luật Điện ảnh 05/2022/ QH15, ban hành ngày 15 tháng 6 năm 2022
Dù không điều chỉnh trực tiếp các
video ngắn, nhưng Luật Điện ảnh vẫn có giá trị tham khảo đối với các sản phẩm
video ngắn mang tính kịch bản hóa. Điều 9 quy định rõ các nội dung bị cấm, bao
gồm xuyên tạc văn hóa, kích động mê tín dị đoan, xúc phạm tín ngưỡng dân tộc.
Đồng thời, các Điều 17 và 18 của luật điện ảnh nhấn mạnh trách nhiệm của tổ chức
phát hành phim trên nền tảng số trong việc đảm bảo nội dung phù hợp văn hóa,
đạo đức, thuần phong mỹ tục.
2.1.2. Quy định của công ty TV Hub liên quan đến
sản xuất video ngắn
-
Trong gian
đoạn hiện nay, khi video
ngắn trở thành hình thức nội dung chủ đạo trên các nền tảng truyền thông xã hội
như TikTok, YouTube Shorts và Facebook Reels, việc sản xuất nội dung không chỉ
đòi hỏi yếu tố sáng tạo mà còn phải gắn liền với trách nhiệm pháp lý và đạo đức
xã hội. Là một trong những công ty sản xuất nội dung hàng đầu Việt Nam, TV Hub
đã chủ động thiết lập hệ thống quy trình kiểm duyệt nội dung nghiêm ngặt, trong
đó việc tuân thủ các quy định pháp luật của Nhà nước và các quy chuẩn cộng đồng
của nền tảng đóng vai trò cốt lõi. Việc này không chỉ thể hiện sự chuyên nghiệp
mà còn mang những mục đích chiến lược trong quản trị nội dung, bảo vệ thương
hiệu và phát triển bền vững trong môi trường số đầy biến động.
Đảm bảo tính hợp pháp và tránh rủi ro
pháp lý trong sản xuất nội dung
-
Đối
với TV Hub, hoạt động sản xuất video ngắn không chỉ diễn ra trên môi trường
mạng xã hội mà còn ảnh hưởng đến hình ảnh doanh nghiệp trên truyền hình và các
nền tảng truyền thông chính thống. Vì vậy, tuân thủ các quy định pháp lý như Luật
An ninh mạng (2018), Luật Báo chí, Luật Sở
hữu trí tuệ và các Nghị định về xử lý thông tin trên không
gian mạng là cách để doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro pháp lý, tránh vi
phạm có thể dẫn đến bị xử phạt, khóa tài khoản, gỡ nội dung hoặc ảnh hưởng đến
uy tín thương hiệu. Trong
bối cảnh nội dung video lan truyền với tốc độ cao, một lỗi nhỏ về thông tin sai
lệch, hình ảnh phản cảm hay ngôn từ không phù hợp cũng có thể bị cộng đồng mạng
phản ứng dữ dội, kéo theo sự can thiệp của cơ quan quản lý. Việc chủ động kiểm duyệt
kỹ nội dung, đảm bảo không chứa các yếu tố vi phạm (xuyên tạc lịch sử, kích
động bạo lực, bôi nhọ cá nhân, sử dụng nhạc/ảnh không bản quyền…) giúp TV Hub
duy trì một không gian nội dung an toàn và đúng pháp luật, tạo nền tảng vững
chắc để phát triển lâu dài.
Tuân thủ quy chuẩn cộng đồng của nền
tảng để tối ưu hiệu quả lan tỏa nội dung
-
Bên
cạnh quy định của pháp luật, các nền tảng như TikTok và Facebook đều có hệ
thống quy chuẩn cộng đồng (Community Guidelines) rất chi tiết
nhằm kiểm soát nội dung được phép xuất hiện trên nền tảng. Nếu không tuân thủ,
video có thể bị giảm hiển thị (shadowban), gỡ bỏ, chặn tài khoản hoặc bị mất
quyền quảng bá. Vì thế, việc nắm bắt và tuân thủ các quy định của nền tảng là
yếu tố bắt buộc nếu TV Hub muốn duy trì hiệu quả phát hành và lan tỏa nội dung. TV Hub đã xây dựng hệ thống kiểm
duyệt nội bộ dựa trên các tiêu chí như: không có hình ảnh bạo lực, không gợi
dục, không ngôn từ kỳ thị, không tin giả, không nội dung gây nguy hiểm. Đồng
thời, công ty đào tạo đội ngũ editor, content producer và quản lý nội dung số
cách phát hiện và xử lý các vi phạm tiềm ẩn trước khi nội dung được xuất bản.
Nhờ đó, các video ngắn của TV Hub thường đạt tỷ lệ giữ chân người xem cao,
không bị hạn chế hiển thị, góp phần duy trì độ phủ và chỉ số tương tác bền vững
trên các nền tảng xã hội.
Góp phần xây dựng không gian nội dung
lành mạnh và định hướng xã hội tích cực
-
Một
trong những mục đích cao hơn của việc tuân thủ quy định pháp luật và cộng đồng
là góp phần hình thành một môi trường nội dung số lành mạnh, nơi thông tin được
kiểm chứng, hành vi văn minh được khuyến khích và giá trị văn hóa truyền thống
được bảo tồn. TV Hub, với tư cách là đơn vị sản xuất nội dung có ảnh hưởng,
nhận thức rõ vai trò định hướng nhận thức cộng đồng thông qua video ngắn. Thay vì chạy theo nội dung giật gân
để câu view, TV Hub kiên định theo hướng phát triển các video giáo dục kỹ năng,
truyền cảm hứng, lan tỏa thông điệp sống tích cực. Các chuỗi video
và video ngắn có nội dung về kiến thức đầu tư và triết lý kinh doanh, hoặc các
video ngắn nội dung chia sẻ về văn hoá đa sắc tộc… không chỉ giúp nâng cao kiến thức cho người xem mà
còn xây dựng hình ảnh người trẻ Việt năng động, văn minh, có trách nhiệm với xã
hội. Đó cũng là cách TV Hub thực hiện sứ mệnh của một nhà sản xuất nội dung
trong thời đại số: không chỉ giải trí, mà còn có giá trị văn hóa xã hội rõ rệt.
Tạo nền tảng cho hợp tác truyền thông, thương mại lâu dài
-
Trong
lĩnh vực sản xuất nội dung, đặc biệt là nội dung video ngắn mang tính viral,
ranh giới giữa sáng tạo và phản cảm, giữa gây sốc và gây hại rất mong manh. Với
vị thế là đơn vị sản xuất chương trình truyền hình uy tín như Shark Tank
Việt Nam, Top Chef, Nhập Gia Tùy Tục.. việc đảm bảo chuẩn mực nội dung trên
mọi nền tảng giúp TV Hub duy trì và củng cố hình ảnh thương hiệu chuyên nghiệp,
đáng tin cậy trong mắt khán giả đại chúng cũng như đối tác truyền thông, nhà
tài trợ và cơ quan quản lý. Việc lồng ghép các thông điệp xã hội tích cực, hạn chế nội dung phản cảm
hoặc gây tranh cãi giúp các video ngắn của TV Hub trở thành nguồn tham khảo
được sử dụng trong giáo dục, truyền thông nội bộ, các chiến dịch CSR (trách
nhiệm xã hội doanh nghiệp). Thương hiệu TV Hub không chỉ gắn liền với giải trí
mà còn thể hiện tinh thần nhân văn, có trách nhiệm với cộng đồng, điều kiện tiên quyết để giữ vững vị thế trong ngành truyền thông và giải
trí.
-
Cuối
cùng, việc tuân thủ pháp luật và quy chuẩn cộng đồng giúp TV Hub tạo dựng uy
tín để hợp tác với các đối tác thương mại lớn. Trong thời đại mà các thương
hiệu đặc biệt coi trọng “brand safety” (an toàn hình ảnh), việc TV Hub duy trì
một hệ thống nội dung sạch, lành mạnh và tuân thủ đầy đủ là lợi thế rất lớn để
hợp tác trong các chiến dịch quảng bá, PR hoặc sản xuất nội dung kết hợp. Nhiều khách hàng doanh nghiệp khi lựa
chọn đối tác sản xuất nội dung số yêu cầu rất chặt chẽ về nội dung không vi
phạm pháp luật, không phản cảm, không gây tranh cãi xã hội. TV Hub, nhờ vào hệ
thống kiểm duyệt nội dung chuẩn hóa, hoàn toàn có thể đáp ứng các yêu cầu khắt
khe này, từ đó mở rộng được tệp khách hàng và phát triển các mô hình sản xuất
nội dung thương hiệu (branded content) một cách bài bản, có đạo đức và hiệu quả. Việc tuân thủ các quy định pháp luật
và quy chuẩn cộng đồng không chỉ là trách nhiệm bắt buộc, mà còn là chiến lược
thông minh của TV Hub trong bối cảnh cạnh tranh nội dung ngày càng gay gắt. Qua
đó, TV Hub không chỉ đảm bảo tính pháp lý cho sản phẩm của mình, mà còn xây
dựng được một hệ sinh thái nội dung lành mạnh, đáng tin cậy và có giá trị lan
tỏa cao trong xã hội. Đây chính là nền tảng để công ty phát triển bền vững, giữ
vững vị thế và dẫn đầu trong lĩnh vực sản xuất nội dung ngắn tại Việt Nam.
2.2. Thực trạng sản xuất video ngắn tại công ty cổ phần TV Hub.
2.2.1 Thực trạng về quy trình sản xuất video ngắn
2.2.1.1 Cơ cấu nhân sự
Dựa trên cấu trúc điển
hình của các công ty
sản xuất truyền hình kỹ thuật số, TV Hub triển khai một dây chuyền sản xuất
video ngắn khá hoàn thiện, đặc biệt là video ngắn trên TikTok, YouTube Shorts
và Facebook Reels. Cấu trúc nhân sự được phia chia cấp bậc rõ ràng,
chuyên môn hoá cho từng công việc cụ thể, tinh gọn và hiệu quả.
Mô hình các bộ phận tại TV Hub

Mô hình nhân sự bộ phận sản xuất nội dung số tại TV
Hub

-
Giám đốc bộ phận nội dung số đóng vai trò chịu
trách nhiệm định hướng toàn bộ hệ thống sản xuất video ngắn, từ việc xác định chủ đề, thông điệp,
đến việc giám sát chất lượng nội dung, đảm bảo định vị thương hiệu và sự phù
hợp với nền tảng số, các nhiệm
vụ cụ thể bao
gồm: xây dựng kế hoạch phát triển nội dung theo quý, theo
chiến dịch hoặc theo đối tượng khán giả mục tiêu; Phân tích xu hướng thị trường và hành vi
người dùng trên nền tảng để định hướng nội dung phù hợp; làm việc trực tiếp với đội ngũ sáng tạo và tổ
chức sản xuất để thống nhất mục tiêu nội dung và hình thức thể hiện; duyệt nội dung đầu ra, đảm bảo thông
điệp phù hợp với quy chuẩn cộng đồng và định hướng giá trị văn hoá.
-
Tổ nội dung và sáng tạo: là bộ phận sản
xuất ý tưởng, biên kịch và phát triển format nội dung phù hợp với dạng ngắn (từ 15 giây đến 60 giây), đảm bảo yếu tố thu
hút, sáng tạo và lan toả. Nhân
sự trong tổ nội dung và sáng tạo có nhiệm vụ tham gia các cuộc
brainstorming để đưa ra ý tưởng mới, độc đáo, bắt trend nhanh chóng; Viết kịch bản chi tiết; Cộng tác cùng các Kol hoặc khách mời nội
dung để phát triển chất liệu hấp dẫn; Làm
việc với tổ hậu kỳ để đảm bảo nội dung sau dựng không sai lệch so với ý tưởng.
-
Tổ chức sản xuất quay hình thực hiện triển khai quá trình
quay phim, chuẩn bị địa điểm quay, thiết bị, bối cảnh và đạo cụ theo kịch bản; điều phối thiết bị, nhân sự hiện trường
và kiểm soát chất lượng hình ảnh, âm thanh; Làm việc trực tiếp với diễn viên, khách mời
và đạo diễn hình ảnh trong buổi ghi hình; Ghi lại các footage phù hợp để đội hậu kỳ có đủ nguyên
liệu dựng phim. Biên tập hậu kỳ có chức năng chính là lựa chọn footage tốt nhất để
dựng thành video ngắn hoàn chỉnh; chèn
hiệu ứng, âm thanh, phụ đề và các yếu tố đồ họa, xử lý kỹ thuật và hình ảnh để tạo nên thành
phẩm cuối cùng có chất lượng chuyên môn cao và phù hợp với nền tảng phân phối; Làm việc với tổ sáng tạo để sửa dựng khi
cần điều chỉnh theo yêu cầu nội dung hoặc nhận xét từ quản lý.
-
Bộ
phận phát hành và tối ưu đóng vai trò quan trọng không kém gì các khâu
sáng tạo nội dung và hậu kỳ. Đây là bộ phận “chốt chặng” trong hành trình đưa sản
phẩm video đến với khán giả, đồng thời cũng là nơi đưa ra các chiến lược để tối
ưu hiệu quả tiếp cận và tương tác. Bộ phận phát hành thực hiện kế hoạch phát hành, xác định thời điểm đăng tải tối ưu theo thói
quen tiêu dùng nội dung của nhóm đối tượng mục tiêu, thiết lập lịch phát hành theo tuần, tháng và
quý nhằm đảm bảo tần suất đều
đặn và phù hợp với chiến lược tăng trưởng kênh. Bên cạnh đó, nhiệm vụ tối
ưu được thực hiện liên tục thông qua việc chuẩn
hóa định dạng video và metadata, đảm bảo video được xuất bản đúng tỷ lệ khung hình, độ dài, định dạng file
và chất lượng phù hợp từng nền tảng; viết
tiêu đề, mô tả, thẻ hashtag, ảnh thumbnail hấp dẫn và tối ưu hóa theo chuẩn SEO
nền tảng; theo dõi
các chỉ số chính như tỷ lệ giữ chân khán giả lượt xem, lượt chia sẻ, thời gian
xem trung bình và mức độ tương tác; phân
tích kết quả và phối hợp với bộ phận nội dung để đề xuất hướng sáng tạo mới dựa
trên dữ liệu hành vi người dùng.
-
Sự phân cấp
chuyên môn trong quy trình sản xuất video ngắn tại TVHub thể hiện mô hình vận
hành bài bản, hiệu quả cao. Mỗi nhóm chức năng đều đóng vai trò quan trọng, hỗ
trợ nhau để tạo ra sản phẩm không chỉ đảm bảo chất lượng kỹ thuật, nội dung, mà còn mang lại giá trị văn hoá, giải
trí tích cực đến công chúng. Sự phối hợp
giữa các nhóm nhân sự, chiến lược – sáng tạo – kỹ
thuật – hậu kỳ - kiểm
duyệt – phát hành, là nền tảng để TVHub thích nghi nhanh với sự
thay đổi của nền tảng số.
2.2.1.2 Quy
trình sản xuất
-
Quy trình
sản xuất video ngắn tại TV Hub được tổ chức chuyên nghiệp, nhanh, gọn, định hướng rõ ràng. Công ty kết hợp tư duy truyền hình và linh
hoạt trong xử lý mạng xã hội, đáp ứng được yêu cầu sáng tạo, tốc độ và hiệu quả
truyền thông trên nền tảng số. Quy trình
gồm 7 bước cơ bản, theo mô hình: ý tưởng – sản xuất – phát
hành – tối ưu.

-
Xác định mục tiêu nội dung: Đây là bước nền tảng, quyết định định hướng sản xuất và tiêu
chuẩn đánh giá hiệu quả của sản phẩm. Phân tích mục tiêu chiến dịch (giáo dục,
giải trí, branding, viral…); xác định đối tượng khán giả (tuổi, nền tảng, hành vi); Nắm bắt xu hướng (trend TikTok, trend
thị trường, ngày lễ, sự kiện xã hội); gắn kết mục tiêu truyền thông với định hướng sáng tạo, đảm bảo
mục tiêu chất lượng của sản phẩm.
-
Lên ý tưởng và viết kịch bản là giai đoạn biến chiến lược thành kịch bản cụ
thể, brainstorm chủ đề
theo trend, thị hiếu người xem, viết kịch bản chi tiết hoặc dạng kịch bản khung.
-
Chuẩn bị sản xuất bao gồm các công việc hậu cần và tổ chức như chuẩn bị đạo cụ, bối cảnh, phục
trang, thiết bị, casting
người thể hiện (diễn viên/MC/influencer), lên lịch quay, phân công ekip, chuẩn bị backup phương
án kỹ thuật. Bước này giúp giảm thiểu rủi ro phát sinh trong quá trình quay và đảm bảo
tiến độ sản xuất.
-
Quay hình là giai đoạn thực thi sản xuất hình ảnh
và âm thanh. Quay
các cảnh theo kịch bản đã duyệt. Các nhân sự chuyên môn thực hiện công tác kiểm tra ánh sáng, bố cục, âm thanh
ngay tại hiện trường. Công việc ghi hình theo kịch bản đuộc diễn ra sau khi rà soát tất cả
các yếu tố thẩm mỹ,
truyền đạt đầy đủ nội dung... Ứng dụng các yếu tố kỹ thuật như nhiều góc quay,
hình ảnh rõ nét, khung hình dọc.
-
Dựng video (hậu kỳ) là quá trình lựa chọn, cắt dựng, kết hợp hình ảnh, âm thanh để tạo thành sản phẩm hoàn
chỉnh. Giai đoạn cắt dựng đòi hỏi
nội dung và hình ảnh
logic theo nhịp điệu, các kỹ thuật dựng sẽ “phù phép” giúp video trở nên hấp dẫn, mạch
lạc và bằng cách chèn hiệu ứng, chỉnh tiếng, thêm nhạc nền, các meme cảm xúc, chỉnh màu, chuẩn hóa định dạng video.
-
Kiểm duyệt là bước mà ở đó tổ nội dung duyệt thành phẩm video
sau khi đã dựng xong, đảm bảo nội dung đầy đủ, chính xác, dể hiểu, không bị cắt
ghép sai sự thật, hình thức thể hiện phù hợp, không phản cảm và vi phạm các quy
định pháp luật và quy tắc cộng đồng.
-
Phát hành và tối ưu giúp đảm bảo video được lan truyền hiệu quả trong môi trường số, không vi phạm pháp luật, thuần phong
mỹ tục hoặc chính sách nền tảng. Đăng tải video lên nền tảng (TikTok, YouTube Shorts, Reels)
đúng khung giờ vàng, tối ưu caption, hashtag, Theo dõi hiệu quả bằng công cụ phân tích (TikTok Analytics,
Meta Studio…)
-
Hậu kiểm và rút kinh nghiệm là bước phân tích các chỉ số thời gian xem trung bình, tỷ lệ giữ chân người xem, lượt chia
sẻ, từ đó ghi nhận bài học để cải thiện quy
trình sản xuất tiếp theo, điều chỉnh cấu trúc nội dung video ngắn sau cho hiệu quả hơn
(VD: thay đổi bố cục hoặc phong cách kể chuyện). Bước này trong
quy trình sản xuất giúp hình
thành văn hóa sản xuất dựa trên dữ liệu, liên tục cải tiến cho phù hợp với môi trường cạnh tranh số hóa.
Cụ thể ở bước kiểm duyệt,
tác giả thực hiện phỏng vấn đối với Giám đốc bộ phận sản xuất nội dung nền tảng
số. Cho thấy rõ quy trình kiểm duyệt phân tầng trong quy trình sản xuất video
ngắn tại công ty TV Hub.
Câu hỏi: Tại công ty TV Hub,
quy trình kiểm duyệt trong công tác sản xuất và phát
hành video ngắn như thế nào?
Quy trình kiểm duyệt tại TV
Hub được chú trọng torng ba bước quan trọng trong quy trình sản xuất, đó là
bước định hướng nội dung, bước sản xuất và bước phát hành. Ờ mỗi bướcm phân
chia trách nhiệm kiểm duyệt ở những tiêu chí khác nhau.
|
Bước thực hiện |
Bước (1) |
Bước (3) |
Bước (5) |
|
Định hướng
nội dung |
Sản xuất
video ngắn |
Phát hành |
|
|
Người kiểm duyệt |
CEO / Giám đốc bộ phận sản xuất nội dung số |
Nhân sự chuyên môn từng khâu (biên tập) |
Giám đốc bộ phận sản xuất nội dung số |
|
Nội dung kiểm duyệt |
Đúng quy định pháp luật Đúng định hướng nội dung của công ty Đúng quy định chuẩn mực xã hội của nền tảng |
Tính chính xác, đầy đủ, hữu ích của nội dung Tính thẩm mỹ của hình ảnh, cách hiện Các tiêu chuẩn kỹ thuật (âm thanh, màu sắc, kỹ
xảo..) |
Đúng quy định pháp luật Đúng định hướng nội dung của công ty Đúng quy định chuẩn mực xã hội của nền tảng Tính chính xác, đầy đủ, hữu ích của nội dung Tính thẩm mỹ của hình ảnh, cách hiện Các tiêu chuẩn kỹ thuật (âm thanh, màu sắc, kỹ
xảo..) |
Cốt lõi của mô hình kiểm duyệt
phân tầng nằm ở
việc CEO hoặc Giám đốc sản xuất nội dung số giữ vai trò quyết
định cuối cùng trong việc phê duyệt định hướng nội dung và các sản phẩm trước
khi phát hành. Ở cấp này, việc kiểm duyệt không chỉ đơn thuần là rà soát lỗi kỹ
thuật mà tập trung vào các yếu tố chiến lược, trả lời cho
các câu hỏi:
thông điệp truyền thông có phù hợp với định hướng thương hiệu không? video có tiềm ẩn nguy cơ vi phạm các
chuẩn mực xã hội, chính trị hay pháp luật hay không? nội dung có đồng bộ với hệ thống giá
trị mà TV Hub xây dựng trong thời gian dài không?
Bên dưới cấp quản lý cao là đội ngũ
nhân sự phụ trách các khâu kịch bản, quay phim, dựng và tối ưu nền tảng. Nhóm này
chịu trách nhiệm triển khai sản phẩm theo định hướng đã được duyệt, đồng thời
thực hiện kiểm tra kỹ thuật sơ cấp như lỗi hình ảnh, âm thanh, nhạc nền, phụ đề
hay tính hấp dẫn thị giác. Sau khi hoàn thiện bản dựng cuối cùng, sản phẩm tiếp
tục được chuyển lại cấp lãnh đạo để phê duyệt lần cuối trước khi đăng tải.
Điểm đáng chú ý trong mô hình của TV
Hub là sự kết hợp giữa kiểm duyệt thủ công và kinh nghiệm nội bộ, không phụ thuộc vào hệ thống kiểm duyệt tự
động như một số nền tảng nội dung khác, mà thay vào đó, quy trình này dựa trên
sự hiểu biết sâu sắc của các cấp lãnh đạo đối với công chúng và bối cảnh văn
hóa xã hội Việt Nam. Điều này giúp kiểm soát được nhiều khía cạnh "phi kỹ
thuật" như tính phù hợp chính trị, tôn giáo, chuẩn mực đạo đức, những yếu tố không dễ đo lường bằng
công cụ công nghệ.
Bên cạnh đó, TV Hub đã xây dựng quy trình riêng để kết
hợp sản xuất video ngắn cùng với các chuyên gia, nhà sáng tạo nội dung với điểm nổi bật là sự kết
hợp chặt chẽ giữa đội ngũ sản xuất ngay từ khâu ý tưởng đến kiểm duyệt thành
phẩm. Đây là một mô hình có ý nghĩa quan trọng dưới góc nhìn quản lý văn hoá
trong môi trường truyền thông đa nền tảng.
TV Hub xem
nhà sáng tạo là đối tác đồng hành, chứ không chỉ là “gương mặt
thương hiệu”. Khác với cách làm truyền thống, nơi người nổi
tiếng chỉ đơn thuần đóng vai trong các
sản phẩm nội dung có sẵn, TV Hub đã chủ động xây dựng mô hình sản xuất trong đó
nhà sáng tạo được tham gia từ đầu vào quá trình xây dựng nội dung.
Trong nhiều dự án video ngắn, đặc biệt là các phiên bản social cut từ chương
trình như Shark Tank Việt Nam, Top Chef, Nhập gia tuỳ
tục…, các KOL được mời hợp tác với vai trò cộng tác sáng tạo, thảo luận
ý tưởng, cùng xây dựng kịch bản, hoặc tự tạo ra các đoạn nội dung ngắn dựa trên
tinh thần chương trình chính. Sự tham
gia từ sớm này mang lại hai lợi ích quan trọng. Một mặt, nó giúp video trở nên gần
gũivới phong cách cá nhân của nhà sáng tạo, từ đó tăng tính chân thực và kết nối cảm xúc
với khán giả. Mặt khác, nó giúp đội ngũ sản xuất hiểu rõ hơn thị hiếu cộng đồng
người theo dõi của KOL, để có thể lựa chọn cách kể chuyện, hình ảnh, ngôn ngữ phù hợp với xu hướng chọn lọc nội dung hiện đại. Việc này cũng tạo điều kiện
để hình thành mối quan hệ “đồng sáng tạo” thay vì “sản xuất một chiều”, góp phần
nâng cao chất lượng và tính lan toả của sản phẩm.
Tuy trao quyền sáng tạo cho KOL, TV
Hub thực hiện việc kiểm soát nội dung qua quy trình kiểm duyệt ba lớp để đảm bảo rằng mọi sản phẩm đều tuân
thủ các tiêu chuẩn văn hoá, đạo đức và pháp lý. Đặc
biệt khi kết hợp sản xuất video ngắn với chuyên gia hoặc Kol, đội ngũ sản xuất gồm producer, biên tập viên sẽ làm việc
trực tiếp với nhà sáng tạo để đảm bảo định hướng ban đầu được giữ
nguyên, tránh việc tạo ra nội dung vượt khỏi giới hạn cho phép; Cuối
cùng là hậu kỳ và kiểm duyệt phát song, bên
cạnh bộ phận
kiểm duyệt của TV Hub đánh giá các yếu tố hình ảnh, ngôn ngữ, thông điệp, hiệu
ứng và phản ứng xã hội tiềm ẩn để đảm bảo không gây ra rủi ro truyền thông hay
xung đột văn hoá, video đồng thời được các chuyên gia, KOL duyệt nhằm đảm
bảo thống nhất với ý tưởng ban đầu. Nội dung được kiểm soát chặt về ngôn từ, tránh khuôn mẫu giáo
điều, đồng thời vẫn lan toả tư duy, ý thức trách nhiệm xã hội. Quy trình này vừa tạo ra sự an toàn nội dung
cho doanh nghiệp, vừa giúp các nhà sáng tạo cảm thấy được hỗ trợ và định hướng
thay vì bị kiểm soát cứng nhắc. Đây là ví dụ điển hình về một mô hình “sáng
tạo trong giới hạn có trách nhiệm” rất phù hợp với yêu cầu phát triển
truyền thông bền vững hiện nay.
Nhằm làm rõ hiệu quả
của quy trình phối hợp sản xuất nội dung với chuyên gia, tác giả đã phỏng vấn Ông Phạm Thanh Hưng về quy trình phối
hợp sáng tạo nội dung trên kênh Shark Hưng như sau:
Câu hỏi: Ông đánh giá thế nào về quy trình kiểm
duyệt video ngắn trong quá trình phối hợp sáng tạo nội dung trên kênh Shark
Hưng.
“Tôi cho rằng, quy trình phối hợp giữa nhà sáng tạo nội dung
và TV Hub như mô tả có một số điểm rất đáng giá. Trước tiên là sự chuyên nghiệp
và phân tầng rõ ràng trong quản lý nội dung. Khi các sản phẩm đều được phê
duyệt qua CEO hoặc Giám đốc sản xuất, điều đó cho thấy doanh nghiệp có hệ thống
kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt. Với tôi, đây là một yếu tố quan trọng vì nó
đảm bảo thương hiệu không bị rủi ro hình ảnh, điều mà các chuyên gia như
tôi rất quan
tâm.”
Một điểm tôi đánh giá cao
nữa là bộ tiêu chí kiểm duyệt có tính hệ thống: từ brand story, chiến lược
marketing, tới tiêu chuẩn nền tảng. Điều này cho thấy công ty không chỉ kiểm
duyệt cảm tính mà có logic rõ ràng. Nhưng tôi cũng mong muốn trong tương lai TV
Hub mở rộng góc nhìn quản lý nội dung không chỉ theo chuẩn thương hiệu,
mà còn theo chuẩn xã hội, văn hoá, đạo đức vì đây là xu hướng của quản trị nội dung
hiện đại.
Tuy nhiên, từ góc độ của một người làm đầu tư cũng từng sản
xuất chương trình, tôi thấy có một điểm cần lưu ý rằng liệu quy trình kiểm duyệt này có quá
nặng tính kiểm soát không? Vì trong sản xuất nội dung số, đặc biệt là video ngắn môi
trường thay đổi rất nhanh thì sáng tạo và tính thời điểm là yếu tố sống còn.
Nếu các quyết định phải chờ phê duyệt từ cấp cao, quá trình sẽ chậm lại, và có
thể mất đi ‘cơ hội vàng’ để lan truyền một xu hướng.
Tôi nghĩ nên có một mô hình phối hợp mà ở đó, các nhà
sáng tạo được “trao quyền có điều kiện”, nghĩa là được sáng tạo trong một ‘khung
an toàn’, đã được định hướng bởi thương hiệu. Còn với các nội dung có tính chất
nhạy cảm hoặc gắn với thương hiệu lớn, thì mới cần sự phê duyệt cấp cao. Việc
này sẽ giúp tiết kiệm nguồn lực quản lý mà vẫn giữ được linh hoạt.
Quy
chiếu vào các tiêu chí lý thuyết được nêu ở chương 1, tác giả nhận thấy rằng
các ưu khuyết điểm trong quy trình sản xuất và áp dụng tiêu chí vào thực tế như
sau:
Ưu điểm
-
Nhìn chung, mô hình kiểm duyệt của TV Hub thể
hiện rõ tính chuyên nghiệp, trách nhiệm và định hướng chiến lược trong hoạt
động sản xuất video ngắn, đồng thời cũng phản ánh được đặc trưng của các đơn vị
sản xuất nội dung có nền tảng truyền hình bước vào lĩnh vực số, nơi mà tiêu chuẩn nghệ thuật và sự
an toàn truyền thông luôn cần được đảm bảo song song. Trong bối cảnh video ngắn ngày càng
lan toả mạnh mẽ và ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức, hành vi cộng đồng, mô hình sản xuất
chuyên nghiệp của TV Hub là một ví dụ điển hình về việc doanh nghiệp truyền
thông có thể tự điều chỉnh để vừa phát triển kinh doanh, vừa đóng góp tích cực
vào việc giữ gìn bản sắc và định hướng giá trị văn hoá Việt Nam
-
Quy trình kiểm duyệt đa tầng của TVHub là một ví dụ rõ nét về cơ chế
tự kiểm soát (self-regulation), yếu
tố then chốt để xây dựng doanh nghiệp truyền thông bền vững và trách nhiệm xã
hội. Thay vì chờ bị “chỉnh sửa” từ bên ngoài (cơ quan nhà nước, phản ứng cộng
đồng), doanh nghiệp tự thiết lập quy chuẩn, hành lang sáng tạo phù hợp với định
hướng phát triển và các chuẩn mực xã hội, giúp đội ngũ sản xuất nội dung nội bộ hoạt động có định
hướng, Self-regulation còn giúp TV Hub
dễ dàng thích ứng với những thay đổi chính sách văn hóa truyền thông, đồng thời
chủ động hơn trong việc đối phó với khủng hoảng nội dung (nếu có). Điều này cho thấy sự chủ động của doanh
nghiệp truyền thông trong việc “tự quản lý văn hoá nội dung”, thay vì lệ thuộc
vào cơ quan kiểm duyệt nhà nước. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với bối cảnh
truyền thông số, khi tốc độ lan truyền quá nhanh khiến việc kiểm duyệt hành
chính không còn theo kịp. Trong đó, vai trò của các doanh nghiệp như TV Hub trở
nên trung tâm, vừa
là nhà sản xuất, vừa là nhà kiểm duyệt, đồng thời là đơn vị giữ vai trò
"kiến tạo văn hoá" trên nền tảng số, trở thành mô hình mẫu để nhân rộng trong ngành
truyền thông giải trí.
-
Quy trình
sản xuất video ngắn tại TV Hub không chỉ mang giá trị vận hành
nội bộ mà còn thể hiện vai trò phối hợp, hỗ trợ với cơ quan ban ngành chức năng trong việc quản lý văn hoá trên môi
trường số. Quy trình này không chỉ đơn thuần là quy trình kỹ thuật, mà còn phản
ánh tư duy quản lý văn hoá có hệ thống, gắn chặt giữa sáng tạo truyền thông và
trách nhiệm xã hội. Khi doanh nghiệp truyền thông như TVHub chủ động
kiểm soát chất lượng và định hướng nội dung, điều đó góp phần thúc đẩy một môi
trường sáng tạo an toàn, có trách nhiệm và bền vững với văn hoá bản địa.
Tuy nhiên, mô hình kiểm duyệt phân
tầng cũng đặt ra một số thách thức dưới đây là một vài khuyết điểm của quy
trình sản xuất video ngắn mà TV Hub đang áp dụng
Khuyết điểm
-
Khi mọi quyết định chiến lược đều tập
trung vào một vài cá nhân cấp cao, quá trình kiểm duyệt có thể gặp tình trạng
“thắt cổ chai” nếu khối lượng công việc tăng cao. Do đó, để mô hình này phát
huy tối đa hiệu quả, cần có cơ chế phản hồi nhanh, quy trình hóa các tiêu chí
đánh giá, cũng như đào tạo liên tục cho đội ngũ kiểm duyệt cấp dưới để giảm tải
cho người lãnh đạo mà vẫn đảm bảo chất lượng nội dung.
2.2.2 Thực trạng về sản phẩm video
ngắn
|
Chương
trình Kênh |
Sharktank (Thương vụ bạc tỷ) |
Top chef (Đầu bếp thượng đỉnh) |
Nhập gia tuỳ tục |
Shark Hưng |
Shark Nguyễn Hoà Bình |
|
Reel |
24 |
6 |
24 |
21 |
52 |
|
Tiktok |
118 |
4 |
67 |
14 |
134 |
Thống kê số lượng video ngắn TV Hub sản xuất năm
2021
Tổng số lượng: 464 video
|
Kênh |
Sharktank (Thương vụ bạc tỷ) |
Top chef (Đầu bếp thượng đỉnh) |
Nhập gia tuỳ tục |
Shark Hưng |
Shark Nguyễn Hoà Bình |
|
Reel |
34 |
21 |
45 |
13 |
45 |
|
Tiktok |
98 |
15 |
75 |
17 |
71 |
Thống kê số lượng video ngắn TV Hub sản xuất năm
2022
Tổng số lượng: 444 video
|
Kênh |
Sharktank (Thương vụ bạc tỷ) |
Top chef (Đầu bếp thượng đỉnh) |
Nhập gia tuỳ tục |
Shark Hưng |
Shark Nguyễn Hoà Bình |
|
Reel |
61 |
144 |
65 |
3 |
3 |
|
Tiktok |
93 |
201 |
107 |
14 |
45 |
Thống kê số lượng video ngắn TV Hub sản xuất năm 2023
Tổng số lượng: 736 video
|
Kênh |
Năm 2021 |
Năm 2022 |
Năm 2023 |
|
Youtube short TV Hub |
8 |
95 |
232 |
Thống kê số lượng video ngắn TV Hub sản xuất trên
kênh youtube short
Tổng số video: 335 video
Nhìn chung, các clip của TV Hub đều được xây dựng theo công thức Vấn đề –
Giải pháp – Chốt thông điệp, đảm bảo người xem nắm bắt nhanh mà vẫn cảm thấy có
giá trị. Về hình thức và thẩm mỹ, các sản phẩm đều quay dựng chuyên nghiệp, hiệu ứng, phụ đề, âm thanh đều được xử lý
đồng bộ, dễ chịu, phù hợp cả khi xem không có âm thanh. Các video đạt từ hàng trăm nghìn đến
triệu lượt xem, phản ánh lượng kết nối mạnh mẽ với khán giả. Video kỹ năng và
giáo dục cộng đồng được sử dụng rộng rãi từ gia đình, doanh nghiệp, trường
học..
Với công thức này, video ngắn sẽ phát huy tối đa khả năng thu hút ngay từ những giây đầu. Yếu tố “Vấn đề” chính là
cách thức mở đầu trực tiếp, đánh trúng vào nỗi đau hoặc sự tò mò của người xem.
Việc đặt ra một vấn đề quen thuộc, dễ liên hệ, mang tính cá nhân hoặc xã hội
giúp người xem cảm thấy gần gũi với chính mình. Điều này khiến nội dung trở nên có liên quan, từ đó
gia tăng khả năng giữ chân người xem trong những giây đầu tiên, vốn là giai đoạn quyết định
đối với thuật toán phân phối của các nền tảng số. Một trong những ưu điểm lớn
của công thức này là khả năng tổ chức thông tin theo trình tự hợp lý,
tạo ra mạch dẫn dắt mượt mà. Sau khi nêu vấn đề, phần “Giải pháp” mang đến giá
trị nội dung, đó có thể là mẹo vặt, câu chuyện thành công, sản phẩm
hoặc lời khuyên từ nhân vật. Sau cùng, “Chốt thông điệp” giúp khán giả ghi nhớ
được nội dung cốt lõi, truyền cảm hứng hoặc dẫn dắt hành vi tiếp theo như chia
sẻ, mua hàng, hoặc thay đổi quan điểm. Cách trình bày này phù hợp với đặc điểm
tiêu thụ nội dung nhanh của khán giả hiện đại: ngắn, gọn, rõ và có ý nghĩa. Từ góc độ quản lý sản xuất và kiểm duyệt, công thức này đóng
vai trò như một khung tham chiếu chung, giúp ekip nội
dung, biên tập, sáng tạo dễ dàng trao đổi, đánh giá và
điều chỉnh nội dung. Các bước rõ ràng giúp hạn chế tình trạng làm nội dung cảm
tính, thiếu định hướng, đồng thời giúp đảm bảo thông điệp cuối cùng phù hợp với
chiến lược thương hiệu hoặc tiêu chuẩn văn hóa xã hội.
Một trong những ưu điểm đáng chú ý
của sản phẩm video ngắn mà TV Hub thực hiện là khả năng tái cấu trúc hoặc phát triển nội
dung từ nguồn tư liệu có sẵn. Cấu trúc ba phần này cho phép biên
tập viên hoặc nhà sản xuất dễ dàng tái định vị nội dung đã có. Một clip phỏng vấn dài có thể được cắt
lại để làm nổi bật một vấn đề đang được quan tâm, sau đó thêm phần giải thích
đơn giản và kết bằng một thông điệp súc tích. Cách làm này vừa tiết kiệm chi
phí quay mới, vừa giúp tăng giá trị vòng đời nội dung (content lifecycle), hỗ trợ quy trình sản xuất
theo mô hình tinh gọn, điều này đặc biệt hữu ích trong việc tạo series nội
dung liên tục, duy trì sự hiện diện của thương hiệu trên các nền tảng
mà không cần chi phí quá lớn cho mỗi video. Trong bối cảnh ngân sách sản xuất hạn chế hoặc cần tăng tốc
độ ra mắt video trên nền tảng số, việc tận dụng lại các clip, hình ảnh, dữ liệu
hoặc nội dung thô từ những dự án trước là điều thiết yếu.
TV Hub đã ứng dụng tốt kỹ thuật sản xuất truyền hình,
kết hợp với sự linh hoạt của nền tảng video số. Các clip ngắn của đơn vị này phân chia rõ ràng mục tiêu giáo dục, giải trí.. được biên tập chuyên nghiệp, tạo nội
dung hấp dẫn người xem, và đạt hiệu quả lan tỏa cao. Cách làm này là mô hình
mẫu cho các công ty sản xuất nội dung muốn vừa đảm bảo thẩm mỹ, vừa tạo hiệu ứng lan
truyền xã hội và doanh thu thương mại.
Nhằm làm rõ các
tiêu chí mà TV Hub đã áp dụng để quản lý video ngắn, tác giả đã phỏng vấn với
CEO của công ty TV Hub, Bà Lê Hạnh, dưới góc độ nhà quản lý cấp cao.
Câu hỏi: Bộ tiêu chí để kiểm duyệt video trước
khi phát hành trên các nền tảng do ai thiết lập và cụ thể là những tiêu chí nào?
Trong bối cảnh video ngắn đang trở
thành hình thức nội dung chủ đạo trên các nền tảng số, các doanh nghiệp sản
xuất truyền thông tại Việt Nam buộc phải thích ứng không chỉ về mặt công nghệ,
tốc độ sản xuất mà còn về khả năng kiểm soát nội dung theo hướng có trách nhiệm
với xã hội và phù hợp với bản sắc văn hoá dân tộc. Là một trong những công ty
đi đầu trong lĩnh vực sản xuất chương trình truyền hình và video ngắn, TV Hub
đã xây dựng hệ thống quy định nội bộ để đảm bảo tính chuyên nghiệp, tính lan
toả và đặc biệt là tính phù hợp văn hoá trong các sản phẩm của mình.
Hai nhóm quy định quan trọng nhất của
TV Hub bao gồm: (1) quy định về nội dung và thông điệp; (2) quy định về hình
thức thể hiện; Những quy định này không chỉ giúp kiểm soát chất lượng nội dung
mà còn phản ánh tư duy quản lý văn hoá hiện đại trong sản xuất truyền thông.
Quy
định về nội dung và thông điệp: Định hướng giá trị và giới hạn nội dung lệch
chuẩn
TV Hub có quan điểm rõ ràng trong
việc lựa chọn thông điệp và chủ đề cho video ngắn. Theo định hướng phát triển
nội dung bền vững, công ty ưu tiên các sản phẩm truyền tải thông điệp tích cực,
mang tính giáo dục, truyền cảm hứng, khuyến khích lối sống lành mạnh, văn minh
và tôn trọng sự đa dạng văn hoá xã hội. Điều này được thể hiện rõ qua các
series ngắn trích từ chương trình như Thương vụ bạc tỷ đề cao tinh
thần khởi nghiệp, Top Chef Việt Nam tôn vinh văn hoá ẩm thực hay Nhập
gia tuỳ tục khuyến khích hiểu biết và hội nhập văn hoá vùng miền.
Bên cạnh việc khuyến khích thông điệp tích cực, TV Hub còn
đặt ra ranh giới rõ ràng đối với các nội dung nhạy cảm. Công ty kiên quyết
không sản xuất hoặc phát hành video ngắn có yếu tố phản cảm, gợi dục, bạo lực,
mê tín dị đoan, kỳ thị giới tính hoặc vi phạm các chuẩn mực đạo đức, không chứa thông tin sai lệch về y tế, chính trị, hoặc các sự kiện
xã hội nhạy cảm.. Việc này không chỉ là tuân thủ các quy định
của pháp luật trong
Luật An ninh mạng, Luật Báo chí mà còn thể hiện trách nhiệm xã hội của một đơn
vị truyền thông có ảnh hưởng lớn. Các nội dung có khả năng gây tranh cãi văn
hoá, tổn thương cộng đồng hoặc lan truyền văn hoá độc hại đều bị loại bỏ ngay
từ khâu ý tưởng.
Quy
định về hình thức thể hiện: Kiểm soát ngôn ngữ thị giác, thẩm
mỹ, thời
lượng
Video ngắn đòi hỏi tốc độ nhanh, hình
ảnh hấp dẫn và cấu trúc cô đọng, nhưng không vì thế mà TV Hub cho phép sự dễ
dãi trong cách thể hiện. Ngược lại, công ty xây dựng quy chuẩn rõ ràng về hình
thức trình bày video nhằm đảm bảo thẩm mỹ và sự phù hợp với cộng đồng mạng.
Một trong những quy định quan trọng
là video phải có phần mở đầu (3 giây đầu tiên) đủ thu hút nhưng không gây sốc.
Các hiệu ứng hình ảnh, âm thanh và dựng cảnh được kiểm soát nhằm tránh tình
trạng lạm dụng kỹ xảo, chèn meme, tiếng động phản cảm hay lối dựng “giật gân”
không cần thiết. Âm nhạc sử dụng trong video cũng được rà soát kỹ về bản quyền
và ý nghĩa văn hoá, tránh sử dụng các đoạn nhạc có từ ngữ tục tĩu hoặc gắn với
hình ảnh tiêu cực.
Về mặt ngôn ngữ, các yếu tố như biểu
cảm gương mặt, giọng nói, ngôn từ đều phải phù hợp với đối tượng người xem đại
chúng. Điều này đặc biệt quan trọng vì TikTok hay Facebook là nền tảng có người
dùng đa dạng lứa tuổi, trong đó có thanh thiếu niên – nhóm dễ bị ảnh hưởng bởi
hành vi và thẩm mỹ từ nội dung số. Do đó, việc chuẩn hoá cách thể hiện cũng là
một hình thức “bảo vệ văn hoá” và ngăn ngừa sự phổ biến của phong cách sống
lệch chuẩn, bắt chước mù quáng hoặc ngôn ngữ mạng tiêu cực.
Quy định về hình thức không chỉ giúp
video đảm bảo “sạch” và đúng chuẩn, mà còn góp phần tạo ra bản sắc thẩm mỹ
riêng biệt của TV Hub: chỉn chu, lịch sự, dễ tiếp cận nhưng không đánh mất
chiều sâu thông tin và cảm xúc.
Đồng
thời, tác giả cũng thực hiện phỏng vấn đối với quản lý bậc trung, giám đốc sản
xuất nội dung số (Social content Maanger) bà Trần Thư:
Câu hỏi:
TV Hub đã áp dụng những tiêu chí nào trong quá trình kiểm duyệt nội dung?
Tiêu chí đầu tiên và
tiên quyết nhất là ứng dụng tactics phù hợp trên từng nền tảng thể hiện tư duy tối ưu hoá kênh phân
phối, nơi mà thuật toán và hành vi người dùng là yếu tố quyết định sự thành
công của nội dung. Mỗi nền tảng có đặc trưng riêng: TikTok đề cao hook trong 3
giây đầu, ngôn ngữ đời thường và nhịp dựng nhanh; YouTube Shorts lại ưu tiên
nội dung mang tính chia sẻ hoặc thủ thuật; Facebook Reels thiên về xu hướng thị
trường đại chúng. Việc kiểm duyệt dựa trên tiêu chí này đòi hỏi đội ngũ sản
xuất phải am hiểu sâu sắc cơ chế hiển thị và văn hoá tiêu dùng nội dung
của từng nền tảng, đồng thời sáng tạo linh hoạt mà không đánh mất tính
nhất quán.
Thứ 2 là tiêu chí tuân thủ tiêu chuẩn
nền tảng (platform policy) mang tính pháp lý – đạo đức và gắn chặt với
quản lý văn hoá cộng đồng. Các nền tảng như TikTok, YouTube, Facebook đều có chính
sách nội dung nghiêm ngặt nhằm ngăn chặn thông tin độc hại, phản cảm, bạo lực,
kỳ thị, hay vi phạm bản quyền. Video vi phạm có thể bị cảnh báo, hạn chế hiển
thị, thậm chí bị gỡ bỏ và ảnh hưởng đến kênh phân phối. Do đó, khâu kiểm duyệt
phải đặc biệt lưu ý đến việc loại trừ các nguy cơ rủi ro truyền thông,
đảm bảo rằng mỗi sản phẩm không chỉ hấp dẫn mà còn an toàn về mặt xã hội.
Cuối cùng là tiêu chí là nội dung video ngắn có yếu tố marketing, phản ánh bản chất chiến lược của
video ngắn trong truyền thông hiện đại. Mỗi video không chỉ là một sản phẩm
giải trí mà cần gắn với mục tiêu rõ ràng: tăng nhận diện, thúc đẩy tương tác,
lan toả thông điệp hoặc kích thích chuyển đổi hành vi người tiêu dùng. Đây là
tiêu chí cho thấy sự chuyển dịch từ sản xuất nội dung thuần tuý sang nội
dung tích hợp mục tiêu kinh doanh, một xu thế mới của ngành truyền thông
số.
Trong lĩnh vực truyền thông đương
đại, quản lý văn hoá không chỉ là việc kiểm soát nội dung văn học, nghệ thuật
hay các sản phẩm truyền thống, mà mở rộng ra cả môi trường kỹ thuật số, đặc
biệt là video ngắn, nơi mà văn hoá được biểu đạt một cách nhanh chóng, trực diện và ảnh
hưởng sâu rộng đến cộng đồng, các tiêu chí kiểm duyệt tích hợp giữa chiến lược
truyền thông và quản lý văn hoá. Việc đặt ra các tiêu chí rõ ràng giúp tổ chức không
chỉ kiểm soát chất lượng nội dung mà còn xây dựng được hệ giá trị truyền thông
ổn định, linh hoạt và phù hợp với môi trường số đang biến đổi liên tục.
2.3. Đánh giá chung
2.3.1. Kết quả
được
Biểu đồ mô tả lượt yêu thích của khán giả đối với
video
Nguồn: báo cáo kinh doanh TV Hub năm 2021

Biểu đồ mô tả lượt yêu thích của khán giả đối với
video
Nguồn: báo cáo kinh doanh TV Hub năm 2022

Biểu đồ mô tả lượt xem của video
Nguồn: báo cáo kinh doanh TV Hub năm 2022

Bằng việc theo
đuổi, duy trì áp dụng các quy trình và tiêu chuẩn riêng, các nội dung video
ngắn do TV Hub sản xuất đã nhận được sự quan tâm, theo dõi, chia sẻ của cộng
đồng người xem, xây dựng niềm tin về kênh video thông tin chuẩn xác có giá trị.
Góp
phần kiểm soát nội dung lệch chuẩn, lan truyền văn hoá độc hại
-
Việc
thực hiện giám sát sản phẩm video theo bộ tiêu chí nội bộ giúp ngăn chặn từ sớm các nội dung mang tính kích động, bạo
lực, sai lệch chuẩn mực văn hóa, phản cảm hoặc chạy theo trào lưu lệch lạc.
Trong môi trường số, nơi tốc độ lan truyền nhanh hơn kiểm duyệt hành chính, một
hệ thống kiểm soát nội dung nội bộ như của TV Hub đóng vai trò như tuyến phòng vệ đầu tiên. Bên
cạnh đó, TV Hub thiết lập và tuân theo tiêu chuẩn của nền tảng, marketing lành mạnh giúp đội ngũ
sáng tạo không bị cuốn theo trend một cách thiếu định hướng, từ đó kiểm soát
nội dung tốt hơn ngay từ khâu tiền kỳ. Yêu cầu kiểm duyệt yếu tố marketing giúp đảm bảo rằng nội
dung mang tính quảng bá nhưng không lấn át đạo đức truyền thông, vẫn gắn kết
với văn hoá tiêu dùng tích cực, trung thực và nhân văn. Ở góc
độ quản lý văn hoá, các tiêu chí mà TV Hub thiết lập giúp giảm gánh nặng kiểm duyệt cho cơ quan
quản lý nhà nước, ngăn
chặn nguy cơ lan truyền những giá trị độc hại mà khó kiểm soát hậu quả, góp phần duy trì chuẩn mực văn hóa và
đạo đức truyền thông trong cộng đồng người xem
-
Ví dụ
trong chương trình Shark
Tank Việt nam – thương vụ bạc tỷ, các
nhà sáng lập startup được chọn lọc phần trình bày có tính chuyên môn, truyền cảm
hứng, tôn vinh năng lực và sáng kiến.
Việc này giúp mạng lại hiệu quả quản lý văn hóa như truyền thông các giá trị
tích cực của giới trẻ khởi nghiệp, tránh sa đà vào xu hướng làm giàu nhanh chóng, giữ vững định vị của chương trình là
nơi lan toả tri thức và khơi nguồn cảm hứng, thay vì trở thành nội dung giải
trí đơn thuần. Video
ngắn "Startup gọi vốn với sản phẩm chống say xe từ thảo dược – Shark Tank
Việt Nam", nội
dung video ngắn nhấn mạnh
phần giới thiệu sản phẩm và phản ứng tích cực từ các Shark, đặc biệt là về yếu
tố "thuần Việt", "tận dụng dược liệu bản địa”, định hướng khán giả trân trọng trí tuệ trẻ
Việt, tin tưởng vào năng lực sáng tạo nội địa. Video ngắn được tinh gọn, sử dụng
caption giải thích từ khoá như “thảo dược”, “công nghệ bản địa”, thể hiện sự
cân bằng giữa tính thương mại và văn hoá.
-
Một ví dụ khác trong chương trình Topchef Việt Nam, nội
dung video ngắn được trích chọn từ các phần tranh tài, hậu trường, phần chia sẻ
về văn hoá ẩm thực, tôn
vinh tinh hoa ẩm thực Việt và sự sáng tạo trong nghề bếp, lan toả lòng tự hào
văn hoá, nội dung video giới thiệu chi tiết món
cơm hến Huế, kết hợp kỹ thuật hiện đại và hình thức trình bày cao cấp. Đội ngũ làm nội dung lựa chọn nội dung phù hợp, tránh
sự lai căng hoặc đề cao văn hoá ẩm thực nước ngoài một cách thiếu cân đối. Nội dung hậu kỳ đảm bảo không sa
vào các tình tiết gây tranh cãi, lạm
dụng tình tiết mâu thuẫn
cá nhân. Phân đoạn giám khảo nhận xét về cách nâng
tầm món ăn truyền thống đã khơi
gợi tự hào về di sản ẩm thực Việt qua lối tiếp cận mới, định hướng thị hiếu ẩm thực một cách văn
minh. Video cắt đúng thời điểm tạo cảm xúc,
không dàn dựng drama giám khảo với thí sinh, một mô típ thường thấy ở các show ẩm thực
khác.
Hỗ
trợ nhà quản lý văn hoá nhà nước trong việc hướng dẫn dư luận
-
Một trong những thách thức lớn của cơ quan
quản lý văn hoá hiện nay là khả năng can thiệp kịp thời và hiệu quả vào các nội
dung số lan toả theo hướng lệch chuẩn. Các đơn vị như TV Hub khi chủ động xây dựng bộ tiêu chí sản
xuất và kiểm duyệt nội dung chặt chẽ sẽ trở thành đối tác gián tiếp của cơ quan quản lý, giúp ổn định không gian
văn hoá số. Tạo lực đẩy mềm
trong việc xây dựng dư luận xã hội tích cực, góp phần lan toả các thông điệp mang tính
giáo dục, truyền cảm hứng, tôn vinh giá trị tốt đẹp qua lăng kính sáng tạo. Ví dụ như chương trình “Nhập gia tuỳ
tục” do TV Hub sản xuất không
chỉ giải trí mà còn giúp khán giả hiểu thêm về văn hoá giao thoa, ứng xử đa dạng
trong xã hội Việt Nam hiện đại, đây
là một hình thức “dẫn dắt dư luận” mềm thông qua nghệ thuật kể chuyện.
-
Cụ thể trong Nhập Gia Tuỳ Tục các
video ngắn từ chương trình này chủ yếu tập trung vào tương tác văn hóa giữa người
nước ngoài sống tại Việt Nam với văn hoá địa phương (ẩm thực, giao tiếp, gia
đình, v.v.) Việc
cắt dựng, caption, chọn hình ảnh đều hướng đến tính giáo dục nhẹ nhàng, hài hước
vừa đủ và thân thiện, góp
phần xóa bỏ định kiến văn hoá, hỗ trợ truyền thông chính sách hội nhập, đa dạng
hoá cộng đồng, trở
thành tài nguyên mềm cho các chiến dịch truyền thông quốc gia về hình ảnh Việt
Nam trong mắt bạn bè quốc tế.
Một ví dụ khác là video người nước ngoài thử tập nói tiếng Việt với
câu tục ngữ “Nhập
gia tuỳ tục” do TV Hub sản xuất.
Trong video, một vị khách nước ngoài cố gắng phát âm
đúng câu tục ngữ, kèm theo phần giải nghĩa, và phản ứng vui vẻ của người dân chương trình. Tình huống chân thực, đồng cảm, không biến người nước
ngoài thành đối tượng hài hước rẻ tiền, không làm mất hình ảnh văn hoá dân tộc. Chúng ta cũng nhận thấy ý nghĩa dẫn dắt dư
luận trong video này rất rõ rằng
giải nghĩa tục ngữ, đồng thời khuyến khích sự kiên nhẫn, khoan dung văn hoá
trong bối cảnh đa quốc gia. Đội
ngũ thực hiện video đã thực hiện được tiêu chí bằng giữa tính giải
trí và giáo dục, phù hợp với tiêu chí lan truyền tích cực trên nền tảng xã hội.
Tôn vinh bản sắc văn hoá dân tộc
-
Trong
khi nhiều đơn vị truyền thông chạy theo xu hướng giải trí nhanh, TV Hub lại lựa chọn đường hướng làm nổi
bật bản sắc văn hoá dân tộc qua video ngắn. Các sản phẩm video ngắn của TV Hub, đặc biệt trong các chương trình
như Nhập gia tuỳ tục, Top Chef Việt Nam, thường khái
thác những yếu tố văn hoá địa phương, từ ngôn ngữ, ẩm thực, trang phục cho đến
nghi lễ tập quán. Điểm đặc biệt đáng ghi nhận là nội dung được truyền đạt dưới
hình thức gần gũi, dễ tiếp nhận và không đầy tính đạo đức hóa.
Đảm bảo thông tin chính xác
-
Trong
bối cảnh tin giả đang tràn lan trên nền tảng số, việc đảm bảo tính chính xác
trong video ngắn là thách thức không nhỏ. TV Hub đã xây dựng quy trình kiểm duyệt nội dung nghiêm ngặt với
sự tham gia của giám đốc nội dung, các chuyên gia đối chiếu tài liệu văn hoá,
lịch sử hoặc số liệu kinh doanh, khoa học.
-
Trong
Shark Tank Việt Nam, các video ngắn trích dẫn phát ngôn của startup
được kiểm tra lại các số liệu về doanh thu, quy mô thị trường… trước khi lên sóng, tránh tình trạng
thông tin sai gây ngộ nhận với người xem.
Trích nguồn rõ ràng, tuân thủ quy định bản quyền
-
Không
chỉ truyền tải nội dung chính xác, video ngắn của TV Hub còn cho thấy sự nghiêm túc trong
việc trích dẫn nguồn tài liệu. Điều này thể hiện qua các chú thích trên video,
phần caption hoặc dòng lồng trong clip. Trong chương trình Topchef Việt
nam, các tư liệu ẩm thực được xin bản quyền của hiệp hội ẩm thực, hoặc các nghệ
nhân, đều được trích dẫn, ghi chú.
-
Trong
sản xuất video ngắn, nguy cơ vi phạm bản quyền ảnh, nhạc, hình ảnh của bên thứ
ba là rất cao nếu không có quy trình kiểm duyệt rõ ràng. TV Hub với lợi thế là đơn vị sản xuất
nội dung gốc đã chủ động hoàn toàn về hình ảnh, nhạc nền, footage sử dụng trong
video. Khi cần sử dụng
nhạc nền hoặc ảnh từ bên ngoài, TV Hub luôn áp dụng nghiêm ngặt quy trình mua quyền, đăng ký sử
dụng và trích dẫn nguồn rõ ràng. Các video ngắn hậu trường gameshow sử dụng
nhạc có giấy phép được cung cấp bởi trung tâm bảo vệ quyền tác giả, tác
giả, hoặc mua bản quyền từ thư
viện Epidemic Sound,
Shutter stock.
Ưu điểm về kỹ thuật hình ảnh và thẩm
mỹ
-
TV Hub là đơn vị hiếm hoi duy trì được
sự đồng bộ cao trong chất lượng hình ảnh của video ngắn. Các video được quay
bằng thiết bị chuyên nghiệp, ánh sáng đầy đủ, góc quay sáng tạo, và màu sắc
được hậu kỳ kỹ lưỡng. Kỹ
thuật dựng khung dọc đáp ứng xu hướng người xem được tối ưu cho mỗi nền tảng. Độ phân giải cao, hiệu ứng nhịp nhàng phù hợp với nhịp dựng tạo trải nghiệm thị giác
tích cực. Thẩm
mỹ của video thể hiện qua cách chọn đồng phục, màu nền, font chữ phụ đề và bố
cục cực kỳ đồng nhất. Điều này không chỉ đem lại trải nghiệm cho người
xem mà mà còn xây dựng
nhận diện thương hiệu rõ ràng trên mỗi nền tảng.
Khuyết
điểm
Bên
cạnh những ưu điểm nổi bật trong việc xây dựng nội dung, kỹ thuật hình ảnh và
kiểm duyệt, hoạt động sản xuất video ngắn tại TV Hub vẫn còn tồn tại một số khuyết điểm đáng chú ý dưới
góc nhìn quản lý văn hoá. Các khuyết điểm này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả
truyền thông mà còn đặt ra thách thức trong việc duy trì tính bền vững và chuẩn
mực văn hoá,
pháp lý cho sản phẩm truyền thông đại chúng. Qua quá trình phân tích, tác giảxin nêu dưới đây một số khuyết
điểm cơ bản cùng nguyên nhân hình thành.
Thiếu
công khai quy trình kiểm duyệt nội dung
-
Mặc dù TV Hub
có hệ thống kiểm duyệt nội dung chặt chẽ với sự tham gia của các bộ phận nội
dung, sản xuất và hậu kỳ, tuy nhiên quy trình này vẫn chưa được công bố rõ ràng
cho công chúng và các bên liên quan. Điều này dẫn đến sự thiếu minh bạch và khó
khăn trong việc kiểm chứng tính khách quan của nội dung video. Với vai trò là
một đơn vị truyền thông có ảnh hưởng rộng, việc không công khai quy trình kiểm
duyệt khiến người xem và các nhà nghiên cứu khó đánh giá về mức độ tuân thủ đạo
đức nghề nghiệp cũng như pháp luật. Việc
chưa công khai có thể bắt nguồn từ tâm lý bảo mật nội bộ trong sáng tạo sản xuất nội dung. Đồng thời, một số quy trình
kiểm duyệt có thể còn mang tính linh hoạt tuỳ dự án, chưa chuẩn hoá để có thể
đưa ra công khai.
Thiếu
sự tham vấn chuyên gia độc lập trong nội dung văn hoá và lịch sử
-
Trong các video khai thác yếu tố phong tục,
tập quán hay văn hoá vùng miền, TV Hub
vẫn chưa thể hiện rõ việc tham khảo từ giới học thuật hoặc chuyên gia chuyên
ngành. Điều này có thể làm giảm độ tin cậy và giá trị học thuật của video khi
được khai thác bởi khán giả chuyên biệt như sinh viên, nhà nghiên cứu, hoặc
giới phê bình. Tiêu chí hiện nay chủ yếu do
đội ngũ sản xuất và lãnh đạo nội bộ xây dựng. Việc không có cơ chế phản
biện từ chuyên gia văn hoá, giáo dục hoặc từ chính người xem mục tiêu
có thể khiến hệ tiêu chí thiếu chiều sâu và cập nhật chậm với thay đổi xã hội. Áp lực sản xuất nhanh, số lượng nhiều trên các nền tảng mạng xã
hội khiến quá trình xác minh thông tin chuyên sâu qua giới học thuật bị rút
ngắn hoặc bỏ qua. Ngoài ra, chưa có cơ chế phối hợp thường xuyên giữa đội ngũ
sản xuất nội dung và các chuyên gia bên ngoài.
Giới hạn khả năng sáng
tạo nếu áp dụng cứng nhắc
-
Tiêu chí kiểm duyệt tuân thủ tiêu chuẩn nền tảng
nhấn mạnh đến tính thích nghi với văn hoá nền tảng, có thể dẫn đến việc các video bị định
dạng hoá, rập khuôn theo xu hướng (format 9:16, cut nhanh, caption
giật tít…), khiến hình thức video trở nên đồng nhất, thiếu cá tính,
từ đó làm giảm tính thẩm mỹ và chiều sâu văn hoá. Điều này làm triệt tiêu tính sáng tạo văn hoá,
vốn là yếu tố quan trọng trong đổi mới nội dung video ngắn. Việc áp dụng các tactics theo trend mà
không đặt trong khuôn khổ kiểm duyệt, nội dung có thể bị chạy theo thị hiếu
ngắn hạn, mất chất lượng văn hoá lâu dài. Do đó, tiêu chí này cần gắn chặt với
vai trò hướng dẫn ứng
dụng kỹ thuật nhưng không đánh mất giá trị, tức là giữ được bản sắc trong khi
linh hoạt với hình thức.
-
Việc chỉ ra các khuyết điểm trong hoạt động
sản xuất video ngắn của TV Hub
không nhằm phủ nhận những thành tựu đã đạt được, mà nhằm bổ sung góc nhìn phản
biện cần thiết cho một mô hình sản xuất truyền thông hiện đại. Để phát triển
bền vững và nâng cao vai trò định hướng văn hoá xã hội, TV Hub cần quan tâm hơn đến tính học thuật, tính
minh bạch và khả năng đối thoại xã hội trong sản phẩm video ngắn, những yếu tố cốt lõi để xây dựng một hệ
sinh thái truyền thông trách nhiệm và có chiều sâu.
Tiểu kết chương 2:
Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của
truyền thông số, TV Hub
đã khẳng định được vai trò là một trong những đơn vị tiên phong và chuyên
nghiệp trong lĩnh vực sản xuất video ngắn trên thị trường sản
xuất nội dung số. Với
lợi thế kinh nghiệm lâu năm trong sản xuất các chương trình truyền hình thực
tế, TV Hub đã nhanh chóng
thích ứng và chuyển dịch mô hình sản xuất sang định dạng video ngắn trên các
nền tảng số như Facebook, TikTok và YouTube Shorts. Thành tựu rõ nét nhất của
TV Hub là khả năng xây dựng hệ thống
quản lý nội dung hiệu quả, đảm bảo sản phẩm vừa hấp dẫn thị hiếu đại chúng, vừa
tuân thủ các quy định pháp luật và chuẩn mực văn hóa xã hội.
Trên phương diện nội dung, TV Hub duy trì định hướng sản xuất các
video mang tính giáo dục, truyền cảm hứng và tôn vinh bản sắc văn hóa Việt, lan tỏa rộng trên mạng xã hội. Đội
ngũ sản xuất của TV Hub
thể hiện sự chuyên nghiệp trong việc kiểm chứng thông tin, đảm bảo không vi
phạm bản quyền, luôn trích nguồn rõ ràng và tuyệt đối tránh các nội dung phản
cảm, kích động hoặc gây hiểu lầm.
Về mặt tổ chức, TV Hub xây dựng quy trình sản xuất có hệ
thống với sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận: nội dung, quay dựng, biên tập
hậu kỳ và kiểm duyệt. Ngoài ra, doanh nghiệp còn tuân thủ các quy chuẩn cộng
đồng của nền tảng số như TikTok hay Facebook, từ tiêu chuẩn hình ảnh, định dạng
video đến cách truyền tải thông điệp phù hợp với từng nhóm đối tượng. Các thành
tựu này không chỉ giúp TV Hub
giữ vững vị thế là đơn vị sản xuất đáng tin cậy, mà còn góp phần vào việc nâng
cao chuẩn mực nội dung video ngắn, một lĩnh vực đang phát triển nhanh nhưng còn nhiều thách thức
trong quản lý văn hóa.
Cuối cùng, TV Hub cần chứng minh khả năng linh hoạt hoá hệ thống và nuôi dưỡng
sáng tạo nội tại. Vì nội dung số không chỉ cần kiểm soát tốt mà còn
phải sản xuất nhanh, sáng tạo nhanh và tối ưu hoá tài nguyên con người.