BỘ
VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG
ĐẠI HỌC VĂN HÓA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHẠM
ĐẮC VY THẢO
TIỂU LUẬN
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
BẢO
TỒN VÀ PHÁT HUY
NHẠC
KHÍ NGƯỜI S’TIÊNG
TỈNH
BÌNH PHƯỚC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ VĂN
HÓA
MÃ SỐ: 9229042
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, THÁNG 8/2024
BỘ
VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG
ĐẠI HỌC VĂN HÓA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHẠM
ĐẮC VY THẢO
TIỂU LUẬN
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
BẢO
TỒN VÀ PHÁT HUY
NHẠC
KHÍ NGƯỜI S’TIÊNG
TỈNH
BÌNH PHƯỚC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ VĂN
HÓA
MÃ SỐ: 9229042
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, THÁNG 8/2024
Ý KIẾN VÀ NHẬN XÉT CỦA
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
….……………………………………………………………………………
….……………………………………………………………………………
….……………………………………………………………………………
….……………………………………………………………………………
….……………………………………………………………………………
….……………………………………………………………………………
Người hướng dẫn khoa học
….……………………………………………………………………………
….……………………………………………………………………………
….……………………………………………………………………………
….……………………………………………………………………………
….……………………………………………………………………………
….……………………………………………………………………………
Người hướng dẫn khoa học
Phần 1:
THÔNG TIN CHUNG VỀ
CHUYÊN ĐỀ
1.
Tên chuyên đề
TỔNG QUAN
VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NHẠC KHÍ S’TIÊNG Ở BÌNH PHƯỚC
2.
Mục lục
THÔNG TIN CHUNG VỀ CHUYÊN ĐỀ................................................... 4
4. Danh mục từ
viết tắt, các định nghĩa hay khái niệm thuật ngữ (nếu có). 6
Phần 2: NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ............................................................. 7
2.1.3 Nội dung.................................................................................... 7
2.1.6 Phương pháp nghiên cứu............................................................. 9
2.2 Kết quả và thảo luận........................................................................ 10
2.2.1. Các công trình nghiên cứu về văn hóa, xã hội người S’tiêng...... 12
2.2.2. Những nghiên cứu, sưu tầm về âm nhạc dân tộc, nhạc khí đồng bào S’Tiêng 18
2.2.4 Những văn bản nhà nước về Quản lý vằn hóa, liên quan đến đề tài 24
2.2.5. Luận
giải về sự cần thiết, tính cấp bách, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 27
2.2.6 Những điều rút ra sau khi hệ thống các tài liệu liên quan........... 30
DANH MỤC TÀI
LIỆU THAM KHẢO SỬ DỤNG TRONG CHUYÊN ĐỀ 35
3. Tóm tắt
Để
có một cái nhìn tổng thể về vấn đề nghiên cứu của luận án, trong khuôn
khổ thực hiện luận án “Bảo tồn và phát huy giá trị nhạc khí của người S’tiêng
Bình Phước”, chuyên đề “Tổng quan vấn đề nghiên cứu của luận án” được thực hiện
nhằm khảo sát, phân tích, hệ thống tổng thể những công trình nghiên cứu có liên
quan đến đề tài; những thành tựu về công tác bảo tồn,
phát huy giá trị của nhạc khí người S’tiêng ở Bình Phước; phát hiện những nội
dung còn chưa được quan tâm, chưa được sáng tỏ, chưa giải quyết được vấn đề mà
đề tài đặt ra để từ đó có những bổ sung, hỗ trợ cho định hướng nghiên cứu của
luận án.
3. Danh mục
từ viết tắt, các định nghĩa hay khái niệm thuật ngữ (nếu có)
|
ÂNDG |
Âm nhạc dân
gian |
|
ÂNDT |
Âm nhạc dân
tộc |
|
ÂNDTH |
Âm nhạc dân
tộc học |
|
DTTS |
Dân tộc
thiểu số |
|
UBND |
Ủy ban nhân
dân |
Phần
2: NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ
2.1 Đặt vấn đề
2.1.1 Giới
thiệu (Giới thiệu
khái quát về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề của
chuyên đề; mối quan hệ của chuyên đề với nội dung của luận án).
Nghệ thuật truyền thống của đồng bào S’tiêng đa dạng, phong
phú, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của cộng đồng. Kể từ
sau khi các dân tộc thiểu số thuộc 5 tỉnh vùng Tây Nguyên được UNESCO ghi danh
“Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” vào danh sách “Di sản phi vật thể
kiệt tác của nhân loại” (năm 2009) thì hầu hết các cộng đồng dân tộc Tây Nguyên
đều tập trung bảo tồn, phát huy âm nhạc cồng chiêng và môi trường tồn tại/diễn
tấu/sử dụng cồng chiêng mà bỏ qua rất nhiều thể loại âm nhạc, nhạc khí truyền
thống khác. Điều này đưa đến tình trạng mai một nhiều thể loại âm nhạc, nhạc
khí truyền thống, không khai thác được giá trị văn hóa của nhạc khí truyền
thống dân tộc trong đời sống hiện nay. Điều này đã thúc đẩy chúng tôi thực hiện
luận án với đề tài “Bảo tồn và phát huy giá trị nhạc khí của người S’tiêng Bình
Phước”.
Trong khuôn khổ thực hiện luận án “Bảo tồn
và phát huy giá trị nhạc khí của người S’tiêng Bình Phước”, chuyên đề “Tổng
quan vấn đề nghiên cứu của luận án” là phần không thể thiếu, nhằm khảo sát, phân
tích, hệ thống tổng thể những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài; những thành tựu về công tác bảo tồn, phát huy giá trị của
nhạc khí người S’tiêng ở Bình Phước; phát hiện những nội dung còn chưa được
quan tâm, chưa được sáng tỏ, chưa giải quyết được vấn đề mà đề tài đặt ra để từ
đó có những bổ sung, hỗ trợ cho định hướng nghiên cứu của luận án.
2.1.2
Mục tiêu (Nêu
mục tiêu cụ thể của chuyên đề)
Khảo cứu các tài liệu có liên quan đến người
S’tiêng, văn hóa, âm nhạc truyền thống của người S’tiêng, đặc biệt là công tác
bảo tồn, phát huy giá trị nhạc khí của người S’tiêng Bình Phước để có một cái
nhìn tổng thể về vấn đề nghiên cứu của luận án “Bảo tồn, phát huy giá trị nhạc
khí của người S’tiêng Bình Phước”.
2.1.3
Nội dung (Liệt
kê các nội dung chính mà chuyên đề thể hiện)
+ Thu thập, khảo sát, đánh
giá thực trạng nghiên cứu về công tác bảo tồn, phát huy giá
trị của nhạc khí người S’tiêng ở Bình Phước, trong đó, lần lượt khảo sát thực
trạng nghiên cứu nhạc khí của người S’tiêng; những nghiên cứu về công tác bảo
tồn và phát huy giá trị của nhạc khí người S’tiêng Bình Phước; những nghiên cứu
lý thuyết về công tác bảo tồn, phát huy giá trị nhạc khí dân tộc nói riêng và
văn hóa âm nhạc dân tộc nói chung.
+ Phân
tích, hệ thống những thành tựu trong các nghiên cứu về công tác bảo tồn, phát
huy giá trị của nhạc khí người S’tiêng ở Bình Phước thông qua các tài liệu, tư
liệu thu thập được, phát hiện những nội dung còn chưa được quan tâm, chưa được
sáng tỏ, chưa giải quyết được vấn đề mà đề tài đặt ra để từ đó có bổ sung, hỗ
trợ định hướng cho nghiên cứu của luận án.
+ Tập hợp những lý thuyết, những nghiên cứu ứng dụng lý thuyết
liên quan đề tài để làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu đề tài luận án; Xác định cơ sở khoa học/lý luận về
công tác bảo tồn, phát huy giá trị nhạc khí S’Tiêng tỉnh Bình Phước để phục vụ cho nghiên cứu, thực hiện luận án.
2.1.4 Giới hạn của chuyên đề
(nếu
có): Giới hạn về nội dung, lĩnh vực của
chuyên đề, không gian, thời gian,…
Chuyên đề
khảo sát tất cả các tài liệu có liên quan
đến người S’tiêng, văn hóa, âm nhạc truyền thống của người S’tiêng, đặc biệt là
công tác bảo tồn, phát huy giá trị nhạc khí của người S’tiêng Bình Phước mà
chúng tôi thu thập được, kể cả những tài liệu ngoài nước, trong nước đã được
công bố, xuất bản cũng như tài liệu, tư liệu viết tay/chưa xuất bản, không kể
giai đoạn hay thời kỳ lịch sử.
Người S’tiêng có một số tên gọi khác như: Xa Điêng, Bù
Lơ, Bù Đek, Bù Biêt, Bù Đip, Bù Lach… Theo danh sách - tên gọi các dân tộc năm
2009 của chính phủ, tộc danh được ghi là Xtiêng. Trong từ điển S’tiêng - Pháp
của ông R.H.Azémar công bố năm 1886 viết là Stiêng, đây là tên gọi chính thức
đầu tiên của tộc người S’tiêng. Trong từ điển S’tiêng - Pháp năm 1886 không
viết chữ "Xtiêng" và trong hệ thống từ điển S’tiêng - Anh do tác giả Ralph Haupers cũng không viết "Xtiêng". Năm 2018, UBND
tỉnh Bình Phước đã công bố Hệ thống bảng chữ cái và nguyên âm, phụ âm chữ viết
của người S’tiêng cũng không viết chữ "Xtiêng". Ngày 01 tháng 4 năm
2019, Ban Dân tộc tỉnh Bình Phước đã có tờ trình số 18/TTr-BDT đề nghi điều
chỉnh lại cách viết tên thành phần dân tộc từ “Xtiêng” thành “S'tiêng”. Theo mong muốn của cộng đồng người S’tiêng ở Bình
Phước, trong tiểu luận này (cũng như trong luận án) sẽ luôn thống nhất ghi là
“S’tiêng”. Những tên tài liệu, sách… sẽ được ghi đúng theo văn bản gốc đã được
công bố, xuất bản.
2.1.5 Ý nghĩa: Chuyên
đề có ý nghĩ gì về mặt học thuật, đặc biệt liên quan đến nội dung của luận án,
của kiến thức cá nhân về lĩnh vực nghiên cứu
- Ý nghĩa khoa học:
+ Là một khảo cứu về công
tác bảo tồn, phát huy giá trị nhạc khí của người S’tiêng ở Bình Phước, chuyên
đề cung cấp một cái nhìn tổng thể về những nghiên cứu nhạc khí của người
S’tiêng; những nghiên cứu lý thuyết về công tác bảo tồn, phát huy giá trị nhạc
khí dân tộc nói riêng và văn hóa âm nhạc dân tộc nói chung.
+ Phân
tích, hệ thống những thành tựu trong các nghiên cứu về công tác bảo tồn, phát
huy giá trị của nhạc khí người S’tiêng ở Bình Phước, phát hiện những nội dung
còn chưa được quan tâm, chưa được sáng tỏ, chưa giải quyết được vấn đề mà đề
tài đặt ra để từ đó có định hướng cho nghiên cứu của luận án.
+ Chuyên đề
sẽ góp phần đưa ra khung lý thuyết, nghiên
cứu ứng dụng lý thuyết làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu đề tài luận án; Xác định cơ sở khoa học/lý luận về
công tác bảo tồn, phát huy giá trị nhạc khí
S’Tiêng tỉnh Bình Phước, góp phần đưa ra những kiến
nghị, giải pháp cho vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị
nhạc khí tryền thống dân tộc nói chung và nhạc khí của người S’tiêng nói riêng.
- Ý nghĩa thực tiễn
Qua phân
tích, hệ thống các nghiên cứu về công tác bảo tồn, phát huy giá trị nhạc khí
của người S’tiêng, tiểu luận sẽ nhận diện được những nhiệm vụ cụ thể của công
tác này trong đời sống hiện nay; đưa ra những thành tựu cũng như phát hiện
những vấn đề chưa làm được, sai sót trong quá trình thực hiện công tác bảo tồn,
phát huy hiện nay; phát hiện những vấn đề chưa được nghiên cứu hoặc chưa đưa ra
được những kết quả tốt nhất, làm tiền đế, hướng gợi mở luận án cũng như cho
những đề tài tiếp sau.
2.1.6
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp tư liệu: sưu
tầm, tập hợp các tư liệu về lý thuyết cũng như các tư liệu về văn hóa âm nhạc,
nhạc khí của dân tộc S’tiêng nói chung và Bình Phước nói riêng; các tư liệu
liên quan đang được lưu trữ trong các thư viện, viện nghiên cứu trên cả nước,
các thư viện, kho lưu trữ của địa phương tỉnh Bình Phước hoặc các tỉnh bạn, các
tủ sách cá nhân, gia đình, của các chuyên gia, nhà nghiên cứu...
Tư liệu
nghiên cứu bao gồm tư liệu chữ viết - in, tư liệu âm thanh, hình ảnh, hình ảnh
động… sẽ được phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu giữa các tư liệu; tổng
hợp, hệ thống hóa các thể loại, làn điệu âm nhạc, nhạc khí… tài liệu sách in và
tài liệu âm thanh, hình ảnh.
- Phương
pháp phân loại và hệ thống hóa, tư liệu hóa: Dựa trên những tư liệu thu
thập được và đã được phân tích, tổng hợp, nghiên cứu sẽ sử dụng phương pháp
phân loại, hệ thống hóa. Tiểu luận Tổng quan sẽ phân loại đối với những nghiên
cứu trong nước và ngoài nước (hoặc tài liệu viết bằng tiếng nước ngoài); phân
loại theo thời gian (phân kỳ theo các nhòm: trước năm 1945, giai đoạn 1945-1975
và sau năm 1975 đến nay) không kể bản in hay tư liệu viết tay của cá nhân cung
cấp, tư liệu chưa xuất bản được lưu trữ ở các viện nghiên cứu, thư viện,
trường…
Đối với các loại hiện vật, nhạc khí sẽ sử dụng phương
pháp phân loại nhạc khí của Hornbostel và Curt Sachs (phương pháp của ngành Âm
nhạc Dân tộc học); đối với âm thanh âm nhạc sẽ được ký âm trên hệ thống 5 dòng
kẻ phương Tây với một số ký hiệu bổ sung để tư liệu hóa.
Theo những tiêu chí phân loại của các
phương pháp phân loại, hệ thống hóa hoặc tư liệu hóa nêu trên sẽ tạo nên sự
nhất quán, khoa học trong nghiên cứu.
2.2 Kết quả và thảo luận
Nhạc khí S’Tiêng không chỉ độc đáo về âm điệu đặc biệt của nó mà còn thể hiện một phần cuộc
sống vật chất và tinh thần của người S’tiêng. Ngoài âm thanh cồng chiêng, dân
ca, dân nhạc và dân vũ của người S’tiêng cũng rất phát triển và có thể tái hiện
cả không gian săn bắn, chiến đấu, làm rẫy và không gian lễ hội của đồng bào. Âm
nhạc S’Tiêng
nói chung và nhạc khí S’Tiêng nói
riêng là bản sắc của người S’tiêng, nó gắn bó như máu thịt,
làm nên giá trị văn hóa của đồng bào.
Tỉnh Bình Phước có cộng đồng người S’tiêng[1]
chiếm 96,20%[2] tổng số
người S’tiêng trên cả nước. Riêng ở xã Thanh An, huyện Hớn Quản, cộng đồng người
S’tiêng
chiếm 30%[3] dân số của xã. Do vậy, âm nhạc người S’tiêng ở Bình Phước thể hiện hầu hết những đặc trưng
của âm nhạc tộc người S’tiêng ở Việt Nam. Âm nhạc của cộng đồng người S’tiêng ở
Bình Phước là một bộ phận quan trọng góp phần tạo nên
hình hài của nghệ thuật nhạc khí S’tiêng
ở nước ta nói riêng và tạo nên sự phong phú, đa sắc màu của âm nhạc các dân tộc
trên đất nước Việt Nam nói chung.
Cùng với sự thay đổi của hình thức
lao động, sản xuất, kinh tế cũng như quá trình toàn cầu hóa, công nghệ hóa, đô
thị hóa… đời sống, tín ngưỡng, tập tục của người S’tiêng đã có nhiều thay đổi.
Không gian văn hóa, âm nhạc của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên nói chung và
của người S’tiêng ở tỉnh Bình Phước đã xuất hiện những biến
đổi, cũng như nguy cơ mai một không thể cưỡng lại.
Chưa kể, từ sau khi “không gian văn hóa cồng chiêng Tây
Nguyên” được UNESCO ghi danh là “Kiệt tác văn hóa phi vật thể” năm 2009 và “Di
sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại” sau này, sự quan tâm của chính
quyền cũng như cộng đồng người dân đối với âm nhạc cồng chiêng và gần như bỏ
quên những thể loại âm nhạc, nhạc khí dân tộc, khiến nhiều nhạc khí, bài bản âm
nhạc dân tộc… dần dần bị quên lãng. (Phụ lục ảnh 1 và 2). Gia đình của nghệ nhân có
thể dành thời gian và tiền bạc để mua bộ cồng chiêng mới, riêng về những nhạc
khí thì nghệ nhân chia sẻ, vật liệu thay thể khó tìm, dẫn đến khó sửa và cứ để
đó dần lãng quên và cũng không có người để truyền dạy. Thanh niên hiện tại đi
lao động tại các khu công nghiệp tại các tỉnh khác, không còn yêu thích, số
thanh niên yêu thích lứa tuổi nhỏ hơn, riêng về nhạc cụ lại không sửa, không
tạo mới được nên lâu dần dẫn đến vừa không truyền dạy vừa không tạo mới nhạc
khí dẫn đến bị lãng quên, lâu có những nhà nghiên cứu tới khảo sát thì nghệ
nhân lấy nhạc cụ đã hỏng ra để minh chứng mẫu, còn thị phạm về nhạc cụ cũng hạn
chế. Đó chính là cơ sở thực tiễn thôi thúc việc tìm hiểu,
nghiên cứu nhạc khí, dân nhạc của người S’tiêng, công tác bảo tồn, phát huy nhạc khí S’Tiêng ở tỉnh Bình Phước từ góc độ quản lý nhà nước về văn hóa trở nên hết sức cấp thiết và hữu ích
trong giai đoạn hiện nay.
Để có một góc nhìn đầy đủ, hệ thống; tổng hợp được những
công trình đã nghiên cứu về vấn đề “bảo tồn, phát huy nhạc khí S’Tiêng
ở tỉnh Bình Phước từ góc độ quản lý nhà nước về văn hóa”,
chuyên đề “tiểu
luận Tổng quan vấn đề nghiên cứu” này được thực hiện như sau:
1.
Các công trình nghiên cứu về
văn hóa, xã hội người S’tiêng ở Bình Phước
2.
Những sưu tầm, nghiên cứu về âm nhạc dân tộc, nhạc khí
truyền thống của người Stiêng
3.
Nhóm các công trình nghiên cứu lý thuyết về Văn hóa, Quản lý văn
hóa, nghiên cứu về lý thuyết âm nhạc, về bảo tồn và phát triển
4.
Nhóm
các văn bản nhà nước về Quản lý Văn hóa, liên quan đến bảo tồn và phát huy giá
trị nhạc khí của người S’tiêng Bình Phước.
2.2.1. Các công trình nghiên cứu về văn hóa, xã hội người S’tiêng
Trước năm 1975, có một số công trình nghiên cứu về các
dân tộc bản địa ở miền Nam Việt Nam, trong các công trình này, các tác giả đã
đề cập đến những nội dung liên quan đến sự hình thành và phát triển của đời
sống vật chất, đời sống văn hóa, tinh thần, xã hội… của người S’tiêng ở Bình
Phước, với những công trình đáng chú ý sau đây:
Những ghi chép đầu tiên về người S’tiêng được
nhận thấy trong Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện Sử học
dịch, Nxb KHXH, Hà Nội xuất bản năm
1979). Quốc sử quán triều Nguyễn đời Minh Mạng thứ 19, 1820-1838), trong phần
ghi chép về sinh hoạt của các "thổ dân"- S'tiêng ở phía Bắc trấn Biên
Hòa (vùng đất Phước Long, Bình Phước) viết: "người thổ dân thì không
biết chữ, đốt rẫy làm ăn, gác sàn mà ở, không nhớ ngày tháng. Khi gặt hái xong
thì hội họp ăn uống, đánh trống, đánh chiêng, cùng nhau vui thích gọi là ngày
tết"…
Các học giả phương Tây đầu tiên đề cập
đến người S’tiêng là tài liệu nghiên cứu – ghi chép di sản ngôn ngữ của người
S’tiêng: Dictionnaire Stieng, trong Excursions et Reconnaissances (Saigon, Imp.
Coloniale, T.XII, Mai - Juin 1886) của Azémar H. Năm 1887, cuốn sách này
được xuất bản tại Sài Gòn. Bộ từ điển này là cơ sở để tra cứu ngôn ngữ, nghiên
cứu các lĩnh vực liên quan đến đời sống xã hội. Trong phần đầu tác phẩm,
H.Azémar cho in bài “Les Stiengs de
Brolom”[4], viết
về đời sống xã hội của tộc người S’tiêng ở vùng Brolom, ghi chép khá nhiều về
phong tục của người S’tiêng và cảnh quan vùng cư trú của người S’tiêng vào cuối
thế kỷ XIX. Qua đó, phong tục, tập quán của người S’tiêng được phản ánh chuyên
sâu, là cơ sở để nghiên cứu về Dân tộc học, Văn hoá học, Âm nhạc Dân tộc học…
Tiếp đến là bài
viết “Reconnaissance Chez les Moi Stieng et Au Environ du Mont Djambra[5], trong tạp chí “La géographie”[6] (tom III, No.1, Paris 1901) và
công trình Au pays Moi[7], của
Marquis Pierre de Barthélémy, (Paris Plon – Nourrit., 2e éd, 1904); Hinterland Moi[8], của
Paul Patté, (Paris, Plon - Nourrit, 1906); sách Les jungles Moi[9], của
Henri Maitre, (Paris, Edition Larousse, 1912)… là những tác phẩm chuyên khảo đề
cập về điều kiện tự nhiên, môi sinh, đời sống, phong tục, xã hội của các tộc
người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng cao nguyên nước ta dưới thời Pháp thuộc,
trong đó bao gồm cả các dân tộc thiểu số cư trú tại Bình Phước. Phần lớn tác
giả mô tả về con người, hoạt động của xã hội tộc người và thế giới quanh họ hết
sức tỉ mỉ. Đây là những công trình rất có giá trị để hiểu biết về cao nguyên
miền Nam và người S’tiêng và các dân tộc ở vùng cao nguyên Việt Nam. Tuy nhiên,
đây là những công trình được viết từ quan điểm của những người thực dân và thể
hiện nhiều nhận thức sai về Dân tộc học và Xã hội học…
Công trình Monographie de la
Province de Bien Hoa (BSEI, XI, No., 1901), Les boisements de
la vallée du
Song-Be[10] của tác giả
Gourgand, trong Bulletin
Economique de L’Indochine, (No.14, 1903); Le fameux Sông Bé[11] trong Monographie d’une rivière Cochinchinoise của tác giả Baudrit,
(BSEI, XI, No.3, 1936) cũng là những công nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, địa
chất, sông ngòi, thủy văn… của vùng đất liên quan đến người S’tiêng và những
người anh em cộng cư của họ.
Năm
1951, với công trình “Coutumier Stiengien”[12]
(Befeo, Tome XLV, Fasc.1, Paris, 1951), tác giả T.Gerber cung cấp cho người đọc một số hiểu biết
về luật tục, tư duy xã hội và một số truyền thuyết của người S’tiêng. Qua đó đọc giả có cái nhìn
toàn cảnh đời sống, quan hệ xã hội, kết cấu xã hội truyền thống được tái hiện,
phản ánh nguyên vẹn một xã hội tộc người chịu sự chi phối bởi quan hệ huyết
thống, được duy trì và quản lý bằng luật tục.
Trên cơ
sở kế thừa các công trình nghiên cứu của người Pháp và những cuộc khảo sát các
nhóm người S’tiêng
ở phía tây bắc Sài Gòn, năm 1966 các tác giả người Mỹ đã cho xuất bản tập sách
dày nhiều chương “Minority Groups in the
Republic of Vietnam”[13],
được biên soạn theo đơn đặt hàng của Bộ quốc phòng Hoa Kỳ. Trong tập sách này,
các tác giả đã dành riêng một chương để giới thiệu về người S’tiêng ở Việt Nam với những tổng lược về sự phân bố dân
cư, văn hóa, xã hội và tín ngưỡng…
Bên
cạnh giới thiệu về văn hóa, cấu trúc xã hội và đặc điểm dân cư, ngôn ngữ đồng
bào S’Tiêng, nhiều
công trình về ngữ học tiếng S’tiêng đã được công bố và ấn hành, kể cả dự án
Latinh hóa tiếng S’tiêng. Trong các công trình nghiên cứu chung về các dân tộc ít người ở
Tây Nguyên của một số tác giả người Mỹ như Le Bar, Thomas David, Hickey…cũng có những nghiên
cứu về đồng bào S’Tiêng nhưng nhìn chung không nhiều cái mới so với các tác giả người Pháp
trước đó, ngoại trừ trên lĩnh vực ngôn ngữ, những vấn đề
về văn hóa, âm nhạc gần như không còn được quan tâm.
Trước năm 1975,
một số công trình nghiên cứu về người S’tiêng và các dân tộc ít người ở Tây Nguyên
của các tác giả Việt Nam đã được xuất bản tại Sài Gòn. Tác giả Lưu Ty trong
chuyên khảo “Non nước Phước Long” (1972, Sài Gòn) ngoài những ghi chú về
lịch sử tộc người đã mô tả nhiều sinh hoạt của người S’tiêng ở tỉnh Phước Long
lúc bấy giờ. Tác giả đã mô tả sự kiện tộc người
S'tiêng tổ chức lễ hội tại Bù Na (nay thuộc Ấp 3, Xã Đồng Tâm, huyện Đồng Phú) "Bù Na được chọn làm nơi
làm lễ tạ ơn "Lễ An nhàn" đã tập trung hơn 30 làng về làm lễ, họ mang
theo gà, vịt, trâu, dê và những ché rượu cần. Trong một không gian náo nhiệt
giữa núi rừng hùng vĩ, ban đêm những đám lửa mập mờ được đốt lên, họ nhảy nhót,
ca hát vui đùa hết ngày này qua ngày khác đến khi nào gia súc mang theo hết mới thôi. Tiếng la, tiếng hát của người nhậu nhẹt say sưa
hòa lẫn với tiếng đờn, kèn và tiếng la rống của thú vật đã biến khu rừng Bù Na
trở nên nhộn nhịp, sôi động khác thường”…
Tác
giả Cửu Long Giang - Toan Ánh trong sách “Việt Nam Chí Lược” phần “Miền
Thượng Cao Nguyên” (Lê Lợi Thư Quán - Sài Gòn 1974) có nêu một tập tục của
người S’tiêng trong đó có Lễ cưới: “trong phần các lễ vật nhà trai phải nộp
cho nhà gái có "bộ chiêng". Cho thấy, ngoài những tập tục của các
dân tộc, tập tục – nghi lễ của người S’tiêng, “chiêng” trong văn hóa S'tiêng
không chỉ là nhạc cụ quan trọng, mà nó còn là một thứ tài sản có giá trị, được
mang làm lễ vật trong các lễ thức.
Nhìn chung, các
công trình trước năm 1975 chủ yếu giới thiệu sơ lược, khái quát về phong tục
tập quán của các dân tộc ít người ở Tây Nguyên nói chung và người S’tiêng nói
riêng. Phần lớn những tư liệu của các tác giả người Việt là dựa vào các công
trình của người Pháp.
Sau năm 1975, tình hình nghiên cứu trong
nước đã có những bước phát triển mới và thu được nhiều kết quả đáng kể. Sau
những cuộc khảo sát điền dã tại các “pol” (làng) S’tiêng ở xã Dak Nhau, huyện
Bù Đăng, tỉnh Sông Bé, kết quả nghiên cứu đã được công bố trên một số tạp chí
về quan hệ thân tộc và một số vấn đề xã hội của người S’tiêng.
Năm 1981, trên tạp chí Dân tộc học số 3,
có đăng bài “Nhà dài người Xtiêng” của tác giả Nguyễn Duy Thiệu khái quát các mối quan hệ tình cảm,
kinh tế của các gia đình nhỏ để hợp thành một gia đình mở rộng trong ngôi nhà
dài một cách khái quát.
Trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 6 (1983) đăng bài viết “Xã hội Xtiêng qua tài liệu điền dã tại sóc Bom Bo” của
Hữu Ứng. Trong tập sách “Các dân tộc ít người ở Việt Nam” và
trong “Sổ tay các dân tộc ít người ở Việt Nam” do Viện Dân tộc học ở Hà Nội
biên soạn cung cấp cho người đọc các thông tin liên quan đến văn hóa, sinh hoạt
kinh tế, phong tục tập quán, tổ chức xã hội… của người S’tiêng.
Năm 1984, Nhà xuất bản Khoa
học xã hội Hà Nội cho xuất bản tác phẩm “Các
dân tộc ít người ở Việt Nam (các dân tộc phía Nam), trong đó có công trình
nghiên cứu “Dân tộc Xtiêng” của tác giả Diệp Đình Hoa. Qua bài viết, tác giả
Diệp Đình Hoa đã đưa ra một bức tranh khái quát về các hoạt động sinh hoạt kinh
tế, văn hóa, xã hội và phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp và chống đế
quốc Mỹ của người S’tiêng. Đặc biệt, tác giả còn đi sâu phân tích những biến đổi
văn hóa, xã hội của người S’tiêng từ năm 1975 -1979.
Tháng 4/1984, Ban Dân tộc học thuộc Viện Khoa học Xã hội tại thành phố
Hồ Chí Minh đã phối hợp với Tỉnh ủy, UBND tỉnh Sông Bé tổ chức một cuộc khảo
sát và nghiên cứu các dân tộc ít người trong tỉnh, đặc biệt là cộng đồng người
S’tiêng. Đây là đợt khảo sát tương đối rộng và chuyên sâu vào một số vấn đề
kinh tế - xã hội của người S’tiêng
từ sau năm 1975. Kết quả của đợt nghiên
cứu đã được công bố với
một số công trình trong tập sách “Vấn đề
dân tộc ở Sông Bé” của tập thể tác giả do Mạc Đường chủ biên và nhà xuất
bản Tổng hợp Sông Bé ấn hành năm 1985. Tập sách đã bổ sung và hệ thống một số
tài liệu điều tra, phân tích khoa học về người S’tiêng ở Sông Bé, góp phần làm
sáng tỏ thêm nhiều khía cạnh văn hóa, kinh tế, xã hội của người S’tiêng.
Năm 1991, nhà xuất bản Tổng hợp Sông Bé đã ấn hành “Địa
chí tỉnh Sông Bé”. Trong công trình nghiên cứu này còn có bài viết “Miền
núi tỉnh Sông Bé: Lịch sử phát triển xã hội và đời sống các dân tộc” của
tác giả Mạc Đường, đề cập đến các đặc điểm kinh tế -xã hội, về điểm xuất phát
và con đường phát triển xã hội của người S’tiêng cũng như các dân tộc miền núi
tỉnh Sông Bé. Cũng trong thời gian này, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Sông Bé đã
cho xuất bản công trình nghiên cứu “Địa chí tỉnh Sông Bé” do nhà báo
–nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng chủ biên.
Trên tạp chí Dân tộc học số 3, năm 1991 đăng bài viết của tác giả Trần Tất
Chủng - “Góp thêm tài liệu nghiên cứu về
người S’tiêng”. Bài viết đã giới thiệu
một số kết quả điều tra điền dã của các tác giả tại hai “pol” S’tiêng thuộc hai
vùng Bù Lơ và Bù Đek.
Cũng năm 1992, trên cơ sở các tài liệu, tư liệu, các công
trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, đặc biệt là những sưu tập
trong các đợt điều tra điền dã ở nhiều
vùng cư trú của người S’tiêng ở các huyện phía Bắc tỉnh Sông Bé, tác giả Phan
An đã tổng hợp và công bố công trình nghiên cứu-luận án Tiến sĩ khoa học Lịch
sử “Hệ thống xã hội tộc người S’tiêng ở
Việt Nam: từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1975”. Đây là công trình nghiên cứu
khá toàn diện về mọi mặt đời sống xã hội của người S’tiêng tại các huyện phía
Bắc tỉnh Sông Bé (Bình Phước ngày nay). Trong đó, tác giả tập trung nghiên cứu
về những yếu tố và các quan hệ cấu thành hệ thống xã hội tộc người của người
S’tiêng và xem xét nó trong mối quan hệ hữu cơ với cơ sở tồn tại của tộc người
S’tiêng như môi sinh tộc người, các hoạt động kinh tế, đời sống văn hóa vật
chất và tinh thần… Đặc biệt, tác giả Phan An còn đi sâu phân tích quan hệ thân
thuộc, các dạng tập hợp người của xã hội người S’tiêng. Công trình nghiên cứu
của tác giả là nguồn tài liệu phong phú, quý giá để người viết tham khảo khi
thực hiện đề tài.
Năm 2001, trên tạp chí Nghiên cứu lịch
sử, số 1 có đăng bài viết Luật tục
S’tiêng và vấn đề đất rừng ở tỉnh Bình Phước hiện nay của tác giả Phan An.
Năm 2002, Nhà xuất bản Thông tấn phát hành cuốn sách “Việt Nam hình ảnh cộng đồng 54 dân tộc”, trong đó có giới thiệu sơ
nét về văn hóa vật chất và tinh thần của người Stiêng.
Năm
2003, nhà văn Nguyên Ngọc sau khi khảo sát vùng đất Tây Nguyên và Đông Nam Bộ,
ông đã dịch từ nguyên bản tiếng Pháp sách Populations Montagnardes du sud-
Indochinois (Pél msien) (Tạp chí
France –Asie số 49-50, số đặc biệt mùa xuân năm 1950) của tác giả Dam Bo (bút
danh của Jacques Dourmes), với tựa đề “Miền
đất huyền ảo” (Các dân tộc miền núi Nam Đông Dương) (nhà xuất bản Hội nhà
văn). Sách giới thiệu vùng đất với những điều huyền ảo, những nghi lễ tín
ngưỡng, tập tục…
Năm 2004, trên cơ sở các công trình
nghiên cứu trước đó của nước ngoài và kết quả của các đợt khảo sát điền dã, hai
tác giả Ngô Đức Thịnh và Ngô Văn Lý đã công bố công trình nghiên cứu “Luật tục các dân tộc Nam Tây Nguyên”.
Công trình này đã được nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc xuất bản. Đây là công trình
nghiên cứu quy mô và tương đối đầy đủ về luật tục của các dân tộc thiểu số Nam
Tây Nguyên, trong đó có người S’tiêng.
Năm 2010, tác giả Ngô Quang Hưng đã sưu tập và biên soạn tác phẩm “Tìm hiểu văn hóa tín ngưỡng và lễ hội vùng
dân tộc thiểu số”, do nhà xuất bản Văn hoá Thông tin xuất bản, cũng ghi
nhận những nét văn hóa truyền thống của người S’tiêng như trang phục, nhà ở,
hôn nhân
Năm 2011, trên tạp chí văn hóa nghệ thuật, Bộ văn hóa thông tin và du lịch,
số 324 có đăng bài viết của tác giả Trần Văn Ánh ghi nhận “Một số biến đổi văn hóa của người Xtiêng ở Bình Phước”. Trong bài
viết này, tác giả đề cấp đến những biến đổi về ngôn ngữ, tín ngưỡng của người
S’tiêng trong những năm gần đây. Bên cạnh đó, còn có công trình nghiên cứu văn
hóa tín ngưỡng, luật tục và thông qua các luật tục, các tác giả còn làm rõ về
tổ chức xã hội, các tầng lớp cũng như những mối quan hệ xã hội trong các “pol”,
“sóc” của người S’tiêng.
Năm 2020, tác giả Nguyễn Thị Ngọc Dung với đề
tài luận án Tiến sĩ đã nghiên cứu và trình bày hệ thống, cụ thể toàn diện về âm
nhạc người S’tiêng ở Bình
Phước.
Những bài viết,
tác phẩm và công trình nghiên cứu trên đã phản ánh, phục dựng toàn cảnh bức
tranh sinh hoạt của cộng đồng tộc người S’tiêng về vùng cư trú, lịch sử tộc
người, ngôn ngữ tộc người, cơ cấu tổ chức xã hội, quan hệ tộc người và đặc
trưng của xã hội tộc người. Những công trình này đã nhìn nhận văn hóa người
S’tiêng mang tính bản địa, nhân văn đặc sắc. Nhìn chung, đã có rất nhiều nghiên
cứu về người S’tiêng, những công trình này đã khảo sát về đời sống kinh tế, lao
động, văn hóa, xã hội, luật tục, tập quán, sinh hoạt của người S’tiêng… nhưng
hầu hết đều ít bàn đến âm nhạc, nhạc khí nếu có thì chỉ là những thông tin ít ỏi, dung lượng
không đáng kể, thể hiện âm nhạc, nhạc khí xuất hiện trong đời sống như những chi tiết cần - đủ của
một tổng thể. Như vậy, những công trình này càng không có những qua tâm đến bảo
tồn, phát huy nhạc khí dân tộc S’tiêng trong đời sống.
2.2.2. Những nghiên cứu, sưu tầm về âm nhạc dân tộc, nhạc khí đồng bào S’Tiêng
Những công trình nghiên cứu về âm nhạc, nhạc khí đồng bào S’Tiêng nói
chung và ở Bình Phước nói riêng chủ yếu nêu lên kết quả sưu tầm, thu thập bài
bản âm nhạc, những nhạc
khí đơn giản; kết quả của các cuộc điền dã thu thập nhạc khí và bài
bản diễn tấu nhạc khí.
Năm 1984, Lê Huy - Huy Trân, hai nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc đã cho xuất
bản sách Nhạc khí dân tộc Việt Nam (Nhà xuất bản Văn hóa). Sách giới
thiệu hệ thống nhạc khí theo lối phân chia tổ bộ của các nhạc khí trong dàn
nhạc giao hưởng phương Tây với chủ yếu là các nhạc khí của người Việt, một số
ít nhạc khí của các dân tộc Tây Nguyên như Jrai, Bana, Ê Đê… mà chủ yếu là các
nhạc khí đồng dạng như K’long but, T’rưng, đàn đá, tù và sừng trâu, cồng
chiêng… Với phương pháp nghiên cứu của ngành Âm nhạc học, mỗi nhạc khí được
giới thiệu theo cấu trúc: mô tả, âm sắc, tầm âm, thang âm và cách diễn tấu mà
bỏ qua những yếu tố cơ bản của nhạc khí dân tộc là môi trường sản sinh và tồn
tại, tính nguyên hợp và tính diễn xướng… Do vậy, nhạc khí dân tộc được giới
thiệu chủ yếu là những nhạc khí biểu diễn trên sân khấu chuyên nghiệp, không có
mối quan hệ với đời sống, không gian văn hóa, tín ngưỡng của tộc người.
Năm 1993, Vũ Hồng Thịnh và Bùi Lẫm công bố bài viết “Thang âm trong các
bộ cồng chiêng của dân tộc Xtiêng Sông Bé” trong sách Thang âm Điệu thức
trong âm nhạc truyền thống một số dân tộc miền Nam Việt Nam do Viện Văn hóa
Nghệ thuật tại Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản (nhiều tác giả). Đây là một trong
những tài liệu đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về âm nhạc cồng chiêng đồng bào
S’Tiêng được công bố. Bài viết là một
công trình nghiên cứu, khảo tả các bộ cồng chiêng của người S’tiêng sau 5
chuyến khảo sát ở Sông Bé - Bình Phước (Lộc Ninh, Bình Long, Đồng Phú, Phước
Long và Bù Đăng), họ sưu tầm, làm việc tiếp xúc với hơn 300 nghệ nhân, khảo sát
và ghi âm thanh của 96 bộ cồng chiêng… Năm 1995, Vũ Hồng Thịnh và Bùi Lẫm xuất
bản sách “Nghệ thuật cồng chiêng dân tộc Xtiêng tỉnh Sông Bé” (Sở Văn
hóa – Thông tin Sông Bé xuất bản, năm 1995) là sự tổng kết, mở rộng kết quả của
nhiều năm sưu tầm, điền dã, nghiên cứu trước đó của các nhạc sĩ khi công tác
tại viện Âm nhạc. Ngoài giới thiệu, mô tả các dàn cồng chiêng của đồng bào
S’Tiêng, sách nêu rõ màu âm, kỹ thuật diễn tấu và nhiều phân
tích về thang âm, cũng như ghi chép bài bản... âm nhạc cồng chiêng. Những ghi
chép này hết sức có giá trị về mặt tư liệu, là những tài liệu đầu tiên chuyên
sâu về âm nhạc, về cồng chiêng của người S’tiêng ở Bình Phước, là những căn cứ
khoa học cho những nghiên cứu so sánh tiếp sau nhất là trong tình hình hiện
nay, những nghệ nhân, nhiều bộ cồng chiêng của tỉnh Bình Phước đã không còn...
Tuy nhiên, tài liệu này cũng ít bàn tới không gian văn hóa mà cồng chiêng tồn
tại.
Cùng năm 1995, giáo sư Tô Ngọc Thanh xuất bản sách Giới thiệu một số
nhạc cụ dân tộc thiểu số Việt Nam (Nhà xuất bản Văn Nghệ - Trung tâm Văn
hóa Thành Phố Hồ Chí Minh, năm 1995), giới thiệu 31 nhạc cụ các dân tộc thiểu
số. Trong tác phẩm, giáo sư có nhắc đến cách phân loại nhạc khí được sử dụng là
của Curt Sachs và E. M. Hornbostel (“Systematik Der Musikinstrument”
Zeitschrift Fur Ethnologie. XLVi, 1914). Đây là cách phân loại tiên tiến và
hiện đại được các nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc trên thế giới cũng như UNESCO
công nhận và sử dụng. Tuy nhiên, số lượng nhạc cụ của các dân tộc Tây Nguyên được
giới thiệu trong tập sách không nhiều và là nhạc cụ đồng dạng của nhiều dân
tộc. Trong số đó, sách không nêu cụ thể nhạc cụ nào của người S’tiêng.
Nguyễn Thành Đức trong tác phẩm Múa dân gian các tộc người Mạ, Choro,
Xtiêng vùng Đông Nam Bộ (nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2004) cũng
có nêu vài chi tiết về âm nhạc, ký âm những tiết tấu cơ bản của động tác Múa.
Do vậy, âm nhạc không được bàn sâu, nhạc khí cũng chỉ được giới thiệu chung
chung, là công cụ tạo nên tiết cấu – âm nhạc cho múa.
Năm 2005, Phùng Đăng Quang cho xuất bản
công trình “Nhạc khí đồng bào S’Tiêng ” (Nhà xuất bản Trẻ) cũng chính là luận
văn thạc sĩ của ông, được thực hiện tại Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh trong 3
năm trước đó. Sách là một nghiên cứu nghiêm túc, giới thiệu những kết quả sưu
tầm, điền dã ở các huyện Phước Long, Bình Long, Bù Đăng, Bù Đốp của tỉnh Bình
Phước và một số địa phương khác. Công trình nghiên cứu đã được thực hiện theo
phương pháp Âm nhạc Dân tộc học (Ethnomusicology), phân loại nhạc khí theo lý
thuyết của Curt Sachs và E. M. Hornbostel, giới thiệu nhạc khí hết sức chi tiết
từ hình thức, cấu trúc, màu âm, thang âm, kỹ thuật diễn tấu, vai trò trong đời
sống cộng đồng… Cùng với đó, sách cũng nêu khá nhiều bản ký âm dân ca có sử
dụng nhạc khí và 3 bài cồng chiêng. Tuy nhiên sách vẫn chưa lưu ý vấn đề chế
tác nhạc khí cũng như ý nghĩa của nhạc khí trong đời sống tâm linh đồng bào
S’Tiêng. Đây là những nội dung quan trọng trong nghiên cứu âm nhạc - nhạc khí các
dân tộc theo lý thuyết nghiên cứu của ngành Âm nhạc dân tộc học. Mặt
khác, những chi tiết, thông tin về nơi sưu tầm, những nghệ nhân thể hiện hoặc
những thông tin về phương tiện thực hiện sưu tầm điền dã đều không được nêu
trong tập sách (kể cả ở phần phụ lục). Đây là những chi tiết khiến những nghiên
cứu tiếp sau hoặc những khảo cứu đối với tập sách thiếu cơ sở khoa học.
Năm 2005, trong dự án Công bố, phổ biến tài sản văn hóa, văn nghệ dân gian
Việt Nam của Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, sách Văn hóa người Xtiêng
của nhóm tác giả Huỳnh Văn Tới, Phan Đình Dũng - Phạm Hữu Hiền đã được ấn hành (Nhà xuất
bản Khoa học Xã hội, năm 2015). Trong 167 trang sách, nhóm tác giả đã dành 18
trang cho âm nhạc người Xtiêng (chương 7 “Loại hình nhạc cụ, dân ca”).
Số trang quá ít, không có một bản ký âm (chỉ vài bài hát được ghi chép lời)
không có hình ảnh nhạc cụ nên việc giới thiệu âm nhạc cũng như nhạc cụ người
S’tiêng của tài liệu này trở nên sơ lược và gần như chỉ là những liệt kê, gọi
tên.
Trên cổng thông tin điện tử của tỉnh Bình Phước, website của Bảo tàng tỉnh, Đài Phát
thanh - Truyền hình và Báo Bình Phước, website của một số Sở, Ban, Ngành của
tỉnh Bình Phước đều có nhiều trang viết giới thiệu văn hóa âm nhạc các tộc
người ở Tỉnh. Trong các giới thiệu này đều có khảo tả về âm nhạc, về dân ca,
dân nhạc hay nhạc khí của đồng bào S’Tiêng
ở Bình Phước. Những bài viết này không nêu rõ nguồn, không nêu xuất xứ
hoặc thông tin được sưu tầm từ đâu, do ai… nên rất khó cho việc khảo cứu.
Có thể thấy, những nghiên cứu chuyên sâu về dân ca, dân nhạc, nhạc khí đồng
bào S’Tiêng nói chung và ở Bình Phước
nói riêng đã bước đầu được thực hiện ở nước ta. Đây là cơ sở cho những công
trình khảo cứu, nghiên cứu sau này. Tuy nhiên, số lượng, dữ liệu được công bố
chưa nhiều, chưa phản ánh đúng thực tế âm nhạc cũng như chất lượng dữ liệu cũng
chưa đúng theo những yêu cầu về mặt khoa học của chuyên ngành Âm nhạc Dân tộc
học thế giới hoặc các tiêu chí của UNESCO.
2.2.3. Nhóm các công trình nghiên cứu lý thuyết về Văn hóa, Quản lý văn hóa,
nghiên cứu về lý thuyết âm nhạc, về bảo tồn và phát triển
2.2.3.1 Nghiên cứu lý thuyết về văn hóa, quản lý văn hóa
Nhều
tác giả trong công trình Văn hóa học - Những phương pháp nghiên
cứu, được Viện Văn hóa - Thông tin dịch, Nguyễn Chí Bền chịu trách
nhiệm xuất bản, Từ Thị Loan biên tập. Trong đó, Donald A. Macdonald
với bài nghiên cứu “Điền dã: sưu tầm văn học truyền miệng” và
Bryman với bài nghiên cứu “Phỏng vấn trong nghiên cứu định tính”
(Viện Văn hóa - Thông tin, 2007).
Hai bài nghiên cứu này đã cung cấp lý thuyết và phương pháp nghiên
cứu cần thiết nhất, do đó để thực hiện đề tài chúng tôi thực hiện phương pháp
nghiên cứu định tính.
Chris
Barker với công trình Nghiên cứu văn hóa lý thuyết và thực hành,
đã được Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam dịch, Lê Tiến Dũng chịu
trách nhiệm xuất bản, Vũ Thanh Việt và Nguyễn Chí Bền chịu trách
nhiệm bản thảo, Phan Thanh Nhàn và Phạm Lan Oanh biên tập, Nxb Văn hóa
Thông tin. Sách gồm có ba phần: Văn hóa và nghiên cứu văn hóa. Bối
cảnh thay đổi của nghiên cứu văn hóa; Những vấn đề của nghiên cứu văn hóa
(Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, 2011).. Tài liệu này cung cấp
những vấn đề cơ bản cho luận án, cung cấp những góc tiếp cận cho đề tài
Bên
cạnh đó, chúng tôi còn tiếp cận các công trình lý thuyết và phương pháp của
ngành nhân học bổ trợ cho công trình nghiên cứu luận án như H. Russel Bernard
(2009), Research methods in anthropology: Qualitative and Quantitative
Approaches - các phương pháp nghiên cứu
trong nhân học - tiếp cận đính tính và định lượng, đã được Hoàng Trọng, Ngô Thị
Phương Lan, Trương Thị Thu Hằng dijhc, NXB đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí
Minh năm 2009 (H.Rusel Bernard, 2009). Các nội dung nghiên cứu sinh chú ý gồm:
quan sát, ghi chép điền dã, phỏng vấn, bảng hỏi…
2.2.3.2 Những nghiên cứu lý thuyết về âm nhạc dân tộc học, về bảo tồn và
phát triển âm nhạc dân tộc
Ở Việt Nam, từ giữa thập niên 50 của
thế kỷ XX trở về sau, việc nghiên cứu âm nhạc dân tộc bắt đầu được Đảng và Nhà
nước quan tâm, chỉ đạo thực hiện. Chúng ta đã sưu tầm, gìn giữ, công bố, phổ
biến, cải biên, phát triển hàng ngàn bài dân ca, hàng trăm nhạc khí dân tộc
khác nhau (đàn t’rưng, đàn đá, đàn bầu, đàn tranh…) nhưng đến những năm cuối
thế kỷ XX đầu XXI, thuật ngữ Âm nhạc Dân tộc học (Ethnomusicology) mới được sử
dụng trong giới nghiên cứu. Các nghiên cứu của Hoàng Yến, Nguyễn Xuân Khoát, Tô
Vũ, Lưu Hữu Phước, Tú Ngọc, Tô Ngọc Thanh…từ đầu thế kỷ XX đến trước năm 1975
đều mang dáng dấp là những nghiên cứu Âm nhạc Dân tộc học, nhưng, hầu hết các
nhà nghiên cứu, trong các tác phẩm, đều không nhắc đến lý thuyết, phương pháp
luận được sử dụng là của ngành Âm nhạc Dân tộc học. Điều này do Âm nhạc Dân tộc
học là một chuyên ngành được ra đời muộn, vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và
chỉ được định danh vào năm 1955 sau hội nghị thành lập tại Philadelphia… Đến
sau năm 2000, thuật ngữ cùng với lý thuyết, phương pháp nghiên cứu Âm nhạc Dân
tộc học mới dần được phổ biến tại Việt Nam[14].
Chưa kể, việc tham gia Hội đồng Âm nhạc truyền thống (ICTM- International
Council of Traditional Music) hoặc thực hiện theo những khuyến cáo của các công
ước quốc tế về bảo tồn, phát huy âm nhạc dân tộc nói riêng, di sản văn hóa cổ
truyền nói chung của giới nghiên cứu Việt Nam đều rất muộn.
Từ sau nghị quyết Trung ương
5 khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam và những chính sách cụ thể của Nhà nước
về “bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc”, công tác nghiên cứu âm nhạc
dân tộc, việc bảo tồn phát huy âm nhạc dân tộc bắt đầu có những bước tiến mới.
Trên cơ sở những tiếp cận với những nghiên cứu âm nhạc dân tộc trên thế giới,
giới nghiên cứu bắt đầu quan tâm đến lý thuyết cũng như phương pháp nghiên cứu,
vấn đề bảo tồn và phát triển âm nhạc dân tộc ở Việt Nam. Những nhà nghiên cứu
âm nhạc Việt Nam bắt đầu tiếp cận lý thuyết và phương pháp của ngành Âm nhạc
Dân tộc học từ sách Theory and Method in
Ethnomusicology của Bruno Nellt (The Free Press of Glecoe
Collier-Macmillan Limited, London 1964). Nellt giới thiệu từ khái niệm của
thuật ngữ Âm nhạc Dân tộc học, đến hệ thống các phương pháp nghiên cứu và khắng
định quan điểm nghiên cứu: “âm nhạc trong nghiên cứu của ngành Âm nhạc dân
tộc học luôn phải đặt trong bối cảnh văn hóa và liên hệ với cộng đồng dân tộc”.
Cùng quan điểm và phương pháp nghiên cứu này, John Blacking khẳng định: âm nhạc
luôn được đặt trong mối quan hệ “âm nhạc
trong văn hóa, xã hội” và “văn hóa,
xã hội trong âm nhạc”[15]. Điều mà John Blacking gởi gắm trong tác phẩm “Ý nghĩa của Âm nhạc”[16] của mình và rút ra kết luận là: nghiên cứu âm nhạc không chỉ nghiên cứu,
giải thích thang âm, điệu thức, hình thức, tổ chức của âm thanh, cách trình
bày, thể hiện… Ông gọi đó là thái độ giải thích “cấu trúc bề mặt” của tác phẩm
âm nhạc. Nghiên cứu âm nhạc phải cần đến việc tìm hiểu “cấu trúc bên trong”,
cái sinh ra âm nhạc…
Cùng quan điểm với những tác giả này là nhiều tác giả khác nhau như
Merriam, Alan P. (người Mỹ) trong bài viết “Ethnomusicology, discussion and
definition of the field” (Ethnomusicology 4:107-114, 1954) và sách Anthropology of music (Northwestern
University Press, USA, 1964) hay J.J Nattier, H. Mantle; W. Wiora… cũng đều có
những trước tác đưa ra nhiều trường hợp điển hình, nhiều thể loại âm nhạc dân
tộc của các nước được nghiên cứu theo quan điểm này. Các nhà nghiên cứu âm nhạc
dân tộc như Tô Vũ, Tô Ngọc Thanh, Lưu Hữu Phước, Đặng Hoành Loan, Nguyễn Thị Mỹ
Liêm… trong nhiều tài liệu, bài viết khác nhau đã có những kế thừa, tiếp thu
quan điểm nghiên cứu của các trường phái âm nhạc dân
tộc học thế giới. Bên cạnh đó, những bài viết này cũng đặt vấn đề bảo tồn và
phát triển âm nhạc dân tộc trong hiện nay[17].
2.2.4 Những văn bản nhà nước về Quản lý văn hóa, liên quan đến đề tài
2.2.4.1 Văn bản liên quan đề
tài
Quyết định Số:
125/2007/QĐ-TTg ngày 31/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ về
việc Phê duyệt Chương trình
mục tiêu quốc gia về văn hoá giai đoạn 2006 – 2010.
Quyết định số 1270/QĐ-TTg ngày 27/7/2011 của Thủ tướng
chính phủ về việc Phê duyệt đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc
thiểu số Việt Nam đến năm 2020”.
Quyết định số 1211/QĐ-TTg ngày 5/9/2012 về việc Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc
gia về văn hóa giai đoạn 2012 – 2015.
Thông tư số 12/2014/TT-BVHTTDL quy định chi tiết thi
hành một số điều của Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc
Ngày 18/01/2019, Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định số 209/QĐ-BVHTTDL về việc phê duyệt Đề án Bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống các dân tộc
thiểu số Việt Nam trong giai đoạn nay
Quyết định số 3666/ QĐ-BVHTTDL năm 2020, ngày 07 tháng 12 về phê duyệt đề án “tổ chức định kỳ ngày hội, giao lưu, liên hoan văn hóa, thể
thao và du lịch vùng đồng bào các dân tộc thiểu số theo khu vực và toàn quốc
giai đoạn 2021 - 2030”.
Nghị quyết số 120/2020/QH14 về phê duyệt chủ trương đầu tư
Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân
tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030 được đồng bộ, kịp thời, thống
nhất và có hiệu quả.
Quyết định số 1719/QĐ-TTg, ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương
trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu
số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030 Giai đoạn I, từ năm 2021 đến hết năm 2025,
Chương trình sẽ triển khai thực hiện đồng bộ 10 dự án, trong đó có Dự án 6: Bảo
tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn
với phát triển du lịch
Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 được
Ban hành theo Quyết định số 1909/QĐ-TTg, ngày 12-11-2021 của Thủ tướng Chính
phủ Kết luận số 76/KL-TW ngày 4/6/2020 của Bộ Chính trị khóa XII về tiếp tục
thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về
xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển
bền vững đất nước, các chương trình hành động của Chính phủ và của tỉnh về thực
hiện Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội
Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2020-2025,
Quyết định số 1909/QĐ-TTg ngày 12/11/2021 Chính phủ ban hành phê duyệt Chiến lược phát triển văn
hóa đến năm 2030, là “Bảo vệ và
phát huy di sản văn hóa dân tộc”
Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 10/9/2021 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy
mạnh triển khai Chiến lược văn hóa đối ngoại của Việt Nam
Công văn số 677/HD-BVHTTDL ngày 3/3/2022 hướng
dẫn triển khai thực hiện dự án “Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống
tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch” thuộc chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế -
xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030.
2.2.4.2 Thực hiện các văn bản của Bình
Phước
*Văn bản của tỉnh ủy Bình
Phước
Để triển khai các văn bản của Trung ương và nội dung văn kiện Đại hội
Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Phước lần thứ VII, thứ VIII và IX. Tỉnh ủy Bình
Phước đã ban hành nhiều văn bản về phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Phước
nói chung, về phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số nói riêng, công
tác dân tộc, về việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền
vững.
Nghị quyết số 07/NQ-TU ngày
30/10/1998 của Tỉnh ủy về phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi – dân tộc
tỉnh Bình Phước.
Chương trình hành động số 20/CTr/TU ngày 16/6/2003 của Tỉnh ủy 44 về
thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX về “công tác dân tộc”.
*Văn bản của Ủy ban nhân dân
tỉnh Bình Phước
Kế hoạch số 41/KH-UBND ngày 21/02/2014 của UBND tỉnh về việc triển khai
Chiến lược và Chương trình hành động thực hiện chiến lược công tác dân tộc đến
năm 2020.
Kế hoạch số 42/KH-UBND ngày 02/3/2015 của UBND tỉnh về triển khai thực
hiện Chỉ thị số 28/CT-TTg ngày 10/9/2014 của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao
hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc.
Về công tác bảo tồn di sản văn hóa các DTTS, ngoài một số nội dung được
trình bày trong các văn bản về phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS, UBND tỉnh
Bình Phước đã có một số văn bản riêng:
Kế hoạch số 39/KH-UBND ngày 24/02/2015 về Kiểm kê di sản văn hóa phi vật
thể trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
Kế hoạch số 81/KH-UBND ngày 08/4/2015 thực hiện Đề án “Bảo tồn, phát
triển văn hóa các DTTS Việt Nam đến năm 2020” trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
Quyết định số 24/2017/QĐ-UBND ngày 05/6/2017 của UBND tỉnh về việc ban
hành quy định thực hiện chính sách đối với già làng tiêu biểu xuất sắc trong
đồng bào các DTTS trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
Quyết định số 51/2017/QĐ-UBND ngày 15/10/2017 của UBND tỉnh về việc phát
triển Khu bảo tồn văn hóa dân tộc sóc Bom Bo giai đoạn 2018- 2020. Tất cả các
văn bản của UBND tỉnh Bình Phước tập trung vào việc tăng cường QLNN đối với
công tác bảo tồn di sản văn hóa các DTTS, trong đó có 46 dân tộc, gắn công tác
này với việc phát triển kinh tê – xã hội của địa phương và nâng cao đời sống cho
nhân dân.
Trong văn kiện Đại hội
Đảng bộ lần thứ XI của tỉnh Bình
Phước, nhiệm kỳ 2020 – 2025 đã đề ra mục tiêu, nhiệm vụ phát triển lĩnh vực văn hóa đó là, đầu tư, quản
lý và sử dụng hiệu quả các thiết chế văn hóa,
thể thao. Ngày 14/8/2017 Tỉnh ủy đã ban hành
chỉ thị số 26-CT/TU về việc tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối
với công tác giữ gìn và phát huy giá
trị văn hóa của dân tộc thiểu số, các di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn
tỉnh.
Kế hoạch số 291/KH-UBND về triển khai Đề án Chương trình hoạt động văn hóa, nghệ thuật phục vụ vùng
xâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn
2021 – 2025 trên địa bàn tỉnh Bình Phước
2.2.5. Luận giải về sự cần
thiết, tính cấp bách, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Đồng bào S’Tiêng là một trong những dân tộc đã có lịch sử
và cư trú ở Bình Phước lâu đời. Âm nhạc của họ cũng đã được sinh ra, định hình
và lưu truyền cùng với quá trình xây dựng, phát triển của cộng đồng dân tộc.
Theo điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người S’tiêng ở Bình Phước chiếm số
lượng hơn 90% so với tổng số cộng đồng đồng bào S’Tiêng ở Việt Nam, họ chính là cộng đồng lưu giữ,
truyền bá âm nhạc, nhạc khí dân tộc trong quá khứ
cũng như tương lai của đồng bào S’Tiêng. Trong những sinh hoạt, các lễ hội
truyền thống của cộng đồng, âm nhạc nhạc khí chính là yếu tố
quan trọng, không thể thiếu. Âm nhạc, nhạc khí dân tộc
còn là món ăn tinh thần, có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng tính cách,
phẩm chất, tâm hồn cho mỗi người dân S’tiêng nói riêng và mỗi con người Việt
Nam nói chung; âm nhạc, nhạc khí phục vụ đắc lực cho nhiệm
vụ chính trị, đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững xã hội, là phương tiện
giáo dục, tập hợp và cố kết cộng đồng…
Trong tình hình đời sống, kinh tế, lao động sản xuất,
hoạt động xã hội có nhiểu biến đổi như hiện hay, chắc chắn âm nhạc của dân tộc
S’Tiêng cũng chịu tác động. Những tiếp thu, biến đổi của âm nhạc dân tộc cổ
truyền trong đời sống hiện nay của âm nhạc không phải là vấn đề của riêng cộng
đồng người S’tiêng mà là của toàn xã hội. Trong hội thảo quốc tế “Âm nhạc
dân tộc cổ truyền trong bối cảnh toàn cầu hóa” (2004), GS.TSKH Tô Ngọc
Thanh khẳng định: “Nếu để nền âm nhạc ấy bị mai một, vô hình trung chúng ta
đã làm mất đi chân dung của dân tộc mình”. Ngay từ Đề cương Văn hóa của
Đảng năm 1943 đến định hướng cụ thể trong giai đoạn hội nhập hiện nay, Đảng ta
luôn chú trọng mục tiêu giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc. Điều này cũng có
nghĩa: bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc nói chung, âm nhạc nói riêng
là trách nhiệm của toàn xã hội.
Tuy nhiên, những nghệ nhân nắm giữ nghệ thuật cổ truyền
nay đã nhiều tuổi mà không có lớp người kế thừa. Cùng với đó, những hoạt động
kinh tế, đời sống đang ngày càng thay đổi theo hướng đô thị hóa, công nghiệp
hóa, không còn chỗ cho những hoạt động theo tập tục cổ xưa, không còn điều kiện
để tổ chức các hoạt động mà trong đó âm nhạc, nhạc khí
dân tộc là một thành tố chủ yếu. Mặt khác, một bộ phận người trẻ trước xu thế
giao lưu, hội nhập, và làn sóng văn hóa các nước đang tràn ngập trên hệ thống
thông tin đại chúng, internet… đang có xu hướng xa rời âm nhạc, nhạc khí dân tộc, chỉ yêu chuộng các thể loại nhạc trẻ, nhạc mới, nhạc nước ngoài, giới trẻ nhờ công
nghệ tiếp cận đến mạng xã hội, học những nhạc cụ, nhạc khí phương tây, giá
không đắt, đặt mua dễ và dễ sử dụng. Do vậy, rất nhiều thể
loại âm nhạc,
nhạc khí dân tộc đang đứng trước nguy cơ mai một; nhiều làn
điệu âm nhạc, nhạc khí dân tộc dần dần không còn dịp diễn xướng, diễn tấu,
không còn người kế thừa… nên nguy cơ biến mất di sản âm nhạc, nhạc khí dân tộc là một thực tế và khó tránh khỏi.
Những khó khăn, thách thức, những yếu tố bất lợi cho sự
tồn tại của âm nhạc dân tộc nói chung, âm nhạc đồng bào S’Tiêng Bình Phước nói
riêng ngày càng rõ rệt, rất cần thiết có một nghiên cứu toàn diện về nhạc khí đồng bào S’Tiêng Bình Phước nhằm bảo vệ, bảo tồn và phát triển trong thời
đại hiện nay.
Trên cơ sở lược khảo các công trình nghiên cứu về âm nhạc
S’tiêng nói chung, nhạc khí đồng bào S’Tiêng nói riêng đã cho
thấy nhạc
khí là nội dung bắt đầu được nghiên cứu chuyên sâu, thực
hiện ở nhiều khía cạnh với các mức độ khác nhau. Tuy nhiên, chưa có một công
trình mang tính hệ thống, cung cấp một cái nhìn toàn diện về nhạc khí đồng bào S’Tiêng, đặc biệt là nhạc khí đồng bào S’Tiêng ở
Bình Phước. Bởi, có thể nói, nghiên cứu nhạc khí S’tiêng ở Bình
Phước chính là nghiên cứu âm nhạc, nhạc khí
với những đặc trưng xã hội, văn hóa tộc người cùng với những đặc thù, đặc điểm
môi trường tự nhiên, điều kiện sinh sống của địa phương. Hơn nữa, những nghiên
cứu chưa khai thác ở tầm vóc giá trị văn hóa dân tộc của âm nhạc, nhạc khí chưa soi thấu những yếu tố chuyên sâu trên cơ sở phương pháp và lý thuyết
đang được sử dụng chủ yếu trên thế giới hiện nay là ngành Âm nhạc nhạc cụ dân tộc.
Bên cạnh đó, với dân số tập trung đông nhất so với tổng
số dân của cộng đồng đồng bào S’Tiêng trên cả nước, là nơi lưu giữ nhiều di sản
văn hóa vật chất, tinh thần của người S’tiêng cũng như những tập tục truyền đời
của cộng đồng, Bình Phước là nơi thích hợp và cần có sự đầu tư để nghiên cứu, tìm
hiểu kho tàng dân ca, dân nhạc, nhạc khí còn tồn tại trong cộng đồng trước khi
bị biến đổi, hoặc mai một trước cơn sóng toàn cầu hóa, công nghiệp hóa, đô thị
hóa. Hoạt động khảo sát, nghiên cứu âm nhạc còn gắn liền với việc nghiên cứu
đời sống văn hóa tinh thần, tập tục, tín ngưỡng, làm khích lệ tinh thần - sự tự
hào dân tộc, tinh thần đoàn kết gắn bó trong cộng đồng và góp phần thúc đẩy
phát triển xã hội. Hơn nữa, nghiên cứu giá trị di sản âm nhạc nhạc khí dân tộc còn khẳng định bản sắc văn hóa của địa phương, biến nó thành sản
phẩm văn hóa có thể góp phần phát triển kinh tế du lịch cho Bình Phước nói
chung và người S’tiêng nói riêng.
Trước những yêu cầu cấp thiết cũng như điều kiện thuận
lợi nêu trên, đã đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ tiến hành khảo cứu nhạc khí đồng bào S’Tiêng ở Bình Phước một cách toàn diện, hệ thống và chuyên sâu.
Nhiệm vụ còn nghiên cứu giải pháp đáp ứng yêu cầu bảo tồn vốn di sản nhạc khí dân tộc cổ truyền có nguy cơ bị biến đổi hoặc biến mất trước mắt, về lâu
dài; đưa ra mô hình bảo tồn và phát huy vốn cổ truyền dân tộc, góp phần nâng
cao nhận thức của cộng đồng về giá trị văn hóa âm nhạc dân tộc; thúc đẩy công
tác phổ biến, quảng bá, tôn vinh các giá trị di sản ở tầm quốc gia và quốc tế;
góp phần quảng bá hình ảnh địa phương, thu hút du lịch, đáp ứng nguyện vọng
nâng cao đời sống vật chất - tinh thần của đồng bào dân tộc.
Ngoài ra, nghiên cứu sẽ là cơ sở cho hoạt động truyền
dạy, phổ biến, giáo dục thế hệ trẻ; những sản phẩm của nghiên cứu sẽ hữu ích
trong đào tạo nguồn nhân lực và đặc
biệt với việc phát động, khuyến khích hoạt động sưu tầm, khảo sát, khảo cứu,
công bố và phục dựng những hình thái hoạt động âm nhạc dân tộc… sẽ góp phần
đánh thức lòng tự tôn dân tộc, giáo dục giá trị văn hóa, giáo dục truyền thống
dân tộc và hình thành nhân cách công dân. Trên cơ sở đó, đề tài “Bảo tồn và phát
huy nhạc khí của người S’tiêng ở Bình Phước ” là vấn đề mang tính cấp thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn và
nghiên cứu Tổng quan về vấn đề nghiên cứu là một việc làm cần thiết, quan trọng
để có thể tiếp cận vấn đề nghiên cứu một cách khoa học, khách quan, toàn diện,
toàn cảnh.
2.2.6 Những điều rút ra sau khi hệ thống các tài
liệu liên quan
Đồng bào S’Tiêng là một trong những dân tộc đã có lịch sử
và cư trú ở Bình Phước lâu đời. Âm nhạc của họ cũng đã được sinh ra, định hình
và lưu truyền cùng với quá trình xây dựng, phát triển của cộng đồng dân tộc.
Theo điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người S’tiêng ở Bình Phước chiếm số
lượng hơn 90% so với tổng số cộng đồng đồng bào S’Tiêng ở Việt Nam, họ chính là cộng đồng lưu giữ,
truyền bá nhạc khí trong quá khứ cũng
như tương lai của đồng bào S’Tiêng . Trong những sinh hoạt, các lễ hội truyền
thống của cộng đồng, âm nhạc chính là yếu tố quan trọng, không thể thiếu. Âm
nhạc còn là món ăn tinh thần, có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng tính
cách, phẩm chất, tâm hồn cho mỗi người dân S’tiêng nói riêng và mỗi con người
Việt Nam nói chung; âm nhạc phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ chính trị, đảm bảo sự
phát triển ổn định và bền vững xã hội, là phương tiện giáo dục, tập hợp và cố
kết cộng đồng…
Trong tình hình đời sống, kinh tế, lao động sản xuất,
hoạt động xã hội có nhiểu biến đổi như hiện hay, chắc chắn âm nhạc của đồng bào
S’Tiêng cũng chịu tác động. Những tiếp
thu, biến đổi của nhạc khí cổ truyền trong đời sống hiện nay của âm nhạc không
phải là vấn đề của riêng cộng đồng người S’tiêng mà là của toàn xã hội. Ngay từ
Đề cương Văn hóa của Đảng năm 1943 đến định hướng cụ thể trong giai đoạn hội
nhập hiện nay, Đảng ta luôn chú trọng mục tiêu giữ gìn và phát huy bản sắc dân
tộc. Điều này cũng có nghĩa: bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc nói
chung, âm nhạc nói riêng là trách nhiệm của toàn xã hội.
Tuy nhiên, những nghệ nhân nắm giữ nghệ thuật cổ truyền
nay đã nhiều tuổi mà không có lớp người kế thừa. Cùng với đó, những hoạt động
kinh tế, đời sống đang ngày càng thay đổi theo hướng đô thị hóa, công nghiệp
hóa, không còn chỗ cho những hoạt động theo tập tục cổ xưa, không còn điều kiện
để tổ chức các hoạt động mà trong đó nhạc khí
là một thành tố chủ yếu. Mặt khác, một bộ phận người trẻ trước xu thế
giao lưu, hội nhập, và làn sóng văn hóa các nước đang tràn ngập trên hệ thống
thông tin đại chúng, internet…đang có xu hướng xa rời nhạc khí , chỉ yêu chuộng
các thể loại nhạc trẻ, nhạc mới, nhạc nước ngoài. Do vậy, rất nhiều thể loại âm
nhạc đang đứng trước nguy cơ mai một; nhiều làn điệu âm nhạc, nhạc khí dân tộc
dần dần không còn dịp diễn xướng, diễn tấu, không còn người kế thừa… nên nguy
cơ biến mất di sản nhạc khí là một thực
tế và khó tránh khỏi.
Những khó khăn, thách thức, những yếu tố bất lợi cho sự
tồn tại của nhạc khí nói chung, nhạc khí
S’tiêng Bình Phước nói riêng ngày càng rõ rệt, rất cần thiết có một nghiên cứu
toàn diện về nhạc khí S’tiêng Bình Phước nhằm bảo vệ, bảo tồn và phát triển
trong thời đại hiện nay.
Trên cơ sở lược khảo các công trình nghiên cứu về đồng
bào S’Tiêng nói chung, nhạc khí S’tiêng nói riêng đã cho thấy âm nhạc là nội
dung bắt đầu được nghiên cứu chuyên sâu, thực hiện ở nhiều khía cạnh với các
mức độ khác nhau. Tuy nhiên, chưa có một sông trình mang tính hệ thống, cung
cấp một cái nhìn toàn diện về nhạc khí
S’tiêng, đặc biệt là nhạc khí S’tiêng ở Bình Phước. Bởi, có thể nói,
nghiên cứu âm nhạc S’tiêng ở Bình Phước chính là nghiên cứu nhạc khí với những
đặc trưng xã hội, văn hóa tộc người cùng với những đặc thù, đặc điểm môi trường
tự nhiên, điều kiện sinh sống của địa phương. Hơn nữa, những nghiên cứu chưa
khai thác ở tầm vóc giá trị văn hóa dân tộc của âm nhạc, chưa soi thấu những
yếu tố chuyên sâu trên cơ sở phương pháp và lý thuyết đang được sử dụng chủ yếu
trên thế giới hiện nay là ngành nhạc khí học.
Bên cạnh đó, với dân số tập trung đông nhất so với tổng
số dân của cộng đồng đồng bào S’Tiêng
trên cả nước, là nơi lưu giữ nhiều di sản văn hóa vật chất, tinh thần của
người S’tiêng cũng như những tập tục truyền đời của cộng đồng, Bình Phước là
nơi thích hợp và cần có sự đầu tư để nghiên cứu, tìm hiểu kho tàng dân ca, dân
nhạc, nhạc khí còn tồn tại trong cộng đồng trước khi bị biến đổi, hoặc mai một
trước cơn sóng toàn cầu hóa, công nghiệp hóa, đô thị hóa. Hoạt động khảo sát,
nghiên cứu âm nhạc còn gắn liền với việc nghiên cứu đời sống văn hóa tinh thần,
tập tục, tín ngưỡng, làm khích lệ tinh thần - sự tự hào dân tộc, tinh thần đoàn
kết gắn bó trong cộng đồng và góp phần thúc đẩy phát triển xã hội. Hơn nữa,
nghiên cứu giá trị di sản nhạc khí còn
khẳng định bản sắc văn hóa của địa phương, biến nó thành sản phẩm văn hóa có
thể góp phần phát triển kinh tế du lịch cho Bình Phước nói chung và người
S’tiêng nói riêng.
Trước những yêu cầu cấp thiết cũng như điều kiện thuận
lợi nêu trên, đã đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ tiến hành khảo cứu nhạc khí
S’tiêng ở Bình Phước một cách toàn diện, hệ thống và chuyên sâu. Nhiệm vụ còn
nghiên cứu giải pháp đáp ứng yêu cầu bảo tồn vốn di sản nhạc khí cổ truyền có
nguy cơ bị biến đổi hoặc biến mất trước mắt, về lâu dài; đưa ra mô hình bảo tồn
và phát huy vốn cổ truyền dân tộc, góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về
giá trị văn hóa nhạc khí ; thúc đẩy công tác phổ biến, quảng bá, tôn vinh các
giá trị di sản ở tầm quốc gia và quốc tế; góp phần quảng bá hình ảnh địa
phương, thu hút du lịch, đáp ứng nguyện vọng nâng cao đời sống vật chất – tinh
thần của đồng bào dân tộc. Ngoài ra, nghiên cứu sẽ là cơ sở cho hoạt động
truyền dạy, phổ biến, giáo dục thế hệ trẻ; những sản phẩm của nghiên cứu sẽ hữu
ích trong đào tạo nguồn nhân lực và đặc biệt với việc phát động, khuyến khích
hoạt động sưu tầm, khảo sát, khảo cứu, công bố và phục dựng những hình thái
hoạt động nhạc khí…sẽ góp phần đánh thức lòng tự tôn dân tộc, giáo dục giá trị
văn hóa, giáo dục truyền thống dân tộc và hình thành nhân cách công dân.
2.3 Kết luận và đề xuất (Trình
bày những kết quả quan trọng rút ra từ sự tổng hợp các kết quả nghiên cứu đã có
trong/ngoài nước hay của tác giả nghiên cứu, những vấn đề còn khuyết/chưa được
nghiên cứu và đề xuất nghiên cứu tiếp theo, đặc biệt liên hệ với đề tài của
nghiên cứu sinh)
Nghiên cứu
tài liệu (literature review) là một công việc quan trọng cần thiết cho
bất kỳ hoạt động nghiên cứu khoa học nào. Mọi nghiên cứu khoa học
luôn đòi hỏi một nền
tảng kiến thức, hiểu biết về đề tài đang nghiên cứu. Đây là nguồn kiến thức quí
giá được tích lũy qua quá trình nghiên cứu mang tính hệ thống lâu
dài. Mục đích của
việc thu thập và nghiên cứu tài liệu nhằm: giúp cho người nghiên cứu nắm
được kiến thức, nội dung, phương pháp của các nghiên cứu đã thực hiện trước
đây; làm rõ hơn đề tài nghiên cứu
của mình; giúp
người nghiên cứu có phương pháp luận hay luận cứ chặt chẽ hơn, có thêm kiến thức rộng, sâu về
lĩnh vực đang nghiên cứu, phát hiện những vấn đề còn tồn tại,
chưa hoàn thiện, chưa giải quyết vấn đề… của những nghiên cứu trước, hoặc ngược lại, tránh trùng lập với các nội dung mà
các nghiên cứu trước
đã thực hiện.
Vì vậy, tra cứu tài liệu có trước để không mất thời gian, công sức và tài
chính, làm lại cái đã được thực hiện. Tra cứu tài liệu có trước còn giúp người nghiên cứu có cái
nhìn chung nhất về vấn đề mình đang thực hiện, giúp người nghiên cứu xây dựng
luận cứ (bằng chứng) để chứng minh giả thuyết nghiên cứu v.v…
Việc giữ gìn và phát huy
văn hóa phi vật thể của đồng bào S’tiêng trong bối cảnh mới, cần có sự tham gia của chính cộng đồng S’tiêng.
Hơn ai hết họ là chủ thể của văn hóa và cũng là người lưu giữ các giá trị văn
hóa của dân tộc mình. Cho nên, nếu không có sự tham gia đồng thuận của họ thì chương
trình, dự án khó thành công được.
Giữ gìn và phát huy văn hóa phi vật thể của đồng bào S’tiêng cần được
thực hiện theo lộ trình mang tính
khoa học, phù hợp với điều kiện, yêu cầu của thực tiễn ở mỗi địa phương đặt ra. Trong quá trình thực hiện các kế
hoạch giữ gìn và phát huy văn hóa của người
S’tiêng cần gắn kết với sự theo dõi, giám sát, đánh giá, đồng thời địa phương cũng
có cơ chế phản hội linh hoạt và hiệu quả.
Để làm tốt
việc giữ gìn và phát huy văn hóa phi vật thể của đồng bào S’tiêng, cần tăng cường công tác giáo dục cho
thế hệ trẻ trong việc giữ gìn văn hóa truyền thống của
cha
ông ngay từ trong sinh hoạt gia đình, thấy được văn hóa truyền thống của dân tộc mình. Ngoài
ra cũng cần biết phát huy vai trò và uy tín của già làng, trưởng
bản những mặt tích cực, khắc phục những hạn chế trong
tập quán, phong tục còn lạc hậu để xây dựng đời sống văn hóa mới nhằm giữ gìn và phát
huy văn hóa phi vật thể của đồng bào S’tiêng.
Có như vậy mới góp phần làm phong phú nền văn hóa Việt Nam và cùng cả nước xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Tất cả hoạt
động nghiên cứu tài liệu được ghi chép, phân tích, tổng hợp thành một nghiên
cứu, thể hiện một cái nhìn chung nhất về đề tài nghiên cứu, gọi là “tổng quan
nghiên cứu” và luôn xuất hiện trong mọi hoạt động, thể hiện trong báo cáo của
các nghiên cứu khoa học. Tổng quan cũng là phần quan trọng của luận án - thể
hiện kết quả của một giai đoạn học tập, nghiên cứu bậc học Nghiên cứu sinh, của
một nghiên cứu khoa học.
Tổng
quan nghiên cứu này đã thể hiện một cái nhìn chung nhất về đề tài luận án “Bảo
tồn và phát huy nhạc khí của người S’tiêng ở Bình Phước ”, ở các phương
diện liên quan đến điều kiện địa lý, kinh tế, hoạt động lao động sinh sống,
lịch sử, xã hội, hệ thống văn hóa, tộc người, âm nhạc… của đồng bào S’Tiêng (cũng như cộng
đồng người S’tiêng ở Bình
Phước); về những nghiên cứu nhạc khí, nhạc khí S’tiêng và đặc
biệt là hệ
thống những lý thuyết nghiên cứu tương ứng, làm nền tảng cho đề tài luận án. Có
thể, Tổng quan này đã bỏ sót vài tài liệu, chưa phân tích đến mức chi tiết các
nghiên cứu liên quan… nhưng, Tổng quan nghiên cứu này đã cho một cái nhìn hệ
thống về các phương diện như đã nêu, góp phần quan trọng cho việc thực hiện đề
tài luận án.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO SỬ
DỤNG TRONG CHUYÊN ĐỀ
Tài liệu sách
2.
Phan An (2001), Luật tục S’tiêng và vấn đề đất rừng ở tỉnh
Bình Phước hiện nay, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 1/2001
3.
Chris Barker (2011), Nghiên cứu Văn hóa: lý thuyết và thực hành
(Dịch: Đặng Tuyết Anh), Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội.
4.
Nguyễn Chí Bền (2004), Báo cáo khoa học Vùng văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, hồ sơ
di sản phi vật thể, Cục Di sản, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch.
5.
Lê Hải Đăng (2015), Khảo
về nhạc dân gian S’tiêng, Thông báo khoa học - Viện Âm nhạc số 45 (tháng
8/2015), tr.44 - 62.
6.
Lê Ngọc Hùng (2015), Lịch sử & lý thuyết xã
hội học, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
7.
Bùi Trọng Hiền (2008), Âm
thanh cồng chiêng Tây Nguyên, Thông báo khoa học - Viện Âm nhạc số 31
(tháng 9-11/2010) tr.65 - 83, và 32 (tháng 4/2011), tr.80 - 113.
8.
Bùi Trọng Hiền (2008),
Bài bản và nghệ thuật diễn tấu cồng chiêng Tây Nguyên, Thông báo khoa học -
Viện Âm nhạc số 35 (tháng 4/2012), số 36 (tháng 8/2012), 37 (tháng 12/2012) và
số 38 (tháng 4/2013).
9.
Bùi Trọng Hiền (2021), Âm
nhạc cồng chiêng Tây Nguyên, nxb Văn hóa Dân tộc
10. Oscar
Salemink biên tập và xuất bản (2002), “Tính đa dạng của văn hóa Việt Nam:
những tiếp cận về sự bảo tồn” từ Kỷ yếu hội thảo quốc tế Về “Sự bảo tồn
và phát huy di sản phi vật chất của các dân tộc thiểu số Việt Nam”, tháng
3/1994, UNESCO
11.
Bảo tàng Bình Phước (2013),
Báo cáo tổng hợp chương trình mục tiêu “Khảo sát, nhận dạng âm nhạc của
người S’tiêng Bình Phước”, Sở Văn hóa, Thể thoa và Du lịch tỉnh Bình Phước,
bản đánh máy.
12. Phùng Đăng Quang (2005), Âm nhạc đồng bào S’Tiêng , Nxb Trẻ.
13. Học viện Chính trị quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (2004), Khoa học quản lý, Nxb. Lý luận chính
trị, Hà Nội.
14. Học viện hành chính quốc
gia (1994), Giáo trình về quản lý nhà nước tập III, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội.
15. Hội Đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển Bách
khoa Việt Nam (2005), Từ điển bách khoa
Việt Nam, tập 4, Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội.
16. Khoa
Quản lý kinh tế (Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) (2004), Khoa học quản lý, Nxb. Lý luận chính
trị, Hà Nội.
17.
Phan Hồng Giang, Bùi Hoài Sơn (đồng chủ
biên), Quản lý văn hóa Việt
Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Nxb Chính
trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2012.
18.
Tổng
Cục Thống kê Việt Nam (2020), Niên giám
thống kê 2019, Nxb. Thống
Kê, Hà Nội.
19.
Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1999), Đại từ điển Tiếng Việt,
Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
Tài liệu văn bản nhà nước
1.
Luật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ
sung năm 2009, Nxb Chính trị Quốc gia
2.
UNESCO (2003), Công ước
về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể.
3.
UNESCO
(2005), Công
ước bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa
4.
Từ điển Văn hóa dân gian. nxb VHTT Hà
Nội 2002
Các bài
viết trên internet
1.
Nguyệt
Cát http://binhphuocittpc.gov.vn/ITTPC-Binh-Phuoc/92/1438/10483/66029/Van-hoa-le-hoi/Tim-lai-gia-tri-cho-loai-nhac-cu-co-xua-nhat.aspx truy cập ngày
3/2/2023
2.
Điểu Điều,
“Cần hiểu và viết đúng tên dân tộc S’tiêng”, Báo Bình Phước online, ngày
26/2/21, truy cập ngày 23/3/2023
3.
https://baobinhphuoc.com.vn/news/19/121696/can-hieu-va-viet-dung-ten-dan-toc-s-tieng
4.
Đinh Nho Dương, http://baotangbinhphuoc.org.vn/mot-vai-tim-hieu-ve-am-nhac-truyen-thong-cua-nguoi-xtieng-binh-phuoc truy cập ngày 3/2/2023
5.
Lê Ngọc
Hùng (2016), Tổng quan về lý thuyết cấu trúc - chức năng, Web site Viện
nghiên cứu chính sách và phát triển. Truy cập ngày 30/4/2023
7.
Nguyễn
Ngọc Lương https://vannghebinhphuoc.org.vn/tin-tuc-su-kien/di-san-binh-phuoc-hanh-trinh-di-tim-nhac-cu-da-mat-cua-nguoi-s-tieng-84.html tuy cập ngày 3/2/2023
8.
Tạp chí “Thế giới di sản” https://dantocmiennui.vn/54-dan-toc-viet-nam/goong-chinh-trong-doi-song-cua-nguoi-stieng/165288.html truy cập ngày
3/2/2023
9.
Đình Tâm, https://baobinhphuoc.com.vn/news/19/98899/doc-dao-nhac-cu-truyen-thong-cua-nguoi-stieng truy
cập ngày 3/2/2023
10.
http://www.binhphuocittpc.gov.vn/TrungTamXucTienDauTuBP/92/1438/10483/23701/Van-hoa-le-hoi/Nghe-thuat-trinh-dien-dan-gian-cua-nguoi-S-tieng.aspx truy
cập ngày 26/3/2023
11. https://bptv.vn/news/19/119136/nguoi-bao-ton-nhac-cu-dan-toc-s-tieng truy cập ngày 25/3/2023
12.
Tuệ Diễm (2015), “Hoạt động nghệ thuật biểu diễn thời hội nhập:
quản lý như thế nào”, http://hanoimoi.com.vn.
Phụ lục hình ảnh


[1] Người S’tiêng có một số tên gọi khác như: Xa Điêng, Bù Lơ, Bù
Đek, Bù Biêt, Bù Đip, Bù Lach… Theo danh sách - tên gọi các dân tộc năm 2009 của
chính phủ, tộc danh được ghi là Xtiêng. Trong từ điển S’tiêng - Pháp của ông
R.H.Azémar công bố năm 1886 viết là Stiêng, đây là tên gọi chính thức đầu tiên
của tộc người S’tiêng. Trong từ điển S’tiêng - Pháp năm 1886 không viết chữ
"Xtiêng" và trong hệ thống từ điển S’tiêng – Anh do tác giả Ralph Haupers cũng không viết "Xtiêng". Năm 2018, UBND tỉnh Bình Phước đã công bố Hệ
thống bảng chữ cái và nguyên âm, phụ âm chữ viết của người S’tiêng cũng không
viết chữ "Xtiêng". Ngày 01 tháng 4 năm 2019, Ban Dân tộc tỉnh đã có tờ
trình số 18/TTr-BDT đề nghi điều chỉnh lại cách viết tên thành phần dân tộc từ S’tiêngsang S'tiêng. Đồng thời, do thông báo “Tuyển chọn…” của Sở
Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Phước ghi là “S’tiêng” nên trong thuyết minh sẽ
ghi theo cách này, trừ những tên tài liệu, sách… sẽ được ghi đúng theo tác phẩm
được xuất bản.
[2] Theo số liệu điều tra dân số năm 2019 – Tổng cục Thống
kê, Chính phủ, dân số S'tiêng ở Bình Phước có
96.649 người.
[3] Khảo sát thực
địa của tác giả vào tháng 11 năm 2023.
[4] Những người S’tiêng ở
vùng Brơlâm
[5] “Những hiểu biết về người
S’tiêng và vùng núi Djambra”
[6] Địa lý
[7] Xứ Mọi
[8] Cao nguyên Mọi
[9] Những người rừng Mọi
[10] Những vùng rừng thiêng của
thung lũng Sông Bé
[11] Sông Bé lừng lẫy
[12] Phong tục người S’tiêng
[13] Các nhóm dân tộc thiểu số
ở Việt Nam Cộng Hòa
[14] Đặng Hoành Loan (2015), Hội
thảo khoa học quốc tế “Âm nhạc Dân tộc học”, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt
Nam.
[15] “Music
in Culture and Society” và “Culture and Society in Music” là tựa đề 2 chương của
sách How Musical is man? của John
Blacking (1973), nhà xuất bản University de Washington Press, điều mà Blacking
phát hiện khi ông khảo sát âm nhạc Venda của người Nsengas ở Nam Châu Phi..
[16] John Blacking (1973), How Musical is
man?, Nxb University de Washington
Press, bản tiếng Pháp: “Le sens musical”, Nxb Les éditions de Minuit,1980.
[17] Tô Vũ (1996), Sức sống của Âm nhạc
truyền thống Việt Nam, Nxb Âm nhạc;
- (2002) Âm
nhạc Việt Nam, truyền thống và hiện đại, Viện Âm nhạc – Học viện Âm nhạc Quốc
gia Việt Nam
- Tô Ngọc
Thanh (2000), “Về công tác điều tra, sưu tầm di sản văn hóa phi vật thể”, trích
trong sách: Góp phần nâng cao chất lượng
sưu tầm, nghiên cứu văn hoá văn nghệ dân gian, Nxb. Văn hóa dân tộc, H.
- Nguyễn Thị Mỹ
Liêm (2002) Âm nhạc dân tộc học – phương pháp biện chứng trong nghiên cứu những
truyền thống âm nhạc ngoài nền âm nhạc bác học Châu Âu, tạp chí Nghiên cứu
Âm nhạc (Thông báo khoa học) – Viện Âm Nhạc, Học viện ÂNQGVN (ISSN 1859 –
4360), số 7, trang 150-168
- (2003) “Bảo tồn và phát huy” hay “kế thừa và phát
triển” văn hóa dân tộc trong nền kinh tế thị trường – định hướng xã hội chủ
nghĩa’, Kỷ yếu Hội thảo KH “60 năm
đề cương văn hóa Việt Nam”, Bộ Văn Hoá Thông Tin, Viện Văn hóa Thông tin Việt
Nam, Nxb Sự Thật, trang 267-277.
-
(2014), Phương pháp luận trong nghiên cứu âm nhạc dân
tộc học, tạp chí Lý luận Phê bình Văn học
Nghệ thuật Trung Ương ISSN 0866 - 7349, số 29, trang
49-55;
-
(2018), Bảo tồn di sản âm
nhạc ở các học viện âm nhạc, Thông báo Khoa học, Học viện Âm nhạc Huế, số
2/2018,, (ISSN 2354-1156) trang 96-99…
------------------------------------