BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA TP. HỒ CHÍ MINH
Môn học:
CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VÀ CHIẾN LƯỢC
QUẢN LÝ VĂN HOÁ VIỆT NAM
Đề tài:
Chính sách quản lý di sản văn hoá trong bối cảnh hội nhập –
Nghiên cứu trường hợp quản lý di sản văn hóa Óc Eo ở Đồng bằng sông Cửu Long
Giảng viên: PGS.TS Phan Quốc Anh
NCS: Nguyễn Quang Khánh
Lớp: Quản lý Văn hóa K3 (2024 – 2027)
Thành Phố Hồ Chí Minh,
tháng 5 năm 2025
Chính sách quản lý di sản văn hóa trong bối cảnh hội nhập -
Nghiên cứu trường
hợp quản lý di sản văn hoá Óc Eo ở Đồng bằng sông Cửu Long
Nguyễn Quang Khánh1
Abstract
The
Oc Eo culture is a valuable part of Vietnam's cultural heritage that existed
and developed from the 1st to the 7th century, associated with the formation of
the Kingdom of Funan. This heritage has been discovered through Oc Eo
archaeological sites in the Mekong
Delta, reflecting the process of cultural exchange among major civilizations
such as India, China, Cambodia, and the Mediterranean.
Recognizing the Oc
Eo heritage as a national
cultural asset of international significance is crucial. It calls for a unified effort among
sectors, organizations, and the community to ensure its preservation and
promotion. Currently, however, our management efforts are hindered by numerous
challenges, including inadequate resources, poor coordination, and limited integration
of modern conservation techniques, especially regarding the implementation of
vital policies for managing and promoting heritage values.
The
article presents the values of the Oc Eo cultural heritage and analyzes the
current state of policies for managing this heritage in the Mekong Delta. Based
on that analysis, it offers solutions and recommendations aimed at improving the effectiveness of management
and conservation efforts in order to promote the cultural value of the Oc Eo
heritage in the context of regional integration.
Keywords: Oc Eo culture; Oc Eo heritage management policy; cultural preservation
policy; Mekong Delta archaeological collections; international integration and
heritage conservation.
Dẫn
nhập
Văn
hóa Óc Eo là một nền văn hóa có giá trị to lớn của Việt Nam tồn tại và phát
triển từ thế kỷ I đến thế kỷ VII, gắn liền với sự hình thành của vương
quốc Phù Nam. Di sản văn hóa này được phát hiện qua các di chỉ Óc Eo ở Đồng
bằng sông Cửu Long phản ánh quá trình giao thoa văn hóa giữa các nền văn minh
lớn như Ấn Độ, Trung Hoa, Campuchia và Địa Trung Hải.
Di sản Óc Eo là tài sản văn hóa quý giá của quốc gia, có giá trị quốc tế, đòi hỏi
sự phối hợp giữa các cấp ngành, các tổ chức và sự tham gia của cộng đồng. Tuy nhiên, công tác
1 NCS trường
Đại học Văn hóa TP.HCM
quản lý hiện nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn, từ vấn đề thiếu nguồn lực,
cơ chế phối hợp chưa hiệu quả, đến sự thiếu hụt trong việc áp dụng các phương
pháp bảo tồn hiện đại, nhất là trong công tác thực hiện chính sách quản lý, bảo
tồn và phát huy các giá trị của di
sản.
Bài
viết giới thiệu những giá trị của di sản văn hóa Óc Eo, phân tích thực trạng
chính sách quản lý di sản văn hóa Óc Eo tại Đồng bằng sông Cửu Long. Trên cơ sở
đó, bài viết đưa ra các giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao
hiệu quả trong công tác quản lý và bảo tồn di sản trong việc phát huy giá
trị văn hóa của di sản Óc Eo trong bối cảnh nhập khu vực.
Từ khóa: Văn hóa Óc Eo; Chính sách quản lý di sản Óc Eo; Chính sách bảo tồn văn
hóa; Sưu tập khảo cổ Đồng bằng sông Cửu Long; Hội nhập quốc tế và bảo tồn di
sản.
1.
Văn hóa Óc Eo – Nền văn hóa cổ tiêu biểu vùng Nam Bộ
Vào đầu thế kỷ XX, nhiều
hiện vật văn hóa Óc Eo đã được phát hiện ở Đồng bằng sông Cửu Long, miền Nam Việt Nam. Những
năm 1942 - 1944, nhà khảo cổ người Pháp Louis Malleret đã tiến hành các cuộc
khai quật trên nhiều diện tích tại khu vực Óc Eo, Ba Thê (thuộc huyện Tri Tôn,
tỉnh An Giang ngày nay). Từ cuộc khai
quật, di chỉ Óc Eo được xem là nền móng cho nền văn hóa này và được đặt tên là
Óc Eo cho đến ngày nay.
Các hiện vật được tìm thấy ban đầu có dấu vết từ thời
kỷ đá mới đến kỷ kim loại. Cư dân Óc Eo đã biết cách canh tác và giao lưu với
các văn hóa từ biển Đông của Thái Bình Dương đến Ấn Độ, Ba Tư và vùng Địa Trung
Hải. "Như một thành phố lớn, một thị
trường thịnh vượng, một trung tâm kinh tế sầm uất với mối quan hệ thương mại từ
châu Âu đến châu Á. Đồng thời, thị trấn cổ kính của Óc Eo cũng là một bằng
chứng cho nền văn minh của một dân tộc cổ đại được hình thành sớm nhất ở Đông
Nam Á", (Louis Malleret).
Sau năm 1975, nhiều nghiên cứu về các di tích của
vương quốc Óc Eo (Funan Kingdom) đã được tiếp tục. Những phát hiện mới về hiện
vật và kiến trúc đa dạng đã giúp làm sáng tỏ vị trí của khu vực Văn hóa Óc Eo
trong lịch sử của Vương quốc Funan cổ. "Các
di tích xung quanh núi Ba Thê với quy mô rộng lớn và nhiều ngôi mộ thờ - thực
sự là một trung tâm vĩ
đại đã mang lại các kỹ
thuật và nghệ thuật tinh túy. Đây chắc chắn
là một trung tâm quyền lực" (Lê Xuân Diệm).
Dựa trên các sưu tập được phân tích từ các cuộc khai quật, bao gồm đồ
gốm tinh xảo, đồ vàng, dây chuyền,
vòng cổ, tượng đồng, dụng cụ nông nghiệp và thủ công truyền thống trong quá
trình hình thành của Vương quốc Funan từ thế kỷ thứ I đến thứ VII. Chúng đã
thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của thương mại cả trong nước lẫn quốc tế,
biến Óc Eo trở thành nơi giao thương trong khu vực. Hơn nữa, trong cuộc khai
quật với quy mô lớn những năm 2017 – 2020, nhiều hiện vật văn hóa Óc Eo cung cấp thông tin quan trọng cho
việc nghiên cứu về tôn giáo, lịch sử nghệ thuật và làm cầu nối lịch sử
giữa Ấn Độ và Đông Nam Á, đặt ra nhiều vấn đề trong công tác hậu khai quật về
bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa từ các di chỉ này.
1.2. Phân bố địa lý và các tỉnh có di tích Óc Eo
Hiện nay, ít nhất 8 tỉnh, thành phố trong khu
vực Đồng bằng sông Cửu Long có các di tích và hiện vật liên quan đến văn hóa Óc
Eo. Các tỉnh này bao gồm:
An Giang: Cụm di tích quốc gia đặc biệt Óc Eo – Ba Thê, Gò Cây Thị.
Kiên Giang: Các di tích nổi bật như Nền Chùa,
Cạnh Đền, Giồng
Xoài và Di tích K9. Cần Thơ: Vùng Thới Lai, Phong Điền.
Vĩnh Long: Các di tích ở Trà Ôn, Bình Minh. Sóc Trăng: Long Phú, Mỹ Xuyên.
Bạc Liêu: Giồng Bướm, Giồng Cát.
Đồng Tháp: Các dấu tích tại các di chỉ khảo cổ học.
Tiền
Giang và Bến Tre: Các dấu tích lẻ tẻ qua khảo sát địa tầng và hiện vật còn lưu giữ trong nhân dân.
Các di tích này đều gắn liền với sự hình thành và phát triển của vương
quốc Phù Nam, trong giai đoạn từ thế kỷ I đến thế kỷ VII, khi khu vực này là
một trung tâm giao thương quan trọng trong mạng lưới quốc tế.
1.3.
Hoạt động khảo cổ và nghiên
cứu văn hóa Óc Eo qua các thời kỳ
Giai đoạn đầu (1942–1944): Nhà khảo cổ học người Pháp, Louis Malleret, là người đầu tiên tiến hành khai quật tại di tích
Óc Eo – Ba Thê (An Giang) và đưa ra khái niệm "Văn hóa Óc Eo". Ông
nhận định rằng khu vực này từng là một đô thị cổ có mối quan hệ mạnh mẽ với các
mạng lưới thương mại quốc tế, đặc biệt là với các nền văn minh Ấn Độ và Trung
Hoa.
Giai đoạn 1980–1995: Viện Khảo cổ học Việt Nam tiếp tục các cuộc khảo
sát và khai quật tại các tỉnh như An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng. Các
phát hiện này mở rộng hiểu biết về mối liên hệ giữa văn hóa
Óc Eo và các nền văn hóa lớn trong khu vực,
với những dấu tích về các nền chùa, khu thương mại, và đời sống tôn giáo của cư
dân Óc Eo.
Giai đoạn 2000–2010: Các cuộc khảo cổ không chỉ giới hạn ở phạm vi quốc
gia mà còn có sự hợp tác quốc tế giữa
Viện Khoa học xã hội Vùng Nam bộ với các viện nghiên cứu từ Nhật Bản, Đức,
Úc,…Công nghệ viễn thám và phân tích mẫu vật giúp làm sáng tỏ nhiều khía cạnh
mới về văn hóa Óc Eo.
Giai đoạn từ 2015 đến nay: Nhà nước có sự quan tâm về việc công nhận và
xếp hạng các di tích khảo cổ thuộc nền văn hóa Óc Eo ở đồng bằng sông Cửu Long, xác định tầm
quan trọng của di sản văn hóa Óc Eo và đề xuất những nhiệm vụ quan
trọng cần được tiếp tục nghiên cứu. Riêng ở An Giang và Kiên Giang, các cuộc
khai quật tiếp tục được thực hiện với sự hợp tác giữa các viện nghiên cứu trong
nước từ những năm 2017 - 2020. Qua lần khai quật này, quần thể di tích Óc Eo Ba
Thê – Nền Chùa một lần nữa được đánh thức trong vai trò chủ thể trung tâm của
vương quốc Phù Nam qua các cứ liệu di vật được tìm thấy. Những phát hiện quan
trọng, từ các công trình tôn giáo, thương mại, đến các hiện vật gốm sứ, kim
loại, đồ trang sức và những hiện vật du nhập từ bên ngoài đã góp phần củng cố
giả thuyết về sự thịnh vượng của vương quốc Phù Nam và mối liên kết giữa văn
hóa Óc Eo với các nền văn minh Ấn Độ, Trung Hoa và vùng Địa Trung Hải.
2.
Chính sách quản lý di sản văn hóa Óc Eo và kết quả vận
dụng
Trong
bối cảnh hội nhập quốc tế, công tác quản lý di sản văn hóa tại Việt Nam đang đối mặt với nhiều cơ hội và thách thức
mới. Các chính sách và pháp luật liên quan đến di sản văn hóa đã được xây dựng
và hoàn thiện để thích ứng với xu thế toàn cầu hóa và yêu cầu bảo vệ
di sản trong thời đại mới. Di sản văn hóa không chỉ là tài sản
quốc gia mà còn là
tài sản chung của nhân loại, do đó, việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản càng trở nên quan trọng
trong việc hội nhập và phát triển bền vững.
Quản
lý di sản văn hóa tại Việt Nam được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật Di sản văn hóa
2001, sửa đổi, bổ sung vào năm 2009, và các nghị định, thông tư hướng dẫn thi
hành. Luật này là cơ sở pháp lý quan
trọng, quy định việc bảo vệ, quản
lý, khai thác và phát huy giá trị di
sản văn hóa vật thể và phi vật thể, từ các di tích, di sản văn hóa đến các lễ
hội, tập quán của cộng đồng.
Các nghị định cụ
thể như Nghị định 109/2017/NĐ-CP về quản lý di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, Nghị
định 166/2018/NĐ-CP về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, và Nghị định
86/2005/NĐ-CP về di sản văn hóa dưới nước cũng đóng vai trò quan trọng trong
việc điều chỉnh các hoạt động bảo tồn di sản văn hóa trong bối cảnh hội nhập.
Mới
đây, Luật Di sản văn hóa năm 2024
(số 45/2024/QH15) được Quốc hội thông qua, có hiệu lực từ ngày 01/01/2025, sẽ
thay thế và bổ sung các quy định nhằm bảo vệ di sản trong bối cảnh mới. Luật
này đưa ra những điểm mới quan
trọng, bao gồm việc tăng cường vai trò của cộng đồng trong việc bảo vệ di sản,
áp dụng các công nghệ bảo tồn hiện đại, và thúc đẩy sự tham gia của các tổ chức quốc tế trong việc bảo vệ di sản văn
hóa. Các chương trình mục tiêu quốc gia, như Quyết Định
Số 1909/QĐ-TTg về phê duyệt chiến lược phát triển văn hóa việt nam đến năm
2030; Quyết định số 1719/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về
mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và
miền núi giai đoạn 2021 - 2030, cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát
huy giá trị di sản văn hóa, trong đó có các di sản văn hóa Óc Eo ở Đồng bằng
sông Cửu Long.
Công tác thi
hành chính sách quản lý di sản văn hóa và việc vận dụng đối với di sản
Óc Eo trong những năm qua đã đạt được một số kết quả trên các lĩnh vực, cụ thể:
* Đối với công tác Bảo tồn và lưu trữ hiện vật:
Các bảo tàng và khu
di tích ở Đồng bằng sông Cửu
Long đã thực hiện nhiều hoạt động bảo tồn và phục hồi các hiện vật từ nền
văn hóa Óc Eo. Các hiện vật như tượng, đồ gốm, đồ kim loại và đồ đá được
bảo quản, nghiên cứu và trưng bày một cách khoa học. Việc thu thập, kiểm kê và
phục hồi hiện vật cũng đạt được một số tiến bộ nhất định. Các bảo tàng như Bảo
tàng Óc Eo An Giang và các khu di
tích Óc Eo như Gò Tháp, Ba Thê - Gò Cây Thị đã có những chương trình trưng bày
và bảo tồn hiện vật rất hiệu quả.
*Tăng cường nhận thức cộng đồng:
Công
tác giáo dục cộng đồng về giá trị của di sản Óc Eo đã được các cơ quan quản lý,
bảo tàng và các tổ chức thực hiện thông qua các chương trình triển lãm, hội
thảo, và các hoạt động cộng đồng. Sự tham gia của cộng đồng địa phương đã giúp
nâng cao nhận thức về việc bảo vệ di sản. Các hoạt động này cũng góp phần thu hút sự quan tâm của
đông đảo du khách và giới học giả, tạo ra một mối liên kết chặt chẽ hơn giữa di
sản và cộng đồng.
* Phát triển du lịch văn hóa và di sản:
Nhiều tỉnh trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đã tổ chức
tốt việc phát triển mô hình du lịch di sản, trong đó du lịch văn hóa gắn liền
với các di tích Óc Eo. Các khu di tích Óc Eo đã trở thành điểm đến du lịch văn
hóa hấp dẫn, giúp thu hút khách tham quan và gia tăng sự quan tâm đến giá trị
di sản này. Các địa phương như Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang đã triển khai
nhiều hoạt động du lịch kết hợp với bảo tồn di sản như:
Di tích Óc Eo Gò Tháp (Đồng Tháp): Khu di tích này đã tổ chức 12 phiên Chợ quê, thu hút gần 97.000 lượt khách tham gia và
trở thành một điểm du lịch văn hóa nổi bật của
Đồng Tháp. Bên cạnh đó, năm 2024, Đồng Tháp đã đón khoảng 4,3 triệu lượt
khách, tăng 6,69% so với năm trước, với sự đóng góp không nhỏ từ các di tích Óc
Eo, đặc biệt là Gò Tháp, chiếm 46% trong tổng số các điểm đến du lịch của tỉnh.2
Di
tích Óc Eo Ba Thê - Gò Cây Thị (An Giang): Năm 2023, khu di tích đã thu hút trên
27.000 lượt khách tham quan, phần lớn là học sinh các trường trong và
ngoài tỉnh tham gia các hoạt động về nguồn. An Giang cũng ước đón 7 triệu lượt
khách trong năm 2024, tăng 16% so với cùng kỳ. Du lịch di sản ở An Giang đã tăng
trưởng mạnh mẽ, với tỷ lệ du khách tham quan các di tích Óc Eo tăng
15% trong năm qua, đóng góp quan trọng vào sự phát triển du lịch của tỉnh.3
2 Báo cáo hoạt động năm 2024 của Ban Quản lý di tích Gò Tháp,
tỉnh Đồng Tháp.
3 Số liệu do tác giả tổng hợp từ BQL Di tích Óc Eo, tỉnh Kiên Giang,
tháng 5/2025.
Bảo
tàng Óc Eo An Giang và di tích Óc Eo Nền Chùa - Giồng Xoài (Kiên Giang): Du
lịch văn hóa tại các khu di tích này không chỉ góp phần vào công tác bảo tồn mà
còn giúp tăng nguồn thu cho các địa phương. Năm 2024, Kiên Giang đón hơn 9,8
triệu lượt khách du lịch, với tổng thu đạt hơn 25.141
tỷ đồng, tăng 43,8% so với cùng kỳ. Du lịch di sản
văn hóa tại Kiên Giang cũng đã tăng trưởng đáng kể, với tỷ lệ khách du lịch đến
các di tích Óc Eo tăng 11% trong năm qua, đóng góp tích cực vào sự phát triển
của ngành du lịch và kinh tế địa phương.4
Từ
sau đại dịch COVID-19, nhờ việc vận dụng chính sách quản lý hiệu quả chính sách
quản lý của nhà nước, du lịch Đồng bằng sông Cửu Long đã phục hồi mạnh mẽ.
Lượng khách du lịch đến các khu di tích Óc Eo đã tăng đáng kể, đặc biệt là tại
các tỉnh Đồng Tháp, An Giang và Kiên
Giang. Việc phát triển mô hình du lịch văn hóa kết hợp bảo tồn di sản không chỉ
tạo nguồn thu cho các địa phương mà còn góp phần quan trọng trong việc phát huy
giá trị di sản Óc Eo.
3.
Những tồn tại và thách thức trong
thực hiện chính sách quản lý di sản Óc Eo ở Đồng bằng Sông Cửu Long
*Thiếu chiến lược bảo tồn tổng thể và dài hạn:
Chính
sách quản lý di sản Óc Eo hiện nay vẫn
chưa xây dựng được một chiến lược
bảo tồn tổng thể mang tính dài hạn, gắn kết giữa các cấp chính quyền, cơ quan
chuyên môn và cộng đồng địa phương. Phần lớn các kế hoạch bảo tồn mang tính
ngắn hạn, thiếu tầm nhìn hệ thống và chưa được tích hợp vào quy hoạch phát
triển kinh tế, xã hội của vùng Đồng bằng Sông
Cửu Long. Điều này khiến cho các hoạt
động bảo tồn rơi vào tình trạng bị động, rời
rạc và khó phát huy hiệu quả lâu dài.
* Thiếu quy chuẩn và cơ chế quản lý chuyên
biệt cho di sản khảo
cổ:
Di
sản Óc Eo là loại hình di sản khảo cổ đặc thù, nhưng chính sách hiện hành chưa
có những quy chuẩn kỹ thuật rõ ràng, hay khung pháp lý riêng biệt để quản lý
nhóm di sản này. Các hướng dẫn về bảo tồn, khai quật, phục hồi hiện vật, và
trưng bày tại bảo tàng còn chung
chung, chưa đủ chi tiết để các địa phương áp dụng hiệu quả. Điều này dẫn đến sự
lúng túng trong thực hiện và thiếu thống nhất giữa các địa phương có di tích Óc
Eo.
* Chính sách đầu tư tài chính chưa ổn định và thiếu
ưu tiên:
Mặc
dù có sự hỗ trợ từ Trung ương và quốc tế, nhưng ngân sách dành cho công tác
quản lý và bảo tồn di sản Óc Eo vẫn chưa được ưu tiên rõ ràng trong các chương
trình phát triển văn hóa cấp vùng và cấp tỉnh. Cơ chế phân bổ kinh phí còn mang tính hành chính,
4 Báo cáo hoạt động du lịch tỉnh Kiên Giang năm 2024.
thiếu ổn định, và không có quy định khuyến khích xã hội hóa hoặc hợp
tác công - tư trong bảo tồn di sản. Điều này
khiến cho các bảo
tàng và địa phương khó triển khai các
hoạt động bảo tồn có tính chiều sâu
cũng như hiện đại hóa công nghệ bảo quản.
* Thiếu cơ chế phối hợp liên ngành và liên tỉnh:
Di sản Óc Eo phân bố rộng ở nhiều tỉnh trong
khu vực, nhưng cơ chế phối
hợp giữa các địa
phương còn lỏng lẻo. Chính sách quản lý hiện nay chưa xác lập được
mô hình điều phối vùng hay cơ
quan đầu mối cấp khu vực để thống nhất trong việc bảo tồn, nghiên cứu và quảng
bá di sản. Việc thiếu phối hợp khiến cho nguồn lực bị phân tán, thông tin khảo
cổ không được chia sẻ kịp thời, và công tác quản lý bị trùng lắp hoặc bỏ sót.
* Chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chưa gắn với thực tiễn bảo tồn:
Hiện
chưa có chính sách quốc gia hay cấp vùng cụ thể về đào tạo nhân lực bảo tồn di
sản khảo cổ học như Óc Eo. Việc đào tạo chuyên môn thường rơi vào các chương
trình ngắn hạn hoặc không sát với nhu cầu thực tế của các bảo tàng địa phương.
Điều này tạo ra khoảng cách lớn giữa chính sách
nhân lực và thực tiễn triển khai, dẫn đến việc thiếu cán bộ có chuyên môn sâu,
ảnh hưởng đến chất lượng bảo tồn và phát huy giá trị di sản.
* Chính sách về công nghệ trong bảo tồn chưa được cụ thể hóa:
Việc
ứng dụng công nghệ vào bảo tồn di sản Óc Eo còn nhiều hạn chế, một phần do
chính sách chưa có định hướng rõ ràng về việc tích hợp công nghệ số, công nghệ
vật liệu, hay trí tuệ nhân tạo vào
quản lý và trưng bày di sản. Trong
khi các quốc gia khác đã số hóa di sản, xây dựng bảo tàng ảo và cơ sở dữ liệu
mở, thì ở Đồng bằng Sông Cửu Long, các hoạt động này vẫn chưa được thúc đẩy
thông qua chính sách cụ thể hoặc chương trình hỗ trợ kỹ thuật.
* Thiếu chính sách huy động và kết nối cộng đồng:
Một
tồn tại đáng chú ý là chính sách hiện hành chưa thực sự khuyến khích và tạo
điều kiện để cộng đồng địa phương tham gia vào công tác bảo tồn di sản Óc Eo.
Việc tuyên truyền, giáo dục di sản chưa được tích hợp vào chương trình học hoặc
các hoạt động sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Do thiếu cơ chế khuyến khích và mô
hình cộng đồng đồng hành bảo vệ di sản,
nhiều khu di tích bị xâm hại do người
dân chưa nhận thức đầy đủ hoặc không thấy được vai trò của mình trong
quá trình bảo tồn.
* Chưa có chính
sách kiểm soát tác động của phát triển đô thị và kinh
tế:
Các
hoạt động phát triển hạ tầng, khai thác tài nguyên và xây dựng khu dân cư đô
thị đang gây áp lực lên các khu di tích Óc Eo, nhưng chính sách quản lý đất đai
và quy hoạch chưa lồng ghép rõ ràng nội dung bảo vệ di sản. Thiếu quy định kiểm soát chặt chẽ các dự
án có nguy cơ ảnh hưởng đến di tích khảo cổ khiến cho nhiều khu vực
khảo cổ bị san lấp, xâm hại hoặc mất đi tính nguyên trạng.
4.
Một số giải pháp hoàn thiện chính
sách quản lý di sản văn hóa ở Đồng bằng Sông Cửu Long
4.1.
Xây dựng chiến lược cấp vùng và hoàn thiện thể
chế
Trên
cơ sở nghiên cứu sự tác động của chính sách quản lý đối với di sản văn hóa Óc
Eo, việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tại Đồng bằng Sông Cửu Long
đòi hỏi một hệ thống giải pháp đồng bộ, gắn kết giữa chiến lược cấp vùng, thể chế
pháp lý, cơ sở hạ tầng, công nghệ và
sự tham gia của cộng đồng. Chiến lược bảo tồn tổng thể cho toàn vùng được thiết
lập phải có tầm nhìn dài hạn và gắn với quy hoạch phát triển bền vững. Việc
thành lập một cơ quan điều phối liên tỉnh nhằm thống nhất chính sách, chia sẻ
nguồn lực và phối hợp trong công tác nghiên cứu và bảo tồn là điều cần thiết.
Bên
cạnh đó, hệ thống pháp luật và quy chuẩn kỹ thuật cần được hoàn thiện, trong đó
có các quy định riêng cho khảo cổ học
vùng đồng bằng, quy chế quản lý đất
đai khu vực có khả năng chứa đựng di tích, và hướng dẫn tiêu chuẩn bảo quản,
phục hồi hiện vật khảo cổ. Cần đẩy nhanh tiến trình thi hành Luật sửa đổi Luật
Di sản Văn hóa để phù hợp hơn với đặc
thù vùng Nam Bộ.
4.2.
Tăng cường năng lực cơ sở vật chất và kỹ thuật
Các
kho lưu trữ, bảo tàng chuyên đề và trung tâm nghiên cứu cần được đầu tư đồng bộ
về cơ sở hạ tầng, đảm bảo điều kiện môi trường lý tưởng cho bảo quản lâu dài
hiện vật (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, thông gió…). Không gian lưu trữ và trưng
bày nên được quy hoạch hợp lý, tách biệt theo chất liệu hiện vật, và tích hợp
chức năng giáo dục, tương tác cộng đồng.
Bên
cạnh đó, cần ứng dụng mạnh mẽ các công nghệ số và công nghệ bảo tồn hiện đại
như: số hóa cơ sở dữ liệu di sản, mô hình hóa 3D, phân tích vật liệu, và thiết
lập hệ thống giám sát môi trường tự động. Những
tiến bộ này sẽ góp phần tăng cường khả năng phục hồi
hiện vật, phòng ngừa hư hại, và nâng cao hiệu quả kiểm kê.
4.3.
Phát triển nguồn nhân lực và hợp tác liên ngành
Nguồn
nhân lực chuyên môn là yếu tố quyết định thành công trong quản lý di sản. Cần
tổ chức các chương trình đào tạo định kỳ về bảo tồn khảo cổ, phục dựng hiện
vật, quản lý di tích và kỹ thuật
trưng bày chuyên sâu. Việc hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học
trong và ngoài nước sẽ giúp cập nhật tri thức và chia sẻ kinh nghiệm quản lý
hiệu quả hơn.
Đồng
thời, cần thúc đẩy hợp tác liên ngành giữa các lĩnh vực khảo cổ, bảo tàng, quy
hoạch, giáo dục, truyền thông và du lịch để xây dựng
các chương trình bảo tồn, phát huy có tính tích hợp,
thích ứng với bối cảnh hội nhập và biến đổi khí hậu.
Bên cạnh nguồn ngân sách nhà nước, cần xây
dựng cơ chế tài
chính linh hoạt như: Quỹ
bảo tồn di sản cấp vùng, chính sách ưu đãi thu hút doanh
nghiệp, và hợp tác công
– tư. Việc khai thác giá trị di sản gắn với phát triển du lịch văn
hóa cần được định hướng theo nguyên tắc bền vững, vừa tạo nguồn lực, vừa lan
tỏa ý thức bảo tồn đến với người dân.
Cộng đồng cư dân
địa phương cần được xem là chủ thể đồng hành
trong công cuộc bảo vệ di sản. Việc tổ chức truyền
thông, giáo dục di sản trong trường học, các chương trình tham quan, tình
nguyện bảo tồn, hay mô hình “di sản cộng đồng” sẽ giúp người dân nhận thức sâu
sắc hơn về giá trị và trách nhiệm gìn giữ di sản văn hóa của vùng đất mình đang
sống.
Kết luận
Di
sản văn hóa Óc Eo là minh chứng sinh động cho sự giao thoa văn hóa giữa các nền
văn minh lớn trong lịch sử và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành bản
sắc văn hóa khu vực Nam Bộ. Tuy
nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, việc quản lý và bảo tồn các giá trị di
sản này đang phải đối mặt với nhiều thách thức như thiếu nguồn lực, hạn chế
trong ứng dụng công nghệ bảo tồn hiện đại, và sự phối hợp chưa đồng bộ giữa các
cơ quan chức năng và cộng đồng.
Chính
sách quản lý di sản văn hóa Óc Eo cần được điều chỉnh theo hướng tích hợp đa
ngành, tăng cường tính liên kết vùng và có sự tham gia hiệu quả của các bên
liên quan, từ trung ương đến địa phương, từ nhà nghiên cứu đến cộng đồng cư
dân. Bên cạnh việc hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế tài chính cho công tác
bảo tồn, cần chú trọng đến đào tạo nguồn nhân
lực chuyên môn, ứng dụng
công nghệ bảo tồn hiện đại, và xây dựng chiến lược
quảng bá giá trị di sản gắn với phát triển du lịch bền vững.
Trong
tương lai, việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Óc Eo không chỉ dừng lại ở
việc bảo vệ vật thể mà còn cần hướng đến việc kiến tạo không gian di sản sống
động, góp phần vào sự phát triển
kinh tế - văn hóa khu vực và nâng cao
vị thế của Việt Nam
trong bản đồ di sản khu vực
và thế giới.
Tài liệu tham khảo
1. Aoyagi, Y. 1991. "The Trend of Vietnamese Ceramics in the History of Ceramic Trade with
Particular Reference to the Islands of Southeast Asia." Journal of
East–West Maritime Relations 2: 1–17.
2. Ban
Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. 1998. Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm - Khoá VIII về Xây Dựng Nền Văn
Hóa Việt Nam Tiên Tiến, Đậm Đà Bản Sắc Dân Tộc.
3. Ban
Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. 2014. Nghị Quyết Số 33 – Khoá XI
về Xây Dựng Văn Hóa, Con
Người Việt Nam Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền
Vững Đất Nước.
4. Bảo tàng Kiên Giang.
2020. Báo Cáo Kết Quả Khai Quật 2017–2020. Tài liệu lưu hành nội bộ.
5. Bellina, B., and I.C. Glover. 2004. "The
Archaeology of Early
Contact with India
and the Mediterranean World
from 4 BC – 4 AD" In
Southeast Asia: From Prehistory to
History, edited by Ian Glover and Peter Bellwood, 80. RoutledgeCurzon, Great
Britain.
6. Bộ Văn hóa. 2010. Công Văn Quy Định Về Bảo Tồn Bộ Sưu Tập Bảo Tàng Tại Việt Nam. Truy cập ngày 12/5/2024 từ https://vbpl.vn/bovanhoathethao/Pages/vbpq- toanvan.aspx?ItemID=26125.
7. Đặng Văn Thắng, chủ biên. 2017. Các Tiểu Quốc Thuộc Vương Quốc Phù Nam Ở Nam Bộ.
NXB Đại học Quốc gia TP.Hồ
Chí Minh.
8. Durham University. 2016. Preventive
Conservation in Museums.
Truy cập ngày 10/5/2024
từ https://dro.dur.ac.uk/18307/1/18307.pdf?DDD6+drk0cc.
9. Gupta, Tanushree. 2022. Study Document:
Preventive Conservation and Collection Care. University of Applied Arts Vienna.
10. Nguyễn Trí. 2020. Di Sản Khảo Cổ Của Văn Hóa Oc Eo Ở Vùng Đồng Bằng Sông Cửu
Long. NXB Hà Nội.
11. Phan Quốc Anh. 2025.
Bài Giảng Chính Sách,
Pháp Luật và Chiến Lược Quản Lý Di Sản Văn Hóa Việt Nam. Lưu hành nội
bộ. Trường Đại học Văn hoá TP.Hồ Chí Minh.
12. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2001. Luật Di Sản Văn Hóa. NXB Chính trị quốc gia.
13. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2024. Luật Di Sản Văn Hóa. NXB Chính trị quốc gia.
14. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2024. Nghị Quyết Số 162/2024/QH15 của Quốc Hội về phê duyệt Chủ trương
đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025–2035.
15. Thủ tướng Chính phủ. 2021. Quyết Định Số 1909/QĐ-TTg về phê duyệt chiến lược phát
triển văn hóa việt nam đến năm 2030.
16. Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. 2021. Phát Hiện Mới Về Văn Hóa Oc Eo Tại
Đồng Bằng Sông Cửu Long Từ 2017–2020. Ấn phẩm năm 2021.