BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA TP. HỒ CHÍ
MINH
TIỂU LUẬN
CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VÀ CHIẾN LƯỢC QUẢN LÝ
VĂN HOÁ VIỆT NAM
ĐỀ TÀI
CHÍNH
SÁCH QUẢN LÝ DI SẢN VĂN HOÁ Ở VIỆT NAM
GVHD : PGS.TS Phan Quốc Anh
NCS
: Vũ Ngọc Giang
Lớp : Nghiên cứu sinh Khoá 3
Thành Phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm
2025
MỞ ĐẦU
Chính sách
nói chung và chính sách văn hoá nói riêng là công cụ , phương tiện để một nhà
nước, một thế chế để quản lý xã hội ứng với một giai đoạn lịch sử nhằm thực hiện
mục tiêu của nhà nước. Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 và sau
khi giành độc lập năm 1945 chính sách văn hoá luôn được Đảng và nhà nước Việt
Nam quan tâm, xây dựng nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển văn hoá, con người
Việt Nam trong từng giai đoạn lịch sử của đất nước. Để có nhiều văn bản pháp lý
được Đảng và nhà nước Việt Nam ban hành để phục vụ cho nhiệm vụ quản lý văn hoá
nói chung và quản lý di sản văn hoá nói riêng.
Trong giai
đoạn hiện nay của đất nước với bối cảnh hợp tác hoá toàn cầu, sự phát triển của
cách mạng khoa học công nghệ 4.0 việc nghiên cứu và hoàn thiện các chính sách về
quản lý di sản văn hoá đất nước có vai
trò rất quan trọng để phát huy giá trị di sản văn hoá dân tộc phục vụ cho nhiệm
vụ phát triển văn hoá, con người Việt Nam trước yêu cầu hội nhập quốc tế.
1.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH QUẢN
LÝ DI SẢN VĂN HOÁ
1.1.
Các khái niệm
1.1.1.
Chính sách và chính sách văn hoá
Chính sách :
Chính sách
là một thuật ngữ phổ biến trong khoa học chính trị nói chung và quản lý hành
chính công nói riêng. Đối với Việt Nam,
thuật ngữ chính sách được gắn với các văn bản của Đảng và nhà nước Việt Nam.
Chúng ta có thể hiểu khái niệm chính sách qua một số quan điểm của các nhà khoa
học sau đây:
- Theo tác
giả James Anderson : Chính
sách là một quá trình hành động có mục đích được theo đuổi bởi một hoặc nhiều
chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm. Đây là cách tiếp cận
và định nghĩa cơ bản và chung nhất về chính sách.
-
Theo tác giả Lê Chi Mai thì : Chính sách là chương trình hành động do các nhà
lãnh đạo hay các nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm
vi thẩm quyền của mình.
-
Còn theo tác giả Nguyễn Đình Tấn : Chính sách thường được thể chế hóa trong các
quyết định, hệ thống pháp luật, các quy chuẩn hành vi và những quy định khác.
Dựa vào các nhận định trên,
chúng ta có thể nhận thấy rằng, chính sách là công cụ tác động qua lại giữa các
nhóm, tập đoàn xã hội liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp với tổ chức, hoạt động
của nhà nước, của các đảng phái, thiết chế khác nhau của hệ thống chính trị.
Hay có thể hiếu chính sách là hệ thống thể chế của một nhà nước gồm : Chủ
trương, đường lối, pháp luật, thực hành triển khai ra xã hội.
Chính sách văn hoá:
Chính sách văn hoá là một bộ
phận của chính sách nói chung. Có thể hiểu chính sách văn hoá hệ thống thể chế
của một nhà nước trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật.
- Theo UNESCO ( Tổ chức Văn
hoá, khoa học, giáo dục của Liên hợp quốc ) thì : Chính sách văn hoá là tổng thể
các nguyên tắc hoạt động, các cách thực hành, các phương pháp quản lý hành chính và phương pháp
quản lý ngân sách của nhà nước dùng làm cơ sở cho hoạt động văn hoá.
Như vậy định nghĩa của
Unesco về chính sách văn hoá nhấn mạnh vào ba điểm sau: Nguyên tắc hoạt động,
phương pháp quản lý và sự can thiệp bằng ngân sách tài chính của nhà nước vào
hoạt động văn hoá nghệ thuật.
- Theo Cultural Policy
wikipedia: Chính sách văn
hóa là các hành động, luật và chương trình của chính phủ điều chỉnh,
bảo vệ, khuyến khích và hỗ trợ tài chính (hoặc mặt khác) cho các hoạt động liên
quan đến nghệ thuật và các lĩnh vực sáng tạo, chẳng hạn như hội
họa , điêu khắc , âm nhạc , khiêu
vũ , văn học và làm phim , trong số những lĩnh vực
khác và văn hóa , có thể liên quan đến các hoạt động liên quan đến
ngôn ngữ, di sản và sự đa dạng.
1.1.2. Quản lý văn hoá
Quản lý văn hoá
là một thuật ngữ hành chính công gắn với chức năng, nhiệm vụ của nhà nước đối với
hoạt động văn hoá. Thuật ngữ quản lý được ra đời gắn liền với sự ra đời của
giai cấp và nhà nước. Đã có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý văn hoá tuỳ
thuộc vào mực tiêu và cách tiếp cận. Chúng ta có thể hiểu quản lý văn hoá cơ bản
nhất như sau : “ Quản lý văn hoá là công việc của nhà nước được thực hiện thông
qua việc ban hành, tổ chức thực hiện , kiểm tra, giám sát việc thực hiện các
văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hoá đồng thời nhằm góp phần phát
triển kinh tế, xã hội của từng địa phương nói riêng và đất nứo nói chung” ( Bùi
Hoài Sơn, 2012, tr.25).
1.2.3. Di sản
văn hoá
Di sản văn hoá
là bộ phận rất quan trọng của nền văn hoá dân tộc hay một cộng đồng. Để hình
thành nên một di sản văn hoá phải trải qua một quá trình lao động, sáng tạo của
cộng đồng. Có thể coi di sản văn hoá là bộ phận nổi bật nhất, là tinh hoa của nền
văn hoá dân tộc.
Theo Luật Di sản
văn hoá 2001 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành: “ Di sản văn hoá là sản phẩm tinh thần, vật chất
có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ
khác ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. ( Quốc hội nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, 2001, tr.2).
Như
vậy qua định nghĩa trên về di sản văn hoá có thể hiểu di sản văn hoá là sản phẩm
lao động của con người, trải qua một quá trình lịch sử có giá trị về mặt văn
hoá, khoa học và lịch sử được lưu truyền qua thế hệ trong cộng đồng.
1.2.
Các công cụ của chính sách quản lý quản lý di sản
văn hoá
Để quản lý
văn hoá nói chung và quản lý di sản văn hoá nói riêng có các công cụ và phương
tiện khác nhau. Trong đó có các công cụ cơ bản sau đây : Luật pháp, chiến lược,
kế hoạch, thuế, ngân sách.
1.2.1.
Luật pháp
Đây là công
cụ chính và chủ yếu để quản lý di sản văn hoá. Luật pháp là hệ thống những
nguyên tắc, quan điểm thể hiện rõ những mục tiêu, cách thức thực thi của nhà nước
đối với mọi vấn đề liên quan tới di sản văn hoá của một đất nước. Ở Việt Nam luật
pháp về di sản văn hoá được thể hiện ở 3 loại văn bản có tính chất pháp quy :
Luật do Quốc hội ban hành, Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành luật và
Thông tư của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch về hướng dẫn thi hành Nghị định của
Chính phủ. Trong đó Luật do Quốc hội ban hành là quan trọng nhất còn nghị định
và thông tư là những văn bản dưới luật.
Hiện nay ở
Việt Nam Luật Di sản văn hoá được coi là bộ luật quan trọng nhất trong lĩnh vực
quản lý văn hoá. Pháp luật về di sản văn hoá theo thời gian đã được nhà nước Việt
Nam hoàn thiện, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn di sản văn hoá đất nước và bối
cảnh hội nhập. Luật Di sản văn hoá 2001, 2009 và mới nhất là Luật Di sản văn
hoá 2024 với 8 chương và 95 điều để điều chỉnh mọi hoạt động liên quan đến di sản
văn hoá Việt Nam.
1.2.2.
Kế hoạch, chiến lược, chương trình
Kế hoạch,
chiến lược , chương trình là môt dạng văn bản pháp quy do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền ban hành để thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ trong một giai đoạn
nhất định cho hoạt động di sản văn hoá của địa phương hoặc đất nước. Đây là một
công cụ khá quan trọng để cơ quan nhà nước về văn hoá thực hiện chức năng và
vai trò trong công tác quản lý di sản văn hoá. Chúng ta có thể kể ra các ví dụ
cụ thể sau đây:
- Quyết định
số 1909 ngày 12/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược
phát triển văn hoá Việt Nam đến năm 2030.
- Kế hoạch
số 2989 ngày 5/4/2022 của UBND tỉnh Khánh Hoà
về thực hiện Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh
Khánh Hoá.
- Nghị quyết
số 162 ngày 27/11/2024 của Quốc hội về Chương trình mục tiêu quốc gia về phát
triển văn hoá giai đoạn 2025-2035.
1.2.3. Thuế
Thuế
là công cụ quan trọng trong chính sách về di sản văn hoá để nhà nước thực hiện
chức năng quản lý điều tiết các hoạt động trong lĩnh vực di sản văn hoá. Chính
sách thuế sẽ có vai trò rất quan trọng liên quan tới nguồn vốn và dòng tiền cho
hoạt động di sản văn hoá. Chính sách thuế tốt sẽ thúc đẩy nguồn vốn và dòng tiền
cho hoạt động di sản văn hoá và ngược lại chính sách thuế cao sẽ ngăn cản tới
nguồn vốn và dòng tiền cho hoạt động di sản văn hoá. Ví dụ theo Luật thuế giá
trị gia tăng năm 2025 của Việt Nam thì đối tượng chịu thuế trong lĩnh vực văn
hoá nghệ thuật ( bao gồm di sản văn hoá) chịu mức thuế 10%.
1.2.3.
Ngân sách cho di sản văn hoá
Ngân sách
là công cụ quan trọng của chính sách văn hoá. Ngân sách là tổng thể các kế hoạch
thu và chi của cơ quan nhà nước đối với hoạt động di sản văn hoá. Trong hai bộ
phận là thu và chi thì đối với hoạt động di sản văn hoá thì kế hoạch về chi,
nguồn vốn tài trợ cho di sản văn hoá là quan trọng nhất. Thiếu nguồn vốn chi
cho hoạt động di sản văn hoá thì các hoạt động khác không thể triển khai hiệu
quả trong thực tiễn.
Trong chính
sách tài trợ ngân sách cho di sản văn hoá thì
việc gây quỹ và tài trợ có vai trò rất quan trọng, là nhân tố nền tảng
cho hoạt động di sản văn hoá được thực hiện trôi chảy trong thực tế. Trong các dự án di sản văn hoá của nhà nước
hay các tổ chức xã hội nào đó thì việc gây quỹ và tài trợ luôn được các cấp
quan tâm đặc biệt.
2.
THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ DI SẢN
VĂN HOÁ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trong suốt
một thời kỳ lịch sử lâu dài Đảng và nhà nước Việt Nam luôn xác định chính sách
văn hoá ( bao gồm cả di sản văn hoá) có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy
phát triển xã hội, nâng cao hưởng thụ giá trị văn hoá của nhân dân. Nhìn lại lịch
sử đất nước có thể thấy trước năm 1945 mặc dù chưa giành độc lập nhưng Đảng Cộng
sản Việt Nam đã đưa ra văn kiện “ Đề cương văn hoá Việt Nam” do Trường Chinh chủ
bút.
Trong những
năm kháng chiến chống Pháp và Mỹ trong bối cảnh chiến tranh khốc liệt, Đảng và
nhà nước Việt Nam vẫn quan tâm và đưa ra những chính sách văn hoá khác nhau phục
vụ cho nhiệm vụ phát triển văn hoá trong từng giai đoạn lịch sử. Sau năm 1986 Đảng
và nhà nước Việt Nam tiến hành đổi mới trên các phương diện, các chính sách quản
lý văn hoá cũng có sự thay đổi mạnh mẽ đề phù hợp với bối cảnh đời sống văn hoá
trong nước và thế giới. Để nhìn nhận chính sách quản lý di sản văn hoá ở Việt
Nam trong những năm qua , chúng ta có thể tiếp cận và phân tích trên các phương
diện sau đây.
2.1.
Đường
lối và chủ trương của Đảng
Sau năm
1986 song song với đổi mới về chính sách kinh tế, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng
đã có sự thay đổi lớn trong nhận thức và ban hành các chính sách về văn hoá, thể
hiện rõ vai trò lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hoá. Đối với lĩnh vực di sản
văn hoá cũng không nằm ngoài xu thế trên.
Chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng được thể hiện trên các nghị quyết
chính sau đây:
- Nghị quyết
Trung ương 5 Khoá VIII năm 1998 về “ Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đạm
đà bản sắc dân tộc” . Đây là Nghị quyết văn hoá có tính kịp thời có vai trò rất
quan trọng định hướng mọi chính sách phát triển văn hoá Việt Nam sau đổi mởi
năm1986. Trong nghị quyết này Đảng đã xác định rõ tính chất xây dựng nề văn hoá
đất nước là “ Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đầm đà
bản sắc dân tộc” ( Ban chấp hành Trung ương Đảng Khoá VIII, 1998). Đối với di sản văn hoá được Đảng rất quan tâm
và thể hiện rõ trong Nghị quyết Trung ương 5- Khoá VIII: “ Di sản văn hoá là
tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở
để sáng tạo những giá trị văn hoá mới và giao lưu văn hoá. Hết sức coi trọng
công tác bảo tồn , kế thừa và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống, văn
hoá cách mạng bao gồm cả văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể”. ( Ban chấp
hành Trung ương Đảng Khoá VIII, 1998). Để thực hiện quan điểm về bảo tồn di sản
văn hoá đất nước, Đảng đã đưa ra chính sách cụ thể “ Chính sách bảo tồn và phát
huy di sản văn hoá dân tộc hướng cả vào văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể
… bảo tồn các di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh ,các làng nghề”. (
Ban chấp hành Trung ương Đảng Khoá VIII, 1998).
- Nghị quyết
số 33 của Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XI năm 2014
về Xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển
bền vững đất nước. Nghị quyết số 33 có nhiệm vụ đánh giá 15 năm của Nghị quyết
Trung ương năm Khoá VIII năm 1998 và định hướng mọi hoạt động văn hoá đất nước
trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu và rộng. Đối với hoạt động di sản văn hoá
dược Đảng rất quan tâm và có nhiều chính sách quan trọng được thể hiện rõ trong
nghị quyết. Trong nghị quyết, Đảng nêu rõ nhiệm vụ của hoạt động bảo tồn di sản
văn hoá đất nước : “ Xây dựng cơ chế để giải quyết hợp lý, hài hoà giữa bảo tồn
, phát huy di sản văn hoá với phát triển kinh tế xã hội, Bảo tồn và tôn tạo các
di tích lịch sử văn hoá tiêu biểu, phục vụ giáo dục truyền thống và phát triển
kinh tế, gắn bảo tồn phát huy di sản văn hoá với phát triển du lịch” ( Ban Chấp
hành Trung ương Đảng Khoá XI, 2014). Nếu so với chính sách trong Nghị quyết năm
1998 thì Nghị quyết số 33 năm2014 Đảng chính thức đưa ra chủ trương bảo tồn di
sản văn hoá phục vụ phát triển kinh tế, coi di sản văn hoá là nguồn lực văn hoá
hàng đầu để phát triển kinh tế, du lịch và quảng bá hình ảnh đất nước ra thế giới.
- Nghị quyết
số 57 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Khoá XIII năm 2024 về đột phát phát triển
khoa học , công nghệ , đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Trong nội dung Nghị quyết số 57, Đảng cũng đã
đưa ra chính sách cho lĩnh vực văn hoá và hoạt động di sản văn hoá : “ Phát triển
văn hoá số đảm bảo giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc”. ( Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khoá XIII, 2024).
Bên cạnh đó
đường lối , chủ trương của Đảng về lĩnh vực di sản văn hoá còn được thể hiện
trong các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc các khoá XI, XII, XIII thể hiện sự
quan tâm, lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực di sản văn hoá đất nước.
2.2.
Chính
sách pháp luật Nhà nước
Trong số
các công cụ của chính sách văn hoá đất nước thì pháp luật là văn bản pháp lý
quan trọng và có giá trị thực tế cao nhất. Pháp luật sẽ điều chỉnh và tổ chức
còn nguồn lực cho công tác quản lý di sản văn hoá đất nước. Chính sách pháp luật
về di sản văn hoá ở Việt Nam được thể hiện trên nhiều văn bản của các cơ quan
nhà nước. Chính sách pháp luật cơ bản được thể hiện ở các loại văn bản sau đây
: Luật, Nghị định, Thông tư của Bộ trưởng Văn hoá, Thể thao và Du lịch.
2.2.1.
Luật
Luật Di sản
văn hoá là bộ luật quan trọng bậc nhất trong lĩnh vực văn hoá điều chỉnh mọi hoạt
động di sản văn hoá của đất nước. Việc nhà nước ban hành bộ luật về di sản văn
hoá thể hiện sự quan tâm của nhà nước khi xây dựng các chính sách về di sản văn
hoá. Cho đến nay Quốc hội Việt Nam đã ban hành những bộ luật về Di sản văn hoá
tạo hành lang pháp lý trên bình diện quốc gia.
- Luật Di sản
văn hoá 2001: Đây là bộ luật đầu tiền tiên về quản lý di sản văn hoá ở Việt Nam
có vai trò rất quan trọng để ban hành chính sách về quản lý di sản văn hoá. Luật
Di sản văn hoá 2001 gồm 7 chương với 74 điều đã đóng góp quan trọng vào công
tác quản lý di sản văn hoá đất nước từ năm 2001 cho đến nay.
- Luật Di sản
văn hoá 2009 : Ngày 18/6/2009 Quốc hội
đã ban hành Luật Di sản văn hoá bổ sung và sửa đổi một số điều so với Luật Di sản
văn hoá 2001 để phù hơp với thực tế quản lý di sản văn hoá đất nước. Nội dung
chi tiết Quốc hội đã bổ sung những nội dung của Luât Di sản văn hoá 2001 ở các
điều : Điều 4, 13, 17,18, 21, 25, 26, 28, 29, 30, 32, 33, 34, 37…
- Luật Di sản
văn hoá 2024: Ngày 23 tháng 11 năm 2024
Quốc hội đã ban hành Luật Di sản văn hoá 2024. So với Luật Di sản văn hoá 2001
và 2009, Luật Di sản văn hoá có phạm vi điều chỉnh rộng hơn, chi tiết hơn để
thuận lợi cho quá trình tổ chức và thực thi pháp luật đối với các chủ thể tham
gia. Luật Di sản văn hoá 2024 đã tiếp thu, kinh nghiệm của thế giới phù hợp với
thực tế di sản văn hoá Việt Nam. Với Luật Di sản văn hoá có hiệu lực từ ngày
1/7/2025 và có những quy định, chính sách mới công tác quản lý di sản văn hoá ở
Việt Nam sẽ có nhiều thay đổi tích cực để phát huy giá trị di sản văn hoá đất
nước.
2.2.2. Nghị định Chính phủ , quyết định của Thủ
tướng và Thông tư của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
Nghị
định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng, Thông tư của Bộ Trưởng Văn hoá,
Thể thao và Du lịch là những văn bản pháp lý dưới luật nhằm cụ thể hoá, hướng dẫn việc thực hiện pháp luật trong
lĩnh vực di sản văn hoá. Thời gian qua ở Việt Nam các cơ quan hành pháp : Chính
phủ, Thủ tướng Chính phủ và Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã ban hành nhiêu
văn bản pháp quy thể hiện rõ chính sách quản lý di sản văn hoá của đất nước. Dưới
đây là một số văn bản pháp lý tiêu biểu trong lĩnh vực di sản văn hoá.
- Nghị định
của Chính phủ : Thời gian quan Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định quy định
chi tiết về việc thực hiện Luật Di sản văn hoá và các chính sách quản lý di sản
văn hoá :
+ Nghị định số 98/2010NĐ – CP ngày 21 tháng 9
năm 2010 quy định chi tiết một số điều của Luât Di sản văn hoá sửa đổi 2009 và
bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hoá.
+ Nghị định
số 109/2017/NĐ – CP ngày 21/9/2017 của Chính phủ quy định về bảo vệ và quản lý di sản văn hoá
và thiên nhiên thế giới ở Việt Nam.
+ Nghị định
166/2018/ NĐ – CP quy định về thẩm quyền , trình tự, thủ tục lập, thẩm định,
phê duyệt , quy hoạch dự án bảo quản, tu bổ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam
thắng cảnh.
+ Nghị định
số 86/2005/ NĐ – CP về quản lý và bảo vệ di sản văn hoá dưới nước.
+ Nghi định
số 39/2024 /NĐ – CP quy định về biện pháp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị
di sản văn hoá phi vật thể trong danh sách của UNESCO và danh mục di sản văn
hoá phi vật thể quốc gia.
+ Quyết định
số 723/2025/ QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành triển khai kế hoạch thi
hành Luật Di sản văn hoá 2024.
-
Thông tư của
Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch :
+ Thông tư
số 04/2010/ TT- BVHTTDL quy định việc kiểm kê di sản văn hoá phi vật thể và lập
hồ sơ khoa học di sản văn hoá phi vật thể để đưa vào danh mục di sản văn hoá
phi vật thể quốc gia do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ban hành.
+ Thông tư
số 22/2011/ BVHTTDL quy định về điều kiện thành lập và hoạt động của cơ sở giám
định cổ vật do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ban hành.
+ Thông tư
số 13/2010/ BVHTTDL quy định trình tự thủ
tục đề nghị công nhận bảo vật quốc gia do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ban
hành.
+ Thông tư
số 15/2019/ BVHTTDL ngày 31/12/2019 của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quy định
chi tiết một số quy định về bảo quản, tu bổ, tôn tạo di tích.
2.3.
Kế hoạch,
chiến lược, chương trình của Nhà nước
Kế hoạch,
chiến lược, chương trình là một dạng của chính sách văn hoá. Đây là văn bản
pháp lý thể hiện rõ : Mục tiêu, phương pháp, giải pháp nguồn lực, cơ chế tổ chức
thực hiện nhằm thực hiện mục tiêu của cơ quan nhà nước về quản lý văn hoá trong
một giai đoạn nhất định. Các kế hoạch, chiến lược, chương trình phát triển văn
hoá nói chung và di sản văn hoá nói riêng đã được cơ quan nhà nước ở Việt Nam
ban hành và thực hiện phổ biến trong giai đoạn vừa qua và mang lại những vai
trò quan trọng cho sự phát triển văn hoá đất nước. Đối với chính sách về di sản
văn hoá được thể hiện ở các văn bản dưới đây.
- Quyết định số 581/QĐ – TTg ngày 5 tháng 6 năm 2009 của Thủ
tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020. Với chính sách về di sản văn hoá là một trong
năm nội dung chính mà Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020 quy định rõ.
Trong nhiệm vụ và mục tiêu của Chiến lược xã định rõ : “ Bảo tồn và phát huy di
sản văn hóa dân tộc là nhiệm vụ then chốt của Chiến lược phát triển văn hóa.
Tập trung điều tra toàn diện, nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn và phát huy giá trị
di tích lịch sử - văn hóa và văn hóa phi vật thể; các loại hình nghệ thuật cổ
truyền đặc sắc, văn hóa dân gian của từng địa phương, từng vùng văn hóa, từng
vùng dân tộc; nghề thủ công truyền thống, lễ hội tiêu biểu, kho tàng Hán Nôm.
Kết hợp hài hòa việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa với các hoạt
động phát triển kinh tế, du lịch bền vững. Điều tra, sưu tầm, xây dựng “ngân
hàng dữ liệu” về văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể tiêu biểu”. ( Thủ tướng
Chính phủ, 2009).
- Quyết định số 1909 / QĐ- TTg ngày 12 tháng 11 năm 2021
của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược phát triển văn hoá Việt Nam đến
năm 2023. Tại Chiến lược này Thủ tướng đã nêu rõ những chính sách cụ thể đối
với hoạt động di sản văn hoá đất nước.
+ Mục tiêu : “ Phấn đấu ít
nhất 95% di tích quốc gia đặc biệt và khoảng 70% di tích quốc gia được tu bổ,
tôn tạo; khoảng 70% số di sản trong Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc
gia được xây dựng đề án, chương trình bảo vệ và phát huy giá trị. Có ít nhất 05
di sản được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO)
ghi danh theo các Công ước của UNESCO”. ( Thủ tướng Chính phủ, 2021).
+ Nhiệm vụ , giải pháp: “ Hoàn thành việc lập
nhiệm vụ quy hoạch và quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích. Tập trung
đầu tư bảo quản, tu bổ, phục hồi các di tích quốc gia đặc biệt, di sản thế
giới, di tích lịch sử - văn hóa có giá trị tiêu biểu, phục vụ giáo dục truyền
thống và phát triển kinh tế; gắn kết bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát
triển du lịch. Nâng cao chất lượng công tác sưu tầm, nghiên cứu, kiểm kê, phân
loại di sản văn hóa phi vật thể và di sản tư liệu. Phục hồi và bảo tồn một số
loại hình di sản văn hóa phi vật thể, nghệ thuật truyền thống có nguy cơ mai
một, ưu tiên di sản văn hóa các dân tộc có số dân dưới 10.000 người. Phát huy
giá trị các di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh, góp phần quảng bá
hình ảnh đất nước và con người Việt Nam”. ( Thủ tướng Chính phủ, 2021).
-
Nghị quyết số 162//2024/QH15 ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội về phê
duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hoá giai
đoạn 2025 -2035. Đối với lĩnh vực di sản văn hoá, Quốc hội đã nêu rõ mục tiêu
và nhiệm vụ giải pháp, nguồn vốn cho phát triển.
+
Về
mục tiêu : Đến năm 20230 : “ Phấn đấu hoàn thành tu bổ, tôn tạo 95 % di tích
quốc gia đặc biệt ( khoảng 120 di tích) và 70% di tích quốc gia ( khoảng 2500
di tích). Đến năm 2025: phấn đấu hoàn
thành tu bổ, tôn tạo 100% di tích quốc gia đặc biệt và 80 % di tích quốc gia”.
( Quốc hội khoá 15, 2024).
+ Về nguồn vốn cho cả chương trình mục tiêu phát triển
văn hoá ( bao gồm cả di sản văn hoá ) là từ 122.500 tỷ trở lên. Trong đó vốn
ngân sách trung ương 77.000 tỷ đồng, địa phương 30.250 tỷ đồng.
+ Về nhiệm vụ và giải pháp : Quốc hội xác định đầu tư
nguồn lực tài chính cho di sản văn hoá là một trong mười
lĩnh vực cần ưu tiên đầu tư cho giai đoạn 2025- 2035.
- Các kế hoạch, quyết định của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du
lịch : Để cụ thể hoá và triển khai các nội dung trong các chính sách của Quốc
hội, Thủ tướng Chính phủ thì Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lich cũng đã ban hành
những văn bản pháp quy vừa để tổ chức thực hiện, vừa hướng dẫn các cơ quan, đơn
vị nhằm thực hiện các chính sách di sản văn hoá đất nước.
2.4. Đánh
giá về hệ thống chính sách di sản văn hoá ở Việt Nam
2.4.1.
Kết quả, ưu điểm
Nếu lấy mốc thời gian 2001 khi có
Luật Di sản văn hoá được ban hành thì qua hơn 20 năm qua các chính sách về quản
lý di sản văn hoá ở Việt Nam đã đạt được những kết quả chính sau đây:
- Hệ thống chính sách về di sản văn hoá được ban hành khá
đồng bộ từ Nghị quyết của Đảng ( Nghị quyết số 33 năm 2014), Luật của Quốc hội,
Nghị định Chính phủ, Quyết định Thủ tướng, Thông tư Bộ Văn hoá, Thể thao và Du
lịch làm cơ sở pháp lý cho việc thực hiện các chính sách về quản lý di sản văn
hoá trong cả nước.
- Các chính sách văn hoá nói chung và quản lý di sản văn
hoá ngày càng được bổ sung, kiện toàn để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, quản lý
của nhà nước trên lĩnh vực di sản văn hoá.
- Các chính sách về di sản văn hoá được ban hành trong
thời gian qua về cơ bản đã phát huy vai trò của nó để nhà nước và xã hội quan
tâm và đầu tư các nguồn lực cho di sản văn hoá. Ví dụ nhà nước đã đầu tư 1282
tỷ đồng giai đoạn 2011- 2015 cho dự án bảo tồn, tôn tạo các di tích kinh thành
Huế. Dự án trùng tu, tôn tạo thành cổ
Diên Khánh, tỉnh Khánh Hoà năm 2024 là 167 tỷ đồng.
- Các chính sách về di sản văn hoá thời gian qua đã giúp
cho nhiều di sản văn hoá của đất nước được quan tâm, kiểm kê, trùng tu, xếp hạng ở các mức độ : Di sản văn
hoá thế giới, di tích quốc gia đặc biệt, di sản văn hoá phi vật thể quốc gia,
di tích cấp tỉnh. Qua đó góp phần quan trọng vào bảo tồn và phát huy giá trị di
sản văn hoá đất nước.
- Các chính sách về di sản văn hoá thời gian qua cũng đã
góp phần quan trọng để di sản văn hoá đất nước trở thành nguồn lực quan trọng,
phục vụ phát triển kinh tế, xã hội nhất là phát triển du lịch.
2.4.2. Hạn chế, khó khăn
Bênh cạnh những kết quả trên thì công tác xây dựng và tổ
chức thực hiện chính sách về di sản văn hoá ở Việt Nam vẫn còn tồn tại những
hạn chế khó khăn như sau:
- Việc cụ thể hoá các chính sách về di sản văn hoá từ chủ
trương của Đảng sang pháp luật nhà nước và các kế hoạch, chiến lược còn hạn chế
và chậm được sửa đổi.
- “ Các chính sách văn hoá nói chung và quản lý di sản
văn hoá nói riêng chưa trở thành một chỉnh thế, mang tính hệ thống đồng bộ” (
Nguyễn Văn Tình, 2009, tr. 140).
- Nhiều chính sách mà cụ thể là điều luật, mục tiêu , ngân sách, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chưa
được xây dựng khoa học và phù hợp với
thực tiễn di sản văn hoá đất nước. “ Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, ban
ngành trong việc ra các chính sách, cùng nhau hoạt động vì mục tiêu chung là
bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá… Việc phố hợp giữa các cơ quan ngành
dọc về quản lý văn hoá và địa phương trong nhiều dự án, đặc biệt lập dự án tổng
thể cho từng địa phương về di sản văn hoá còn chưa được tốt, sự phố hợp này
nhiều khi không đồng bộ, đặc biệt vấn đề liên quan đến kế hoạch tài chính”. ( Phan
Hồng Giang, Bùi Hoài Sơn, 2012, tr.313).
- Về ngân sách cho
phát triển văn hoá và di sản văn hoá : “ Chúng ta còn nặng về bao cấp, nặng về
cấp phát từ trên xuống dưới, chưa đa dạng hoá các nguồn lực phát triển văn hoá,
đặc biệt là chưa có chính sách về tài chính, thuế phù hợp để huy động và khuyến
khích các thành phần kinh tế đầu tư cho văn hoá” ( Nguyễn Văn Tình, 2009, tr.
141). Nhìn chung ngân sách cho công tác
bảo tồn và phát huy di sản văn hoá vẫn chưa đáp ứng và sử dụng hiệu quả
so với yêu cầu thực tế.
- Đối với công tác
di sản văn hoá thì việc gây quỹ về di sản văn hoá có vai trò rất quan trọng,
tuy nhiên các chính sách về quỹ di sản văn hoá còn có những bất cập, chúng ta
chưa có nhiều kinh nghiệm xây dựng, đánh giá, thực hiện.
- Việt Nam vẫn còn
thiếu đội ngũ am hiểu sâu, chuyên gia về di sản văn hoá để tư vấn, phản biện
các chính sách di sản văn hoá đất nước. Cơ chế phối hợp khi thực hiện các chính
sách về di sản văn hoá giữa trung ương ( Chính phủ, Bộ) và địa phương ( UBND
tỉnh, Sở, chính quyền địa phương ) vẫn còn bất cập, thiếu đồng bộ.
2.4.3 .Nguyên nhân của
những hạn chế
- Quản lý văn hoá nói chung và di sản văn hoá nói riêng
là một lĩnh vực rộng, phức tạp, liên quan nhiều yếu tố của đời sống xã hội, môi
trường xung quanh nên việc ban hành các chính sách về di sản văn hoá gặp không
ít thách thức và khó khăn.
- Đời sống văn hoá và lĩnh vực di
sản văn hoá thời gian qua có nhiều thay đổi trong nước cũng như bối cảnh quốc
tế nên công tác xây dựng các chính sách về di sản văn hoá gặp khó khăn, chưa
theo kịp với sự thay đổi.
- Nhận thức và trình độ của đội ngũ
cán bộ văn hoá đối với di sản văn hoá còn hạn chế, chưa hiểu hết về giá trị,
vai trò di sản văn hoá nên khi xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách về
di sản văn hoá chưa hiệu quả, khoa học.
- Việt Nam có hệ thống di sản văn
hoá phong phú, đa dạng song nguồn lực đầu tư cho di sản văn hoá vẫn chưa đáp
ứng yêu cầu thực tế. Vì vậy nhiều chính sách không thực hiện được hoặc chưa có
hiệu quả vì thiếu nguồn lực; nhất là tài chính.
3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH
QUẢN LÝ DI SẢN VĂN HOÁ Ở VIỆT NAM
Để nâng cao hiệu quả các chính sách
quản lý di sản văn hoá ở Việt Nam trong giai đoạn tới từ nay cho đến năm 2035
đòi hòi cần phải có nhiều giải pháp đồng bộ khác nhau; trong đó cơ quan nhà
nước cần tập trung vào một số giải pháp chính sau đây.
Về quan điểm khi xây dựng các chính
sách : Trong xây dựng các chính sách về quản lý di sản văn hoá cần xác định rõ
: “ Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá dân tộc là nhiệm vụ then chốt của chiến
lược phát triển văn hoá. Tập trung điều tra toàn diện , nghiên cứu, sưu tầm,
bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hoá và văn hoá phi vật thể,
các loại hình nghệ thuật cổ truyền đặc sắc, văn hoá dân gian của từng địa
phương , từng vùng miền, từng vùng dân tộc, nghề thủ công truyền thống, lễ hội
tiêu biểu. Kết hợp hài hoà việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá với
hoạt động phát triển kinh tế, du lịch bền vững”. ( Phan Hồng Giang, Bùi Hoài
Sơn, 2012, tr.484).
3.1.
Giải pháp
nâng cao nhận thức về vị trí và vai trò của chính sách quản lý di sản
văn hoá trong phát triển văn hoá
Di sản văn hoá là thành tố nổi bật
và có vai trò quan trọng nhất của nền văn hoá dân tộc. Vì vậy chính sách về
quản lý di sản văn hoá cũng thể hiện rõ quan điểm, mục tiêu và nguồn lực của
nhà nước đối với sự phát triển văn hoá quốc gia. Vì vậy ngay từ khâu xây dựng chính
sách di sản văn hoá, tổ chức thực hiện, đánh giá chính sách cần phải nhận thức
rõ tầm quan trọng của di sản văn hoá, chính sách quản lý di sản văn hoá sẽ là
nhân tố quyết định trong các chính sách phát triển văn hoá đất nước. “ Nhân
thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của chính sách văn hoá phải được thể
hiện trong nội dung quy hoạch và kế
hoạch phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, của từng cấp, từng ngành, từng
lĩnh vực, từng địa phương , trong việc bố trí ngân sách” ( Nguyễn Văn Tình,
2009, tr.174).
3.2.
Giải pháp về đổi mới xây dựng, tổ chức, nội
dung và cơ chế thực hiện chính sách về di sản văn hoá
Trong những năm qua, công tác xây dựng, tổ chức, nội dung
và cơ chế thực hiện chính sách văn hoá nói chung và di sản văn hoá nói riêng ở
Việt Nam dã có những đổi mới để phù hợp với thực tiễn đời sống văn hoá đất nước
và bối cảnh quốc tế. Tuy nhiên nhìn tổng thể sự đổi mới này vẫn chưa đáp ứng
yêu cầu phát triển văn hoá đất nước. Thể chế, chính sách về văn hoá vẫn là một
điểm nghẽn cần phải khai thông để thúc đẩy phát triển văn hoá. Vì vậy thời gian
tới cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan quản lý văn hoá nói riêng cần phải
đổi mới mạnh mẽ trong việc xây dựng, tổ chức, nội dung, cơ chế chính sách về di
sản văn hoá.
“ Xây dựng cơ chế , chính sách văn hoá đồng bộ, hệ thống
phù hợp với yêu cầu phát triển văn hoá
trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá và hội nhập quốc tế” ( Nguyễn Văn Tình, 2009, tr. 174). Trong xây dựng, tổ
chức và cơ chế thực hiện các chính sách về quản lý di sản văn hoá cần phải quy
định rõ các nội dung sau: Xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm của từng cơ
quan, đơn vị nhà nước, xác định rõ nguồn lực tài chính chi cho quản lý di sản,
phương thức tài trợ ngân sách, cơ chế phối hợp của từng cơ quan, đơn vị trong
việc tổ chức các chính sách về quản lý di sản văn hoá.
Trong ban hành, tổ chức thực hiện các chính sách về quản
lý di sản văn hoá muốn đạt hiệu quả cao cần phải có sự tham gia , phản biện,
đánh giá của các chuyên gia, nhà khoa học về văn hoá, các tổ chức xã hội nghề
nghiệp về văn hoá một cách thực chất để đảm bảo các chính sách về quản lý di
sản văn hoá có cái nhìn đa chiều, tổng thế và sự đồng thuận cao của xã hội.
3.3.
Giải pháp về nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực
Hệ thống chính sách về quản lý di sản văn hoá chỉ đạt
hiệu quả cao mang lại lợi ích thiết thực cho đất nước, góp phần quyết định vào
việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá dân tộc khi chúng ta có được
một đội ngũ nhân lực văn hoá có trình độ cao,, có đạo đức xã hội vì sự phát
triển văn hoá và con người Việt Nam.
Để thực hiện được mục tiêu bản tồn và phát huy giá trị di
sản văn hoá đất nước, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao thụ hưởng
giá trị văn hoá cho nhân dân dân thì đội ngũ những người làm công tác nghiên
cứu , tham mưu, hoạch định chính sách di sản văn hoá, các nhà quản lý văn hoá,
các cơ quan , đơn vị về văn hoá và di sản văn hoá nước ta cần có những kiến
thức, kỹ năng quản lý và tư duy mới, tiên
tiến phù hợp với yêu cầu đời sống văn hoá đất nước và bối cảnh hội nhập văn hoá
quốc tế.
“ Những kiến thức tiên tiến trong quản lý văn hoá hiện
nay trên thế giới như xây dựng chính sách, hoạch định kế hoạch hoạt động cho
đơn vị văn hoá, quản lý tổ chức nhân sự, kỹ năng quản lý bảo tàng, thiết chế
văn hoá… kỹ năng phát triển khán giả, khách hàng, huy động tài chính, marketing
phải được giới thiệu cho đội ngũ cán bộ làm công tác văn hoá ở nước ta”. (
Nguyễn Văn Tình, 2009, tr.182).
3.4.
Đẩy mạnh và mở rộng hợp tác quố tế về xây
dựng và thực hiện chính sách về di sản văn hoá
Trong khoảng 20 năm qua trên lĩnh vực hợp tác quốc tế về
di sản văn hoá Việt Nam đã đạt nhiều kết quả nổi bật trên các phương diện; nhất
là nhiều hồ sơ di sản văn hoá Việt Nam được UNESCO công nhận, nhiều đoàn chuyên
gia quốc tế đã hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý di sản văn hoá. Vì vậy để hệ
thống chính sách về quản lý di sản văn hoá Việt Nam mang lại hiệu quả, đóng góp
vào sự phát triển văn hoá quốc gia thì ngành văn hoá các cấp cần đẩy mạnh và mở
rộng hợp tác quốc tế về di sản văn hoá trên nhiều nội dung như : Đào tạo cán bộ
quản lý chuyên sâu về di sản văn hoá, học tập kinh nghiệm trong xây dựng và tổ
chức thực hiện các chính sách về di sản văn hoá, mời các chuyên gia quốc
tế xây dựng chính sách di sản văn hoá,
tranh thủ sự hợp tác và hỗ trợ của UNESCO trong việc bảo tồn và phát huy giá
trị di sản văn hoá, sự hỗ trợ về tài trợ ngân sách từ UNESCO và các tổ chức
chính phủ và phi chính phủ quốc tế cho di sản văn hoá…
“ Hợp tác với các nước về xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách văn hoá, đặc biệt là
phương pháp xây dựng báo cáo hiện trạng văn hoá quốc gia, kinh nghiệm xây dựng
mô hình quản lý văn hoá, kinh nghiệm về tổ chức , xây dựng và thực thi chính
sách văn hoá, về chính sách tài chính, thành lập các quỹ và gây quỹ phát triển
văn hoá” ( Nguyễn Văn Tình, 2009, tr.186).
3.5.
Giải pháp về tài trợ và phát triển quỹ di sản
văn hoá
Trong công tác quản lý di sản văn hoá nói chung yếu tố
đóng vai trò bản nề để đảm bảo cho các chính sách về di sản văn hoá mang lại
hiệu quả là ngân sách. Trong điều kiện ngân sách nhà nước Việt Nam còn hạn chế
và chi cho nhiều hoạt động thì đối với lĩnh vực di sản văn hoá việc phát triển
quỹ di sản văn hoá và tài trợ có vai trò rất quan trọng để thu hút các nguồn
lực tài chính cho công tác quản lý di sản văn hoá. Trong đó cần tập trung vào
các nội dung sau đây:
- Đẩy mạnh việ phát triển các dự án trùng tu, tôn tạo di
tích và bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể theo một kế
hoạch và chiến lược ràng làm cơ sở để kêu gọi các nguồn tài trợ ngân sách.
- Nhà nước thành lập quỹ di sản văn hoá ở trung ương và
các tỉnh, kêu gọi sự đóng góp của các tổ chức , cá nhân , có cơ chế quản lý quỹ
di sản văn hoá khoa học và minh bạch.
- Kêu gọi sự hỗ trợ của UNESCO và các tổ chức phi chính
phủ và các tổ chức quốc tế khác bằng nhiều hình thức khác nhau cho việc tài trợ
ngân sách cho di sản văn hoá.
- Đối với những di tích lịch sử, văn hoá và di sản văn
hoá phi vật thể có hoạt động du lịch và có nguồn thu cần có cơ chế phân bổ và
sử dụng hợp lý, hiệu quả tiền thu vé khách du lịch, công đức cho công tác bảo
tồn, trùng tu và tôn tạo di tích.
- Phát huy vai trò và chức năng của Hội Di sản văn hoá
Việt Nam và các tỉnh trong việc gây quỹ và thu hút tài trợ cho di sản văn hoá.
KẾT
LUẬN
Chính sách về quản lý di sản văn hoá là bộ phận quan trọng
trong chính sách phát triển văn hoá quốc gia. Thời gian qua Việt Nam đã ban
hành được một hệ thống chính sách về quản lý di sản văn hoá khá đầy đủ ở các
cấp, cơ quan. Các chính sách về quản lý di sản văn hoá này đã đóng góp thiết
thực và hiệu quả cho công tác quản lý di sản văn hoá nói chung và bảo tồn và
phát huy giá trị di sản văn hoá đất nước, biến di sản văn hoá Việt Nâm trở
thành nguồn lực quan trọng hàng đầu cho sự phát triển văn hoá đất nước.
Tuy nhiên, qua thực tiễn xây dựng và tổ chức thực hiện chính
sách về quản lý di sản văn hoá thời gian qua thì cơ quan nhà nước, ngành văn
hoá vẫn còn tồn tại những khó khăn , hạn chế chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn đời
sống văn hoá đất nước và bối cảnh hợp tác quốc tế sâu và rộng. Việc đổi mới
toàn diện từ trong nhận thức đến việc ban hành, tổ chức , đánh giá các chính
sách về quản lý di sản văn hoá Việt Nam cần phải được thực hiện một cách khoa
học, có hệ thống để các chính sách quản lý di sản văn hoá trở thành môi trường
kiến tạo, hành lang pháp lý tốt để thu hút các nguồn lực xã hội cho công tác
bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá đất nước.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1. Phan Quốc Anh . ( 2025). Bài giảng Chính sách, pháp luật và chiến lược quản lý di sản văn hoá
Việt Nam, Trường Đại học Văn hoá TP. Hồ Chí Minh.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam .
(1998). Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm -
khoá VIII về xây dựng nề văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Cộng sản Việt Nam.( 2014). Nghị quyết số 33 – Khoá XI về xây dựng văn hoá, con
người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
4.
Phan Hồng Giang, Bùi Hoài Sơn . ( 2012). Quản lý văn hoá ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc
tế, Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia.
5. Quốc Hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (
2001). Luật Di sản văn hoá , Hà Nội :
Nxb Chính trị quốc gia.
6. Quốc Hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (
2024). Luật Di sản văn hoá , Hà Nội :
Nxb Chính trị quốc gia.
7. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (
2024). Nghị quyết số 162/2024/QH15 của Quốc hội về phê duyệt chủ trương đầu tư
chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hoá giai đoạn 2025-2035.
8. Thủ tướng Chính phủ .( 2021). Quyết định số 1909/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chiến
lược phát triển văn hoá Việt Nam đến năm 2030.
9. Nguyễn Văn Tình ( 2009). Chính sách văn hoá trên thế giới và việc hoàn thiện chính sách văn hoá
ở Việt Nam , Hà Nội : Nxb Văn hoá – thông tin.