PHẠM ĐẮC VY THẢO TIỂU LUẬN TỔNG QUAN _ ĐỀ TÀI LUẬN ÁN BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NHẠC KHÍ NGƯỜI S’TIÊNG TỈNH BÌNH PHƯỚC

  


BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

 

 

PHẠM ĐẮC VY THẢO

 

 

TIỂU LUẬN

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

                                                         

ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

 

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY

NHẠC KHÍ NGƯỜI S’TIÊNG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

 

                                                                   

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ VĂN HÓA

MÃ SỐ:  9229042

                        

 

 

                                                         

 

 

 

 

 

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, THÁNG 8/2024


BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

 

 

PHẠM ĐẮC VY THẢO

 

 

TIỂU LUẬN

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

                                                         

ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

 

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY

NHẠC KHÍ NGƯỜI S’TIÊNG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

 

                                                                   

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ VĂN HÓA

MÃ SỐ:  9229042

                        

 

 

                                                         

 

 

 

 

 

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, THÁNG 8/2024


Ý KIẾN VÀ NHẬN XÉT CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

….……………………………………………………………………………

….……………………………………………………………………………

….……………………………………………………………………………

….……………………………………………………………………………

….……………………………………………………………………………

….……………………………………………………………………………

 

                                                                             Người hướng dẫn khoa học

 

 

 

 

PGS.TS NGUYỄN THỊ MỸ LIÊM

….……………………………………………………………………………

….……………………………………………………………………………

….……………………………………………………………………………

….……………………………………………………………………………

….……………………………………………………………………………

….……………………………………………………………………………

 

                                                                             Người hướng dẫn khoa học

 

 

 

 

                                                                    TS VŨ THỊ PHƯƠNG


Phần 1:

THÔNG TIN CHUNG VỀ CHUYÊN ĐỀ

 

1.      Tên chuyên đề

TỔNG QUAN VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NHẠC KHÍ S’TIÊNG Ở BÌNH PHƯỚC

2.      Mục lục

Phần 1:....................................................................................................... 4

THÔNG TIN CHUNG VỀ CHUYÊN ĐỀ................................................... 4

1.  Tên chuyên đề................................................................................... 4

TỔNG QUAN VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NHẠC KHÍ S’TIÊNG Ở BÌNH PHƯỚC.............................................................................................................. 4

2.  Mục lục............................................................................................. 4

3.  Tóm tắt............................................................................................. 5

4.  Danh mục từ viết tắt, các định nghĩa hay khái niệm thuật ngữ (nếu có). 6

Phần 2: NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ............................................................. 7

2.1 Đặt vấn đề........................................................................................ 7

2.1.1 Giới thiệu................................................................................... 7

2.1.2 Mục tiêu..................................................................................... 7

2.1.3 Nội dung.................................................................................... 7

2.1.4 Giới hạn của chuyên đề (nếu có): Giới hạn về nội dung, lĩnh vực của chuyên đề, không gian, thời gian,…...................................................................... 8

2.1.5 Ý nghĩa: Chuyên đề có ý nghĩ gì về mặt học thuật, đặc biệt liên quan đến nội dung của luận án, của kiến thức cá nhân về lĩnh vực nghiên cứu................... 9

2.1.6 Phương pháp nghiên cứu............................................................. 9

2.2 Kết quả và thảo luận........................................................................ 10

2.2.1. Các công trình nghiên cứu về văn hóa, xã hội người S’tiêng...... 12

2.2.2. Những nghiên cứu, sưu tầm về âm nhạc dân tộc, nhạc khí đồng bào S’Tiêng    18

2.2.3. Nhóm các công trình nghiên cứu lý thuyết về Văn hóa, Quản lý văn hóa, nghiên cứu về lý thuyết âm nhạc, về bảo tồn và phát triển.............................. 21

2.2.4 Những văn bản nhà nước về Quản lý vằn hóa, liên quan đến đề tài 24

2.2.5. Luận giải về sự cần thiết, tính cấp bách, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 27

2.2.6 Những điều rút ra sau khi hệ thống các tài liệu liên quan........... 30

2.3 Kết luận và đề xuất

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO SỬ DỤNG TRONG CHUYÊN ĐỀ 35

Phụ lục hình ảnh....................................................................................... 38


3. Tóm tắt

     Để có một cái nhìn tổng thể về vấn đề nghiên cứu của luận án, trong khuôn khổ thực hiện luận án “Bảo tồn và phát huy giá trị nhạc khí của người S’tiêng Bình Phước”, chuyên đề “Tổng quan vấn đề nghiên cứu của luận án” được thực hiện nhằm khảo sát, phân tích, hệ thống tổng thể những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài; những thành tựu về công tác bảo tồn, phát huy giá trị của nhạc khí người S’tiêng ở Bình Phước; phát hiện những nội dung còn chưa được quan tâm, chưa được sáng tỏ, chưa giải quyết được vấn đề mà đề tài đặt ra để từ đó có những bổ sung, hỗ trợ cho định hướng nghiên cứu của luận án.

 


3.      Danh mục từ viết tắt, các định nghĩa hay khái niệm thuật ngữ (nếu có)

 

ÂNDG

Âm nhạc dân gian

ÂNDT

Âm nhạc dân tộc

ÂNDTH

Âm nhạc dân tộc học

DTTS

Dân tộc thiểu số

UBND

Ủy ban nhân dân


Phần 2: NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ

2.1 Đặt vấn đề

2.1.1 Giới thiệu (Giới thiệu khái quát về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề của chuyên đề; mối quan hệ của chuyên đề với nội dung của luận án).

     Nghệ thuật truyền thống của đồng bào S’tiêng đa dạng, phong phú, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của cộng đồng. Kể từ sau khi các dân tộc thiểu số thuộc 5 tỉnh vùng Tây Nguyên được UNESCO ghi danh “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” vào danh sách “Di sản phi vật thể kiệt tác của nhân loại” (năm 2009) thì hầu hết các cộng đồng dân tộc Tây Nguyên đều tập trung bảo tồn, phát huy âm nhạc cồng chiêng và môi trường tồn tại/diễn tấu/sử dụng cồng chiêng mà bỏ qua rất nhiều thể loại âm nhạc, nhạc khí truyền thống khác. Điều này đưa đến tình trạng mai một nhiều thể loại âm nhạc, nhạc khí truyền thống, không khai thác được giá trị văn hóa của nhạc khí truyền thống dân tộc trong đời sống hiện nay. Điều này đã thúc đẩy chúng tôi thực hiện luận án với đề tài “Bảo tồn và phát huy giá trị nhạc khí của người S’tiêng Bình Phước”.

     Trong khuôn khổ thực hiện luận án “Bảo tồn và phát huy giá trị nhạc khí của người S’tiêng Bình Phước”, chuyên đề “Tổng quan vấn đề nghiên cứu của luận án” là phần không thể thiếu, nhằm khảo sát, phân tích, hệ thống tổng thể những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài; những thành tựu về công tác bảo tồn, phát huy giá trị của nhạc khí người S’tiêng ở Bình Phước; phát hiện những nội dung còn chưa được quan tâm, chưa được sáng tỏ, chưa giải quyết được vấn đề mà đề tài đặt ra để từ đó có những bổ sung, hỗ trợ cho định hướng nghiên cứu của luận án.

2.1.2 Mục tiêu (Nêu mục tiêu cụ thể của chuyên đề)

Khảo cứu các tài liệu có liên quan đến người S’tiêng, văn hóa, âm nhạc truyền thống của người S’tiêng, đặc biệt là công tác bảo tồn, phát huy giá trị nhạc khí của người S’tiêng Bình Phước để có một cái nhìn tổng thể về vấn đề nghiên cứu của luận án “Bảo tồn, phát huy giá trị nhạc khí của người S’tiêng Bình Phước”.

2.1.3 Nội dung (Liệt kê các nội dung chính mà chuyên đề thể hiện)

     + Thu thập, khảo sát, đánh giá thực trạng nghiên cứu về công tác bảo tồn, phát huy giá trị của nhạc khí người S’tiêng ở Bình Phước, trong đó, lần lượt khảo sát thực trạng nghiên cứu nhạc khí của người S’tiêng; những nghiên cứu về công tác bảo tồn và phát huy giá trị của nhạc khí người S’tiêng Bình Phước; những nghiên cứu lý thuyết về công tác bảo tồn, phát huy giá trị nhạc khí dân tộc nói riêng và văn hóa âm nhạc dân tộc nói chung.

     + Phân tích, hệ thống những thành tựu trong các nghiên cứu về công tác bảo tồn, phát huy giá trị của nhạc khí người S’tiêng ở Bình Phước thông qua các tài liệu, tư liệu thu thập được, phát hiện những nội dung còn chưa được quan tâm, chưa được sáng tỏ, chưa giải quyết được vấn đề mà đề tài đặt ra để từ đó có bổ sung, hỗ trợ định hướng cho nghiên cứu của luận án.

     + Tập hợp những lý thuyết, những nghiên cứu ứng dụng lý thuyết liên quan đề tài để làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu đề tài luận án; Xác định cơ sở khoa học/lý luận về công tác bảo tồn, phát huy giá trị nhạc khí S’Tiêng tỉnh Bình Phước để phục vụ cho nghiên cứu, thực hiện luận án.          

2.1.4 Giới hạn của chuyên đề (nếu có): Giới hạn về nội dung, lĩnh vực của chuyên đề, không gian, thời gian,…

Chuyên đề khảo sát tất cả các tài liệu có liên quan đến người S’tiêng, văn hóa, âm nhạc truyền thống của người S’tiêng, đặc biệt là công tác bảo tồn, phát huy giá trị nhạc khí của người S’tiêng Bình Phước mà chúng tôi thu thập được, kể cả những tài liệu ngoài nước, trong nước đã được công bố, xuất bản cũng như tài liệu, tư liệu viết tay/chưa xuất bản, không kể giai đoạn hay thời kỳ lịch sử.

Người S’tiêng có một số tên gọi khác như: Xa Điêng, Bù Lơ, Bù Đek, Bù Biêt, Bù Đip, Bù Lach… Theo danh sách - tên gọi các dân tộc năm 2009 của chính phủ, tộc danh được ghi là Xtiêng. Trong từ điển S’tiêng - Pháp của ông R.H.Azémar công bố năm 1886 viết là Stiêng, đây là tên gọi chính thức đầu tiên của tộc người S’tiêng. Trong từ điển S’tiêng - Pháp năm 1886 không viết chữ "Xtiêng" và trong hệ thống từ điển S’tiêng - Anh do tác giả Ralph Haupers cũng không viết "Xtiêng". Năm 2018, UBND tỉnh Bình Phước đã công bố Hệ thống bảng chữ cái và nguyên âm, phụ âm chữ viết của người S’tiêng cũng không viết chữ "Xtiêng". Ngày 01 tháng 4 năm 2019, Ban Dân tộc tỉnh Bình Phước đã có tờ trình số 18/TTr-BDT đề nghi điều chỉnh lại cách viết tên thành phần dân tộc từ “Xtiêng” thành “S'tiêng”. Theo mong muốn của cộng đồng người S’tiêng ở Bình Phước, trong tiểu luận này (cũng như trong luận án) sẽ luôn thống nhất ghi là “S’tiêng”. Những tên tài liệu, sách… sẽ được ghi đúng theo văn bản gốc đã được công bố, xuất bản. 

2.1.5 Ý nghĩa: Chuyên đề có ý nghĩ gì về mặt học thuật, đặc biệt liên quan đến nội dung của luận án, của kiến thức cá nhân về lĩnh vực nghiên cứu

     - Ý nghĩa khoa học:

     + Là một khảo cứu về công tác bảo tồn, phát huy giá trị nhạc khí của người S’tiêng ở Bình Phước, chuyên đề cung cấp một cái nhìn tổng thể về những nghiên cứu nhạc khí của người S’tiêng; những nghiên cứu lý thuyết về công tác bảo tồn, phát huy giá trị nhạc khí dân tộc nói riêng và văn hóa âm nhạc dân tộc nói chung.

     + Phân tích, hệ thống những thành tựu trong các nghiên cứu về công tác bảo tồn, phát huy giá trị của nhạc khí người S’tiêng ở Bình Phước, phát hiện những nội dung còn chưa được quan tâm, chưa được sáng tỏ, chưa giải quyết được vấn đề mà đề tài đặt ra để từ đó có định hướng cho nghiên cứu của luận án.

     + Chuyên đề sẽ góp phần đưa ra khung lý thuyết, nghiên cứu ứng dụng lý thuyết làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu đề tài luận án; Xác định cơ sở khoa học/lý luận về công tác bảo tồn, phát huy giá trị nhạc khí  S’Tiêng tỉnh Bình Phước, góp phần đưa ra những kiến nghị, giải pháp cho vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị nhạc khí tryền thống dân tộc nói chung và nhạc khí của người S’tiêng nói riêng.

     - Ý nghĩa thực tiễn

     Qua phân tích, hệ thống các nghiên cứu về công tác bảo tồn, phát huy giá trị nhạc khí của người S’tiêng, tiểu luận sẽ nhận diện được những nhiệm vụ cụ thể của công tác này trong đời sống hiện nay; đưa ra những thành tựu cũng như phát hiện những vấn đề chưa làm được, sai sót trong quá trình thực hiện công tác bảo tồn, phát huy hiện nay; phát hiện những vấn đề chưa được nghiên cứu hoặc chưa đưa ra được những kết quả tốt nhất, làm tiền đế, hướng gợi mở luận án cũng như cho những đề tài tiếp sau.

2.1.6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp tư liệu: sưu tầm, tập hợp các tư liệu về lý thuyết cũng như các tư liệu về văn hóa âm nhạc, nhạc khí của dân tộc S’tiêng nói chung và Bình Phước nói riêng; các tư liệu liên quan đang được lưu trữ trong các thư viện, viện nghiên cứu trên cả nước, các thư viện, kho lưu trữ của địa phương tỉnh Bình Phước hoặc các tỉnh bạn, các tủ sách cá nhân, gia đình, của các chuyên gia, nhà nghiên cứu...

            Tư liệu nghiên cứu bao gồm tư liệu chữ viết - in, tư liệu âm thanh, hình ảnh, hình ảnh động… sẽ được phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu giữa các tư liệu; tổng hợp, hệ thống hóa các thể loại, làn điệu âm nhạc, nhạc khí… tài liệu sách in và tài liệu âm thanh, hình ảnh.

            - Phương pháp phân loại và hệ thống hóa, tư liệu hóa: Dựa trên những tư liệu thu thập được và đã được phân tích, tổng hợp, nghiên cứu sẽ sử dụng phương pháp phân loại, hệ thống hóa. Tiểu luận Tổng quan sẽ phân loại đối với những nghiên cứu trong nước và ngoài nước (hoặc tài liệu viết bằng tiếng nước ngoài); phân loại theo thời gian (phân kỳ theo các nhòm: trước năm 1945, giai đoạn 1945-1975 và sau năm 1975 đến nay) không kể bản in hay tư liệu viết tay của cá nhân cung cấp, tư liệu chưa xuất bản được lưu trữ ở các viện nghiên cứu, thư viện, trường…

Đối với các loại hiện vật, nhạc khí sẽ sử dụng phương pháp phân loại nhạc khí của Hornbostel và Curt Sachs (phương pháp của ngành Âm nhạc Dân tộc học); đối với âm thanh âm nhạc sẽ được ký âm trên hệ thống 5 dòng kẻ phương Tây với một số ký hiệu bổ sung để tư liệu hóa.

         Theo những tiêu chí phân loại của các phương pháp phân loại, hệ thống hóa hoặc tư liệu hóa nêu trên sẽ tạo nên sự nhất quán, khoa học trong nghiên cứu.

2.2 Kết quả và thảo luận

         Nhạc khí S’Tiêng không chỉ độc đáo về âm điệu đặc biệt của nó mà còn thể hiện một phần cuộc sống vật chất và tinh thần của người S’tiêng. Ngoài âm thanh cồng chiêng, dân ca, dân nhạc và dân vũ của người S’tiêng cũng rất phát triển và có thể tái hiện cả không gian săn bắn, chiến đấu, làm rẫy và không gian lễ hội của đồng bào. Âm nhạc S’Tiêng nói chung nhạc khí S’Tiêng nói riêng là bản sắc của người S’tiêng, nó gắn bó như máu thịt, làm nên giá trị văn hóa của đồng bào.

Tỉnh Bình Phước có cộng đồng người S’tiêng[1] chiếm 96,20%[2] tổng số người S’tiêng trên cả nước. Riêng xã Thanh An, huyện Hớn Quản, cộng đồng người S’tiêng chiếm 30%[3] dân số của xã. Do vậy, âm nhạc người S’tiêng ở Bình Phước thể hiện hầu hết những đặc trưng của âm nhạc tộc người S’tiêng ở Việt Nam. Âm nhạc của cộng đồng người S’tiêng ở Bình Phước là một bộ phận quan trọng góp phần tạo nên hình hài của nghệ thuật nhạc khí  S’tiêng ở nước ta nói riêng và tạo nên sự phong phú, đa sắc màu của âm nhạc các dân tộc trên đất nước Việt Nam nói chung.

            Cùng với sự thay đổi của hình thức lao động, sản xuất, kinh tế cũng như quá trình toàn cầu hóa, công nghệ hóa, đô thị hóa… đời sống, tín ngưỡng, tập tục của người S’tiêng đã có nhiều thay đổi. Không gian văn hóa, âm nhạc của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên nói chung và của người S’tiêng ở tỉnh Bình Phước đã xuất hiện những biến đổi, cũng như nguy cơ mai một không thể cưỡng lại. Chưa kể, từ sau khi “không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” được UNESCO ghi danh là “Kiệt tác văn hóa phi vật thể” năm 2009 và “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại” sau này, sự quan tâm của chính quyền cũng như cộng đồng người dân đối với âm nhạc cồng chiêng và gần như bỏ quên những thể loại âm nhạc, nhạc khí dân tộc, khiến nhiều nhạc khí, bài bản âm nhạc dân tộc… dần dần bị quên lãng. (Phụ lục ảnh 1 và 2). Gia đình của nghệ nhân có thể dành thời gian và tiền bạc để mua bộ cồng chiêng mới, riêng về những nhạc khí thì nghệ nhân chia sẻ, vật liệu thay thể khó tìm, dẫn đến khó sửa và cứ để đó dần lãng quên và cũng không có người để truyền dạy. Thanh niên hiện tại đi lao động tại các khu công nghiệp tại các tỉnh khác, không còn yêu thích, số thanh niên yêu thích lứa tuổi nhỏ hơn, riêng về nhạc cụ lại không sửa, không tạo mới được nên lâu dần dẫn đến vừa không truyền dạy vừa không tạo mới nhạc khí dẫn đến bị lãng quên, lâu có những nhà nghiên cứu tới khảo sát thì nghệ nhân lấy nhạc cụ đã hỏng ra để minh chứng mẫu, còn thị phạm về nhạc cụ cũng hạn chế. Đó chính là cơ sở thực tiễn thôi thúc việc tìm hiểu, nghiên cứu nhạc khí, dân nhạc của người S’tiêng, công tác bảo tồn, phát huy nhạc khí S’Tiêng ở tỉnh Bình Phước từ góc độ quản lý nhà nước về văn hóa trở nên hết sức cấp thiết và hữu ích trong giai đoạn hiện nay.

Để có một góc nhìn đầy đủ, hệ thống; tổng hợp được những công trình đã nghiên cứu về vấn đề “bảo tồn, phát huy nhạc khí S’Tiêng ở tỉnh Bình Phước từ góc độ quản lý nhà nước về văn hóa”, chuyên đề “tiểu luận Tổng quan vấn đề nghiên cứu” này được thực hiện như sau:

1.      Các công trình nghiên cứu về văn hóa, xã hội người S’tiêng ở Bình Phước

2.      Những sưu tầm, nghiên cứu về âm nhạc dân tộc, nhạc khí truyền thống của người Stiêng

3.      Nhóm các công trình nghiên cứu lý thuyết về Văn hóa, Quản lý văn hóa, nghiên cứu về lý thuyết âm nhạc, về bảo tồn và phát triển

4.      Nhóm các văn bản nhà nước về Quản lý Văn hóa, liên quan đến bảo tồn và phát huy giá trị nhạc khí của người S’tiêng Bình Phước.

2.2.1. Các công trình nghiên cứu về văn hóa, xã hội người S’tiêng

Trước năm 1975, có một số công trình nghiên cứu về các dân tộc bản địa ở miền Nam Việt Nam, trong các công trình này, các tác giả đã đề cập đến những nội dung liên quan đến sự hình thành và phát triển của đời sống vật chất, đời sống văn hóa, tinh thần, xã hội… của người S’tiêng ở Bình Phước, với những công trình đáng chú ý sau đây:

Những ghi chép đầu tiên về người S’tiêng được nhận thấy trong Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện Sử học dịch, Nxb KHXH, Hà  Nội xuất bản năm 1979). Quốc sử quán triều Nguyễn đời Minh Mạng thứ 19, 1820-1838), trong phần ghi chép về sinh hoạt của các "thổ dân"- S'tiêng ở phía Bắc trấn Biên Hòa (vùng đất Phước Long, Bình Phước) viết: "người thổ dân thì không biết chữ, đốt rẫy làm ăn, gác sàn mà ở, không nhớ ngày tháng. Khi gặt hái xong thì hội họp ăn uống, đánh trống, đánh chiêng, cùng nhau vui thích gọi là ngày tết"…

Các học giả phương Tây đầu tiên đề cập đến người S’tiêng là tài liệu nghiên cứu – ghi chép di sản ngôn ngữ của người S’tiêng: Dictionnaire Stieng, trong Excursions et Reconnaissances (Saigon, Imp. Coloniale, T.XII, Mai - Juin 1886) của Azémar H. Năm 1887, cuốn sách này được xuất bản tại Sài Gòn. Bộ từ điển này là cơ sở để tra cứu ngôn ngữ, nghiên cứu các lĩnh vực liên quan đến đời sống xã hội. Trong phần đầu tác phẩm, H.Azémar cho in bài “Les Stiengs de Brolom”[4], viết về đời sống xã hội của tộc người S’tiêng ở vùng Brolom, ghi chép khá nhiều về phong tục của người S’tiêng và cảnh quan vùng cư trú của người S’tiêng vào cuối thế kỷ XIX. Qua đó, phong tục, tập quán của người S’tiêng được phản ánh chuyên sâu, là cơ sở để nghiên cứu về Dân tộc học, Văn hoá học, Âm nhạc Dân tộc học…

            Tiếp đến là bài viết “Reconnaissance Chez les Moi Stieng et Au Environ du Mont Djambra[5], trong tạp chí “La géographie[6] (tom III, No.1, Paris 1901) và công trình Au pays Moi[7], của Marquis Pierre de Barthélémy, (Paris Plon – Nourrit., 2e éd, 1904); Hinterland Moi[8], của Paul Patté, (Paris, Plon - Nourrit, 1906); sách Les jungles Moi[9], của Henri Maitre, (Paris, Edition Larousse, 1912)… là những tác phẩm chuyên khảo đề cập về điều kiện tự nhiên, môi sinh, đời sống, phong tục, xã hội của các tộc người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng cao nguyên nước ta dưới thời Pháp thuộc, trong đó bao gồm cả các dân tộc thiểu số cư trú tại Bình Phước. Phần lớn tác giả mô tả về con người, hoạt động của xã hội tộc người và thế giới quanh họ hết sức tỉ mỉ. Đây là những công trình rất có giá trị để hiểu biết về cao nguyên miền Nam và người S’tiêng và các dân tộc ở vùng cao nguyên Việt Nam. Tuy nhiên, đây là những công trình được viết từ quan điểm của những người thực dân và thể hiện nhiều nhận thức sai về Dân tộc học và Xã hội học…

        Công trình Monographie de la Province de Bien Hoa (BSEI, XI, No., 1901), Les  boisements  de  la  vallée  du  Song-Be[10]  của  tác giả  Gourgand, trong Bulletin Economique de L’Indochine, (No.14, 1903); Le fameux Sông Bé[11] trong Monographie d’une rivière Cochinchinoise của tác giả Baudrit, (BSEI, XI, No.3, 1936) cũng là những công nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, địa chất, sông ngòi, thủy văn… của vùng đất liên quan đến người S’tiêng và những người anh em cộng cư của họ.

            Năm 1951, với công trình “Coutumier Stiengien[12] (Befeo, Tome XLV, Fasc.1, Paris, 1951), tác giả T.Gerber cung cấp cho người đọc một số hiểu biết về luật tục, tư duy xã hội và một số truyền thuyết của người Stiêng. Qua đó đọc giả có cái nhìn toàn cảnh đời sống, quan hệ xã hội, kết cấu xã hội truyền thống được tái hiện, phản ánh nguyên vẹn một xã hội tộc người chịu sự chi phối bởi quan hệ huyết thống, được duy trì và quản lý bằng luật tục.

Trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu của người Pháp và những cuộc khảo sát các nhóm người Stiêng ở phía tây bắc Sài Gòn, năm 1966 các tác giả người Mỹ đã cho xuất bản tập sách dày nhiều chương “Minority Groups in the Republic of Vietnam[13], được biên soạn theo đơn đặt hàng của Bộ quốc phòng Hoa Kỳ. Trong tập sách này, các tác giả đã dành riêng một chương để giới thiệu về người S’tiêng ở Việt Nam với những tổng lược về sự phân bố dân cư, văn hóa, xã hội và tín ngưỡng…

Bên cạnh giới thiệu về văn hóa, cấu trúc xã hội và đặc điểm dân cư, ngôn ngữ đồng bào S’Tiêng, nhiều công trình về ngữ học tiếng S’tiêng đã được công bố và ấn hành, kể cả dự án Latinh hóa tiếng Stiêng. Trong các công trình nghiên cứu chung về các dân tộc ít người ở Tây Nguyên của một số tác giả người Mỹ như Le Bar, Thomas David, Hickeycũng có những nghiên cứu về đồng bào S’Tiêng  nhưng nhìn chung không nhiều cái mới so với các tác giả người Pháp trước đó, ngoại trừ trên lĩnh vực ngôn ngữ, những vấn đề về văn hóa, âm nhạc gần như không còn được quan tâm.

Trước năm 1975, một số công trình nghiên cứu về người S’tiêng và các dân tộc ít người ở Tây Nguyên của các tác giả Việt Nam đã được xuất bản tại Sài Gòn. Tác giả Lưu Ty trong chuyên khảo “Non nước Phước Long” (1972, Sài Gòn) ngoài những ghi chú về lịch sử tộc người đã mô tả nhiều sinh hoạt của người S’tiêng ở tỉnh Phước Long lúc bấy giờ. Tác giả đã mô tả sự kiện tộc người S'tiêng tổ chức lễ hội tại Bù Na (nay thuộc Ấp 3, Xã Đồng Tâm, huyện  Đồng Phú) "Bù Na được chọn làm nơi làm lễ tạ ơn "Lễ An nhàn" đã tập trung hơn 30 làng về làm lễ, họ mang theo gà, vịt, trâu, dê và những ché rượu cần. Trong một không gian náo nhiệt giữa núi rừng hùng vĩ, ban đêm những đám lửa mập mờ được đốt lên, họ nhảy nhót, ca hát vui đùa hết ngày này qua ngày khác đến khi nào gia súc mang theo hết mới thôi. Tiếng la, tiếng hát của người nhậu nhẹt say sưa hòa lẫn với tiếng đờn, kèn và tiếng la rống của thú vật đã biến khu rừng Bù Na trở nên nhộn nhịp, sôi động khác thường”…

Tác giả Cửu Long Giang - Toan Ánh trong sách “Việt Nam Chí Lược” phần “Miền Thượng Cao Nguyên” (Lê Lợi Thư Quán - Sài Gòn 1974) có nêu một tập tục của người S’tiêng trong đó có Lễ cưới: “trong phần các lễ vật nhà trai phải nộp cho nhà gái có "bộ chiêng". Cho thấy, ngoài những tập tục của các dân tộc, tập tục – nghi lễ của người S’tiêng, “chiêng” trong văn hóa S'tiêng không chỉ là nhạc cụ quan trọng, mà nó còn là một thứ tài sản có giá trị, được mang làm lễ vật trong các lễ thức.

Nhìn chung, các công trình trước năm 1975 chủ yếu giới thiệu sơ lược, khái quát về phong tục tập quán của các dân tộc ít người ở Tây Nguyên nói chung và người S’tiêng nói riêng. Phần lớn những tư liệu của các tác giả người Việt là dựa vào các công trình của người Pháp.

Sau năm 1975, tình hình nghiên cứu trong nước đã có những bước phát triển mới và thu được nhiều kết quả đáng kể. Sau những cuộc khảo sát điền dã tại các “pol” (làng) S’tiêng ở xã Dak Nhau, huyện Bù Đăng, tỉnh Sông Bé, kết quả nghiên cứu đã được công bố trên một số tạp chí về quan hệ thân tộc và một số vấn đề xã hội của người S’tiêng.

Năm 1981, trên tạp chí Dân tộc học số 3, có đăng bài “Nhà dài người  Xtiêng” của tác giả Nguyễn Duy Thiệu khái quát các mối quan hệ tình cảm, kinh tế của các gia đình nhỏ để hợp thành một gia đình mở rộng trong ngôi nhà dài một cách khái quát.

Trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 6 (1983) đăng bài viết “Xã hội Xtiêng  qua tài liệu điền dã tại sóc Bom Bo” của Hữu Ứng. Trong tập sách “Các dân tộc ít người ở Việt Nam” và trong “Sổ tay các dân tộc ít người ở Việt Nam” do Viện Dân tộc học ở Hà Nội biên soạn cung cấp cho người đọc các thông tin liên quan đến văn hóa, sinh hoạt kinh tế, phong tục tập quán, tổ chức xã hội… của người S’tiêng.

        Năm 1984, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội cho xuất bản tác phẩm “Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các dân tộc phía Nam), trong đó có công trình nghiên cứu “Dân tộc Xtiêng” của tác giả Diệp Đình Hoa. Qua bài viết, tác giả Diệp Đình Hoa đã đưa ra một bức tranh khái quát về các hoạt động sinh hoạt kinh tế, văn hóa, xã hội và phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ của người S’tiêng. Đặc biệt, tác giả còn đi sâu phân tích những biến đổi văn hóa, xã hội của người S’tiêng từ năm 1975 -1979.

   Tháng 4/1984, Ban Dân tộc học thuộc Viện Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh đã phối hợp với Tỉnh ủy, UBND tỉnh Sông Bé tổ chức một cuộc khảo sát và nghiên cứu các dân tộc ít người trong tỉnh, đặc biệt là cộng đồng người S’tiêng. Đây là đợt khảo sát tương đối rộng và chuyên sâu vào một số vấn đề kinh tế - xã hội của người S’tiêng từ sau năm 1975. Kết quả của đợt nghiên cứu đã được công bố với một số công trình trong tập sách “Vấn đề dân tộc ở Sông Bé” của tập thể tác giả do Mạc Đường chủ biên và nhà xuất bản Tổng hợp Sông Bé ấn hành năm 1985. Tập sách đã bổ sung và hệ thống một số tài liệu điều tra, phân tích khoa học về người S’tiêng ở Sông Bé, góp phần làm sáng tỏ thêm nhiều khía cạnh văn hóa, kinh tế, xã hội của người S’tiêng.

Năm 1991, nhà xuất bản Tổng hợp Sông Bé đã ấn hành “Địa chí tỉnh Sông Bé”. Trong công trình nghiên cứu này còn có bài viết “Miền núi tỉnh Sông Bé: Lịch sử phát triển xã hội và đời sống các dân tộc” của tác giả Mạc Đường, đề cập đến các đặc điểm kinh tế -xã hội, về điểm xuất phát và con đường phát triển xã hội của người S’tiêng cũng như các dân tộc miền núi tỉnh Sông Bé. Cũng trong thời gian này, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Sông Bé đã cho xuất bản công trình nghiên cứu “Địa chí tỉnh Sông Bé” do nhà báo –nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng chủ biên.

Trên tạp chí Dân tộc học số 3, năm 1991 đăng bài viết của tác giả Trần Tất Chủng - “Góp thêm tài liệu nghiên cứu về người S’tiêng”. Bài viết đã giới thiệu một số kết quả điều tra điền dã của các tác giả tại hai “pol” S’tiêng thuộc hai vùng  Bù Lơ và Bù Đek.

Cũng năm 1992, trên cơ sở các tài liệu, tư liệu, các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, đặc biệt là những sưu tập trong các đợt điều tra  điền dã ở nhiều vùng cư trú của người S’tiêng ở các huyện phía Bắc tỉnh Sông Bé, tác giả Phan An đã tổng hợp và công bố công trình nghiên cứu-luận án Tiến sĩ khoa học Lịch sử “Hệ thống xã hội tộc người S’tiêng ở Việt Nam: từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1975”. Đây là công trình nghiên cứu khá toàn diện về mọi mặt đời sống xã hội của người S’tiêng tại các huyện phía Bắc tỉnh Sông Bé (Bình Phước ngày nay). Trong đó, tác giả tập trung nghiên cứu về những yếu tố và các quan hệ cấu thành hệ thống xã hội tộc người của người S’tiêng và xem xét nó trong mối quan hệ hữu cơ với cơ sở tồn tại của tộc người S’tiêng như môi sinh tộc người, các hoạt động kinh tế, đời sống văn hóa vật chất và tinh thần… Đặc biệt, tác giả Phan An còn đi sâu phân tích quan hệ thân thuộc, các dạng tập hợp người của xã hội người S’tiêng. Công trình nghiên cứu của tác giả là nguồn tài liệu phong phú, quý giá để người viết tham khảo khi thực hiện đề tài.

         Năm 2001, trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 1 có đăng bài viết Luật tục S’tiêng và vấn đề đất rừng ở tỉnh Bình Phước hiện nay của tác giả Phan An. Năm 2002, Nhà xuất bản Thông tấn phát hành cuốn sách “Việt Nam hình ảnh cộng đồng 54 dân tộc”, trong đó có giới thiệu sơ nét về văn hóa vật chất và tinh thần của người Stiêng.

Năm 2003, nhà văn Nguyên Ngọc sau khi khảo sát vùng đất Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, ông đã dịch từ nguyên bản tiếng Pháp sách Populations Montagnardes du sud- Indochinois (Pél msien)  (Tạp chí France –Asie số 49-50, số đặc biệt mùa xuân năm 1950) của tác giả Dam Bo (bút danh của Jacques  Dourmes), với tựa đề “Miền đất huyền ảo” (Các dân tộc miền núi Nam Đông Dương) (nhà xuất bản Hội nhà văn). Sách giới thiệu vùng đất với những điều huyền ảo, những nghi lễ tín ngưỡng, tập tục…

          Năm 2004, trên cơ sở các công trình nghiên cứu trước đó của nước ngoài và kết quả của các đợt khảo sát điền dã, hai tác giả Ngô Đức Thịnh và Ngô Văn Lý đã công bố công trình nghiên cứu “Luật tục các dân tộc Nam Tây Nguyên”. Công trình này đã được nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc xuất bản. Đây là công trình nghiên cứu quy mô và tương đối đầy đủ về luật tục của các dân tộc thiểu số Nam Tây Nguyên, trong đó có người S’tiêng.

Năm 2010, tác giả Ngô Quang Hưng đã sưu tập và biên soạn tác phẩm “Tìm hiểu văn hóa tín ngưỡng và lễ hội vùng dân tộc thiểu số”, do nhà xuất bản Văn hoá Thông tin xuất bản, cũng ghi nhận những nét văn hóa truyền thống của người S’tiêng như trang phục, nhà ở, hôn nhân

Năm 2011, trên tạp chí văn hóa nghệ thuật, Bộ văn hóa thông tin và du lịch, số 324 có đăng bài viết của tác giả Trần Văn Ánh ghi nhận “Một số biến đổi văn hóa của người Xtiêng ở Bình Phước”. Trong bài viết này, tác giả đề cấp đến những biến đổi về ngôn ngữ, tín ngưỡng của người S’tiêng trong những năm gần đây. Bên cạnh đó, còn có công trình nghiên cứu văn hóa tín ngưỡng, luật tục và thông qua các luật tục, các tác giả còn làm rõ về tổ chức xã hội, các tầng lớp cũng như những mối quan hệ xã hội trong các “pol”, “sóc” của người S’tiêng.

Năm 2020, tác giả Nguyễn Thị Ngọc Dung với đề tài luận án Tiến sĩ đã nghiên cứu và trình bày hệ thống, cụ thể toàn diện về âm nhạc người S’tiêng ở Bình Phước.

Những bài viết, tác phẩm và công trình nghiên cứu trên đã phản ánh, phục dựng toàn cảnh bức tranh sinh hoạt của cộng đồng tộc người S’tiêng về vùng cư trú, lịch sử tộc người, ngôn ngữ tộc người, cơ cấu tổ chức xã hội, quan hệ tộc người và đặc trưng của xã hội tộc người. Những công trình này đã nhìn nhận văn hóa người S’tiêng mang tính bản địa, nhân văn đặc sắc. Nhìn chung, đã có rất nhiều nghiên cứu về người S’tiêng, những công trình này đã khảo sát về đời sống kinh tế, lao động, văn hóa, xã hội, luật tục, tập quán, sinh hoạt của người S’tiêng… nhưng hầu hết đều ít bàn đến âm nhạc, nhạc khí nếu có thì chỉ là những thông tin ít ỏi, dung lượng không đáng kể, thể hiện âm nhạc, nhạc khí xuất hiện trong đời sống như những chi tiết cần - đủ của một tổng thể. Như vậy, những công trình này càng không có những qua tâm đến bảo tồn, phát huy nhạc khí dân tộc S’tiêng trong đời sống.

2.2.2. Những nghiên cứu, sưu tầm về âm nhạc dân tộc, nhạc khí đồng bào S’Tiêng

Những công trình nghiên cứu về âm nhạc, nhạc khí đồng bào S’Tiêng nói chung và ở Bình Phước nói riêng chủ yếu nêu lên kết quả sưu tầm, thu thập bài bản âm nhạc, những nhạc khí đơn giản; kết quả của các cuộc điền dã thu thập nhạc khí và bài bản diễn tấu nhạc khí.

Năm 1984, Lê Huy - Huy Trân, hai nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc đã cho xuất bản sách Nhạc khí dân tộc Việt Nam (Nhà xuất bản Văn hóa). Sách giới thiệu hệ thống nhạc khí theo lối phân chia tổ bộ của các nhạc khí trong dàn nhạc giao hưởng phương Tây với chủ yếu là các nhạc khí của người Việt, một số ít nhạc khí của các dân tộc Tây Nguyên như Jrai, Bana, Ê Đê… mà chủ yếu là các nhạc khí đồng dạng như K’long but, T’rưng, đàn đá, tù và sừng trâu, cồng chiêng… Với phương pháp nghiên cứu của ngành Âm nhạc học, mỗi nhạc khí được giới thiệu theo cấu trúc: mô tả, âm sắc, tầm âm, thang âm và cách diễn tấu mà bỏ qua những yếu tố cơ bản của nhạc khí dân tộc là môi trường sản sinh và tồn tại, tính nguyên hợp và tính diễn xướng… Do vậy, nhạc khí dân tộc được giới thiệu chủ yếu là những nhạc khí biểu diễn trên sân khấu chuyên nghiệp, không có mối quan hệ với đời sống, không gian văn hóa, tín ngưỡng của tộc người.

Năm 1993, Vũ Hồng Thịnh và Bùi Lẫm công bố bài viết “Thang âm trong các bộ cồng chiêng của dân tộc Xtiêng Sông Bé” trong sách Thang âm Điệu thức trong âm nhạc truyền thống một số dân tộc miền Nam Việt Nam do Viện Văn hóa Nghệ thuật tại Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản (nhiều tác giả). Đây là một trong những tài liệu đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về âm nhạc cồng chiêng đồng bào S’Tiêng  được công bố. Bài viết là một công trình nghiên cứu, khảo tả các bộ cồng chiêng của người S’tiêng sau 5 chuyến khảo sát ở Sông Bé - Bình Phước (Lộc Ninh, Bình Long, Đồng Phú, Phước Long và Bù Đăng), họ sưu tầm, làm việc tiếp xúc với hơn 300 nghệ nhân, khảo sát và ghi âm thanh của 96 bộ cồng chiêng… Năm 1995, Vũ Hồng Thịnh và Bùi Lẫm xuất bản sách “Nghệ thuật cồng chiêng dân tộc Xtiêng tỉnh Sông Bé” (Sở Văn hóa – Thông tin Sông Bé xuất bản, năm 1995) là sự tổng kết, mở rộng kết quả của nhiều năm sưu tầm, điền dã, nghiên cứu trước đó của các nhạc sĩ khi công tác tại viện Âm nhạc. Ngoài giới thiệu, mô tả các dàn cồng chiêng của đồng bào S’Tiêng, sách nêu rõ màu âm, kỹ thuật diễn tấu và nhiều phân tích về thang âm, cũng như ghi chép bài bản... âm nhạc cồng chiêng. Những ghi chép này hết sức có giá trị về mặt tư liệu, là những tài liệu đầu tiên chuyên sâu về âm nhạc, về cồng chiêng của người S’tiêng ở Bình Phước, là những căn cứ khoa học cho những nghiên cứu so sánh tiếp sau nhất là trong tình hình hiện nay, những nghệ nhân, nhiều bộ cồng chiêng của tỉnh Bình Phước đã không còn... Tuy nhiên, tài liệu này cũng ít bàn tới không gian văn hóa mà cồng chiêng tồn tại.

Cùng năm 1995, giáo sư Tô Ngọc Thanh xuất bản sách Giới thiệu một số nhạc cụ dân tộc thiểu số Việt Nam (Nhà xuất bản Văn Nghệ - Trung tâm Văn hóa Thành Phố Hồ Chí Minh, năm 1995), giới thiệu 31 nhạc cụ các dân tộc thiểu số. Trong tác phẩm, giáo sư có nhắc đến cách phân loại nhạc khí được sử dụng là của Curt Sachs và E. M. Hornbostel (“Systematik Der Musikinstrument” Zeitschrift Fur Ethnologie. XLVi, 1914). Đây là cách phân loại tiên tiến và hiện đại được các nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc trên thế giới cũng như UNESCO công nhận và sử dụng. Tuy nhiên, số lượng nhạc cụ của các dân tộc Tây Nguyên được giới thiệu trong tập sách không nhiều và là nhạc cụ đồng dạng của nhiều dân tộc. Trong số đó, sách không nêu cụ thể nhạc cụ nào của người S’tiêng.

Nguyễn Thành Đức trong tác phẩm Múa dân gian các tộc người Mạ, Choro, Xtiêng vùng Đông Nam Bộ (nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2004) cũng có nêu vài chi tiết về âm nhạc, ký âm những tiết tấu cơ bản của động tác Múa. Do vậy, âm nhạc không được bàn sâu, nhạc khí cũng chỉ được giới thiệu chung chung, là công cụ tạo nên tiết cấu – âm nhạc cho múa.

          Năm 2005, Phùng Đăng Quang cho xuất bản công trình “Nhạc khí đồng bào S’Tiêng ” (Nhà xuất bản Trẻ) cũng chính là luận văn thạc sĩ của ông, được thực hiện tại Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh trong 3 năm trước đó. Sách là một nghiên cứu nghiêm túc, giới thiệu những kết quả sưu tầm, điền dã ở các huyện Phước Long, Bình Long, Bù Đăng, Bù Đốp của tỉnh Bình Phước và một số địa phương khác. Công trình nghiên cứu đã được thực hiện theo phương pháp Âm nhạc Dân tộc học (Ethnomusicology), phân loại nhạc khí theo lý thuyết của Curt Sachs và E. M. Hornbostel, giới thiệu nhạc khí hết sức chi tiết từ hình thức, cấu trúc, màu âm, thang âm, kỹ thuật diễn tấu, vai trò trong đời sống cộng đồng… Cùng với đó, sách cũng nêu khá nhiều bản ký âm dân ca có sử dụng nhạc khí và 3 bài cồng chiêng. Tuy nhiên sách vẫn chưa lưu ý vấn đề chế tác nhạc khí cũng như ý nghĩa của nhạc khí trong đời sống tâm linh đồng bào S’Tiêng. Đây là những nội dung quan trọng trong nghiên cứu âm nhạc - nhạc khí các dân tộc theo lý thuyết nghiên cứu của ngành Âm nhạc dân tộc học. Mặt khác, những chi tiết, thông tin về nơi sưu tầm, những nghệ nhân thể hiện hoặc những thông tin về phương tiện thực hiện sưu tầm điền dã đều không được nêu trong tập sách (kể cả ở phần phụ lục). Đây là những chi tiết khiến những nghiên cứu tiếp sau hoặc những khảo cứu đối với tập sách thiếu cơ sở khoa học.

Năm 2005, trong dự án Công bố, phổ biến tài sản văn hóa, văn nghệ dân gian Việt Nam của Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, sách Văn hóa người Xtiêng của nhóm tác giả Huỳnh Văn Tới, Phan Đình Dũng - Phạm Hữu Hiền đã được ấn hành (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, năm 2015). Trong 167 trang sách, nhóm tác giả đã dành 18 trang cho âm nhạc người Xtiêng (chương 7 “Loại hình nhạc cụ, dân ca”). Số trang quá ít, không có một bản ký âm (chỉ vài bài hát được ghi chép lời) không có hình ảnh nhạc cụ nên việc giới thiệu âm nhạc cũng như nhạc cụ người S’tiêng của tài liệu này trở nên sơ lược và gần như chỉ là những liệt kê, gọi tên.

Trên cổng thông tin điện tử của tỉnh Bình Phước, website của Bảo tàng tỉnh, Đài Phát thanh - Truyền hình và Báo Bình Phước, website của một số Sở, Ban, Ngành của tỉnh Bình Phước đều có nhiều trang viết giới thiệu văn hóa âm nhạc các tộc người ở Tỉnh. Trong các giới thiệu này đều có khảo tả về âm nhạc, về dân ca, dân nhạc hay nhạc khí của đồng bào S’Tiêng  ở Bình Phước. Những bài viết này không nêu rõ nguồn, không nêu xuất xứ hoặc thông tin được sưu tầm từ đâu, do ai… nên rất khó cho việc khảo cứu.

            Có thể thấy, những nghiên cứu chuyên sâu về dân ca, dân nhạc, nhạc khí đồng bào S’Tiêng  nói chung và ở Bình Phước nói riêng đã bước đầu được thực hiện ở nước ta. Đây là cơ sở cho những công trình khảo cứu, nghiên cứu sau này. Tuy nhiên, số lượng, dữ liệu được công bố chưa nhiều, chưa phản ánh đúng thực tế âm nhạc cũng như chất lượng dữ liệu cũng chưa đúng theo những yêu cầu về mặt khoa học của chuyên ngành Âm nhạc Dân tộc học thế giới hoặc các tiêu chí của UNESCO.

2.2.3. Nhóm các công trình nghiên cứu lý thuyết về Văn hóa, Quản lý văn hóa, nghiên cứu về lý thuyết âm nhạc, về bảo tồn và phát triển

2.2.3.1 Nghiên cứu lý thuyết về văn hóa, quản lý văn hóa

Nhều tác giả trong công trình Văn hóa học - Những phương pháp nghiên cứu, được Viện Văn hóa - Thông tin dịch, Nguyễn Chí Bền chịu trách nhiệm xuất bản, Từ Thị Loan biên tập. Trong đó, Donald A. Macdonald với bài nghiên cứu “Điền dã: sưu tầm văn học truyền miệng” và Bryman với bài nghiên cứu “Phỏng vấn trong nghiên cứu định tính” (Viện Văn hóa - Thông tin, 2007).  Hai bài nghiên cứu này đã cung cấp lý thuyết và phương pháp nghiên cứu cần thiết nhất, do đó để thực hiện đề tài chúng tôi thực hiện phương pháp nghiên cứu định tính.

Chris Barker với công trình Nghiên cứu văn hóa lý thuyết và thực hành, đã được Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam dịch, Lê Tiến Dũng chịu trách nhiệm xuất bản, Vũ Thanh Việt và Nguyễn Chí Bền chịu trách nhiệm bản thảo, Phan Thanh Nhàn và Phạm Lan Oanh biên tập, Nxb Văn hóa Thông tin. Sách gồm có ba phần: Văn hóa và nghiên cứu văn hóa. Bối cảnh thay đổi của nghiên cứu văn hóa; Những vấn đề của nghiên cứu văn hóa (Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, 2011).. Tài liệu này cung cấp những vấn đề cơ bản cho luận án, cung cấp những góc tiếp cận cho đề tài

Bên cạnh đó, chúng tôi còn tiếp cận các công trình lý thuyết và phương pháp của ngành nhân học bổ trợ cho công trình nghiên cứu luận án như H. Russel Bernard (2009), Research methods in anthropology: Qualitative and Quantitative Approaches -  các phương pháp nghiên cứu trong nhân học - tiếp cận đính tính và định lượng, đã được Hoàng Trọng, Ngô Thị Phương Lan, Trương Thị Thu Hằng dijhc, NXB đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh năm 2009 (H.Rusel Bernard, 2009). Các nội dung nghiên cứu sinh chú ý gồm: quan sát, ghi chép điền dã, phỏng vấn, bảng hỏi…

2.2.3.2 Những nghiên cứu lý thuyết về âm nhạc dân tộc học, về bảo tồn và phát triển âm nhạc dân tộc

          Ở Việt Nam, từ giữa thập niên 50 của thế kỷ XX trở về sau, việc nghiên cứu âm nhạc dân tộc bắt đầu được Đảng và Nhà nước quan tâm, chỉ đạo thực hiện. Chúng ta đã sưu tầm, gìn giữ, công bố, phổ biến, cải biên, phát triển hàng ngàn bài dân ca, hàng trăm nhạc khí dân tộc khác nhau (đàn t’rưng, đàn đá, đàn bầu, đàn tranh…) nhưng đến những năm cuối thế kỷ XX đầu XXI, thuật ngữ Âm nhạc Dân tộc học (Ethnomusicology) mới được sử dụng trong giới nghiên cứu. Các nghiên cứu của Hoàng Yến, Nguyễn Xuân Khoát, Tô Vũ, Lưu Hữu Phước, Tú Ngọc, Tô Ngọc Thanh…từ đầu thế kỷ XX đến trước năm 1975 đều mang dáng dấp là những nghiên cứu Âm nhạc Dân tộc học, nhưng, hầu hết các nhà nghiên cứu, trong các tác phẩm, đều không nhắc đến lý thuyết, phương pháp luận được sử dụng là của ngành Âm nhạc Dân tộc học. Điều này do Âm nhạc Dân tộc học là một chuyên ngành được ra đời muộn, vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và chỉ được định danh vào năm 1955 sau hội nghị thành lập tại Philadelphia… Đến sau năm 2000, thuật ngữ cùng với lý thuyết, phương pháp nghiên cứu Âm nhạc Dân tộc học mới dần được phổ biến tại Việt Nam[14]. Chưa kể, việc tham gia Hội đồng Âm nhạc truyền thống (ICTM- International Council of Traditional Music) hoặc thực hiện theo những khuyến cáo của các công ước quốc tế về bảo tồn, phát huy âm nhạc dân tộc nói riêng, di sản văn hóa cổ truyền nói chung của giới nghiên cứu Việt Nam đều rất muộn.

         Từ sau nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam và những chính sách cụ thể của Nhà nước về “bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc”, công tác nghiên cứu âm nhạc dân tộc, việc bảo tồn phát huy âm nhạc dân tộc bắt đầu có những bước tiến mới. Trên cơ sở những tiếp cận với những nghiên cứu âm nhạc dân tộc trên thế giới, giới nghiên cứu bắt đầu quan tâm đến lý thuyết cũng như phương pháp nghiên cứu, vấn đề bảo tồn và phát triển âm nhạc dân tộc ở Việt Nam. Những nhà nghiên cứu âm nhạc Việt Nam bắt đầu tiếp cận lý thuyết và phương pháp của ngành Âm nhạc Dân tộc học từ sách Theory and Method in  Ethnomusicology của Bruno Nellt (The Free Press of Glecoe Collier-Macmillan Limited, London 1964). Nellt giới thiệu từ khái niệm của thuật ngữ Âm nhạc Dân tộc học, đến hệ thống các phương pháp nghiên cứu và khắng định quan điểm nghiên cứu: “âm nhạc trong nghiên cứu của ngành Âm nhạc dân tộc học luôn phải đặt trong bối cảnh văn hóa và liên hệ với cộng đồng dân tộc”. Cùng quan điểm và phương pháp nghiên cứu này, John Blacking khẳng định: âm nhạc luôn được đặt trong mối quan hệ “âm nhạc trong văn hóa, xã hội” và “văn hóa, xã hội trong âm nhạc[15]. Điều mà John Blacking gởi gắm trong tác phẩm “Ý nghĩa của Âm nhạc[16] của mình và rút ra kết luận là: nghiên cứu âm nhạc không chỉ nghiên cứu, giải thích thang âm, điệu thức, hình thức, tổ chức của âm thanh, cách trình bày, thể hiện… Ông gọi đó là thái độ giải thích “cấu trúc bề mặt” của tác phẩm âm nhạc. Nghiên cứu âm nhạc phải cần đến việc tìm hiểu “cấu trúc bên trong”, cái sinh ra âm nhạc…

            Cùng quan điểm với những tác giả này là nhiều tác giả khác nhau như Merriam, Alan P. (người Mỹ) trong bài viết “Ethnomusicology, discussion and definition of the field” (Ethnomusicology 4:107-114, 1954) và sách Anthropology of music (Northwestern University Press, USA, 1964) hay J.J Nattier, H. Mantle; W. Wiora… cũng đều có những trước tác đưa ra nhiều trường hợp điển hình, nhiều thể loại âm nhạc dân tộc của các nước được nghiên cứu theo quan điểm này. Các nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc như Tô Vũ, Tô Ngọc Thanh, Lưu Hữu Phước, Đặng Hoành Loan, Nguyễn Thị Mỹ Liêm… trong nhiều tài liệu, bài viết khác nhau đã có những kế thừa, tiếp thu quan điểm nghiên cứu của các trường phái âm nhạc dân tộc học thế giới. Bên cạnh đó, những bài viết này cũng đặt vấn đề bảo tồn và phát triển âm nhạc dân tộc trong hiện nay[17].

2.2.4 Những văn bản nhà nước về Quản lý văn hóa, liên quan đến đề tài

2.2.4.1 Văn bản liên quan đề tài

Quyết định Số: 125/2007/QĐ-TTg ngày 31/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hoá giai đoạn 2006 – 2010.

Quyết định số 1270/QĐ-TTg ngày 27/7/2011 của Thủ tướng chính phủ về việc Phê duyệt đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020”.

Quyết định số 1211/QĐ-TTg ngày 5/9/2012 về việc Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn 2012 – 2015.

Thông tư số 12/2014/TT-BVHTTDL quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc

Ngày 18/01/2019, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định số 209/QĐ-BVHTTDL về việc phê duyệt Đề án Bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số Việt Nam trong giai đoạn nay

Quyết định 1662/QĐ-BVHTTDL năm 2020 ngày 17 tháng 6 về tổ chức xây dựng mô hình bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với xây dựng nông thôn mới

Quyết định số 3666/ QĐ-BVHTTDL năm 2020, ngày 07 tháng 12 về phê duyệt đề án “tổ chức định kỳ ngày hội, giao lưu, liên hoan văn hóa, thể thao và du lịch vùng đồng bào các dân tộc thiểu số theo khu vực và toàn quốc giai đoạn 2021 - 2030”.

Nghị quyết số 120/2020/QH14 về phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030 được đồng bộ, kịp thời, thống nhất và có hiệu quả.

Quyết định số 1719/QĐ-TTg, ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030 Giai đoạn I, từ năm 2021 đến hết năm 2025, Chương trình sẽ triển khai thực hiện đồng bộ 10 dự án, trong đó có Dự án 6: Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch

Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 được Ban hành theo Quyết định số 1909/QĐ-TTg, ngày 12-11-2021 của Thủ tướng Chính phủ Kết luận số 76/KL-TW ngày 4/6/2020 của Bộ Chính trị khóa XII về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, các chương trình hành động của Chính phủ và của tỉnh về thực hiện Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2020-2025,

Chương trình hành động số 17-CTr/TU ngày 30/9/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về “Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, nhiệm kỳ 2021-2026 và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Phước lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020-2025”. Chú trọng phát triển văn hóa để trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, con người được đặt vào vị trí trung tâm, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình phát triển. Tăng cường giáo dục truyền thống, khơi dậy lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước; giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Chú trọng xây dựng môi trường văn hóa, đạo đức, xã hội lành mạnh, không ngừng cải thiện toàn diện đời sống tinh thần cho nhân dân. Ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực và các tệ nạn xã hội.

Tập trung phổ biến, quán triệt quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện Kết luận số 76-KL/TW ngày 4/6/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW gắn với tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh giai đoạn 2020 -2025 và thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (các khóa XI, XII, XIII).

Quyết định số 1909/QĐ-TTg ngày 12/11/2021 Chính phủ ban hành phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030, là “Bảo vệ và phát huy di sản văn hóa dân tộc

 Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 10/9/2021 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh triển khai Chiến lược văn hóa đối ngoại của Việt Nam

Công văn số 677/HD-BVHTTDL ngày 3/3/2022 hướng dẫn triển khai thực hiện dự án “Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch” thuộc chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030.

          2.2.4.2 Thực hiện các văn bản của Bình Phước

*Văn bản của tỉnh ủy Bình Phước

Để triển khai các văn bản của Trung ương và nội dung văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Phước lần thứ VII, thứ VIII và IX. Tỉnh ủy Bình Phước đã ban hành nhiều văn bản về phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Phước nói chung, về phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số nói riêng, công tác dân tộc, về việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững.

 Nghị quyết số 07/NQ-TU ngày 30/10/1998 của Tỉnh ủy về phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi – dân tộc tỉnh Bình Phước.

Chương trình hành động số 20/CTr/TU ngày 16/6/2003 của Tỉnh ủy 44 về thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX về “công tác dân tộc”.

*Văn bản của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước

Kế hoạch số 41/KH-UBND ngày 21/02/2014 của UBND tỉnh về việc triển khai Chiến lược và Chương trình hành động thực hiện chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020.

Kế hoạch số 42/KH-UBND ngày 02/3/2015 của UBND tỉnh về triển khai thực hiện Chỉ thị số 28/CT-TTg ngày 10/9/2014 của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc.

Về công tác bảo tồn di sản văn hóa các DTTS, ngoài một số nội dung được trình bày trong các văn bản về phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS, UBND tỉnh Bình Phước đã có một số văn bản riêng:

Kế hoạch số 39/KH-UBND ngày 24/02/2015 về Kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh Bình Phước.

Kế hoạch số 81/KH-UBND ngày 08/4/2015 thực hiện Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các DTTS Việt Nam đến năm 2020” trên địa bàn tỉnh Bình Phước.

Quyết định số 24/2017/QĐ-UBND ngày 05/6/2017 của UBND tỉnh về việc ban hành quy định thực hiện chính sách đối với già làng tiêu biểu xuất sắc trong đồng bào các DTTS trên địa bàn tỉnh Bình Phước.

Quyết định số 51/2017/QĐ-UBND ngày 15/10/2017 của UBND tỉnh về việc phát triển Khu bảo tồn văn hóa dân tộc sóc Bom Bo giai đoạn 2018- 2020. Tất cả các văn bản của UBND tỉnh Bình Phước tập trung vào việc tăng cường QLNN đối với công tác bảo tồn di sản văn hóa các DTTS, trong đó có 46 dân tộc, gắn công tác này với việc phát triển kinh tê – xã hội của địa phương và nâng cao đời sống cho nhân dân.

Trong văn kiện Đại hội Đảng bộ lần thứ XI của tỉnh Bình Phước, nhiệm kỳ 2020 – 2025 đã đề ra mục tiêu, nhiệm vụ phát triển lĩnh vực văn hóa đó là, đầu tư, quản lý và sử dụng hiệu quả các thiết chế văn hóa, thể thao. Ngày 14/8/2017 Tỉnh ủy đã ban hành chỉ thị số 26-CT/TU về việc tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với công tác giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc thiểu số, các di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh.

Kế hoạch số 291/KH-UBND về triển khai Đề án Chương trình hoạt động văn hóa, nghệ thuật phục vụ vùng xâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2021 – 2025 trên địa bàn tỉnh Bình Phước

2.2.5. Luận giải về sự cần thiết, tính cấp bách, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Đồng bào S’Tiêng là một trong những dân tộc đã có lịch sử và cư trú ở Bình Phước lâu đời. Âm nhạc của họ cũng đã được sinh ra, định hình và lưu truyền cùng với quá trình xây dựng, phát triển của cộng đồng dân tộc. Theo điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người S’tiêng ở Bình Phước chiếm số lượng hơn 90% so với tổng số cộng đồng đồng bào S’Tiêng  ở Việt Nam, họ chính là cộng đồng lưu giữ, truyền bá âm nhạc, nhạc khí dân tộc trong quá khứ cũng như tương lai của đồng bào S’Tiêng. Trong những sinh hoạt, các lễ hội truyền thống của cộng đồng, âm nhạc nhạc khí chính là yếu tố quan trọng, không thể thiếu. Âm nhạc, nhạc khí dân tộc còn là món ăn tinh thần, có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng tính cách, phẩm chất, tâm hồn cho mỗi người dân S’tiêng nói riêng và mỗi con người Việt Nam nói chung; âm nhạc, nhạc khí phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ chính trị, đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững xã hội, là phương tiện giáo dục, tập hợp và cố kết cộng đồng…

Trong tình hình đời sống, kinh tế, lao động sản xuất, hoạt động xã hội có nhiểu biến đổi như hiện hay, chắc chắn âm nhạc của dân tộc S’Tiêng cũng chịu tác động. Những tiếp thu, biến đổi của âm nhạc dân tộc cổ truyền trong đời sống hiện nay của âm nhạc không phải là vấn đề của riêng cộng đồng người S’tiêng mà là của toàn xã hội. Trong hội thảo quốc tế “Âm nhạc dân tộc cổ truyền trong bối cảnh toàn cầu hóa” (2004), GS.TSKH Tô Ngọc Thanh khẳng định: “Nếu để nền âm nhạc ấy bị mai một, vô hình trung chúng ta đã làm mất đi chân dung của dân tộc mình”. Ngay từ Đề cương Văn hóa của Đảng năm 1943 đến định hướng cụ thể trong giai đoạn hội nhập hiện nay, Đảng ta luôn chú trọng mục tiêu giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc. Điều này cũng có nghĩa: bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc nói chung, âm nhạc nói riêng là trách nhiệm của toàn xã hội.

Tuy nhiên, những nghệ nhân nắm giữ nghệ thuật cổ truyền nay đã nhiều tuổi mà không có lớp người kế thừa. Cùng với đó, những hoạt động kinh tế, đời sống đang ngày càng thay đổi theo hướng đô thị hóa, công nghiệp hóa, không còn chỗ cho những hoạt động theo tập tục cổ xưa, không còn điều kiện để tổ chức các hoạt động mà trong đó âm nhạc, nhạc khí dân tộc là một thành tố chủ yếu. Mặt khác, một bộ phận người trẻ trước xu thế giao lưu, hội nhập, và làn sóng văn hóa các nước đang tràn ngập trên hệ thống thông tin đại chúng, internet… đang có xu hướng xa rời âm nhạc, nhạc khí dân tộc, chỉ yêu chuộng các thể loại nhạc trẻ, nhạc mới, nhạc nước ngoài, giới trẻ nhờ công nghệ tiếp cận đến mạng xã hội, học những nhạc cụ, nhạc khí phương tây, giá không đắt, đặt mua dễ và dễ sử dụng. Do vậy, rất nhiều thể loại âm nhạc, nhạc khí dân tộc đang đứng trước nguy cơ mai một; nhiều làn điệu âm nhạc, nhạc khí dân tộc dần dần không còn dịp diễn xướng, diễn tấu, không còn người kế thừa… nên nguy cơ biến mất di sản âm nhạc, nhạc khí dân tộc là một thực tế và khó tránh khỏi.

Những khó khăn, thách thức, những yếu tố bất lợi cho sự tồn tại của âm nhạc dân tộc nói chung, âm nhạc đồng bào S’Tiêng Bình Phước nói riêng ngày càng rõ rệt, rất cần thiết có một nghiên cứu toàn diện về nhạc khí đồng bào S’Tiêng Bình Phước nhằm bảo vệ, bảo tồn và phát triển trong thời đại hiện nay.

Trên cơ sở lược khảo các công trình nghiên cứu về âm nhạc S’tiêng nói chung,  nhạc khí đồng bào S’Tiêng  nói riêng đã cho thấy nhạc khí là nội dung bắt đầu được nghiên cứu chuyên sâu, thực hiện ở nhiều khía cạnh với các mức độ khác nhau. Tuy nhiên, chưa có một công trình mang tính hệ thống, cung cấp một cái nhìn toàn diện về nhạc khí đồng bào S’Tiêng, đặc biệt là nhạc khí đồng bào S’Tiêng ở Bình Phước. Bởi, có thể nói, nghiên cứu nhạc khí S’tiêng ở Bình Phước chính là nghiên cứu âm nhạc, nhạc khí với những đặc trưng xã hội, văn hóa tộc người cùng với những đặc thù, đặc điểm môi trường tự nhiên, điều kiện sinh sống của địa phương. Hơn nữa, những nghiên cứu chưa khai thác ở tầm vóc giá trị văn hóa dân tộc của âm nhạc, nhạc khí chưa soi thấu những yếu tố chuyên sâu trên cơ sở phương pháp và lý thuyết đang được sử dụng chủ yếu trên thế giới hiện nay là ngành Âm nhạc nhạc cụ dân tộc.

Bên cạnh đó, với dân số tập trung đông nhất so với tổng số dân của cộng đồng đồng bào S’Tiêng trên cả nước, là nơi lưu giữ nhiều di sản văn hóa vật chất, tinh thần của người S’tiêng cũng như những tập tục truyền đời của cộng đồng, Bình Phước là nơi thích hợp và cần có sự đầu tư để nghiên cứu, tìm hiểu kho tàng dân ca, dân nhạc, nhạc khí còn tồn tại trong cộng đồng trước khi bị biến đổi, hoặc mai một trước cơn sóng toàn cầu hóa, công nghiệp hóa, đô thị hóa. Hoạt động khảo sát, nghiên cứu âm nhạc còn gắn liền với việc nghiên cứu đời sống văn hóa tinh thần, tập tục, tín ngưỡng, làm khích lệ tinh thần - sự tự hào dân tộc, tinh thần đoàn kết gắn bó trong cộng đồng và góp phần thúc đẩy phát triển xã hội. Hơn nữa, nghiên cứu giá trị di sản âm nhạc nhạc khí dân tộc còn khẳng định bản sắc văn hóa của địa phương, biến nó thành sản phẩm văn hóa có thể góp phần phát triển kinh tế du lịch cho Bình Phước nói chung và người S’tiêng nói riêng.

Trước những yêu cầu cấp thiết cũng như điều kiện thuận lợi nêu trên, đã đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ tiến hành khảo cứu nhạc khí đồng bào S’Tiêng ở Bình Phước một cách toàn diện, hệ thống và chuyên sâu. Nhiệm vụ còn nghiên cứu giải pháp đáp ứng yêu cầu bảo tồn vốn di sản nhạc khí dân tộc cổ truyền có nguy cơ bị biến đổi hoặc biến mất trước mắt, về lâu dài; đưa ra mô hình bảo tồn và phát huy vốn cổ truyền dân tộc, góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị văn hóa âm nhạc dân tộc; thúc đẩy công tác phổ biến, quảng bá, tôn vinh các giá trị di sản ở tầm quốc gia và quốc tế; góp phần quảng bá hình ảnh địa phương, thu hút du lịch, đáp ứng nguyện vọng nâng cao đời sống vật chất - tinh thần của đồng bào dân tộc.

Ngoài ra, nghiên cứu sẽ là cơ sở cho hoạt động truyền dạy, phổ biến, giáo dục thế hệ trẻ; những sản phẩm của nghiên cứu sẽ hữu ích trong đào tạo nguồn nhân lực và đặc biệt với việc phát động, khuyến khích hoạt động sưu tầm, khảo sát, khảo cứu, công bố và phục dựng những hình thái hoạt động âm nhạc dân tộc… sẽ góp phần đánh thức lòng tự tôn dân tộc, giáo dục giá trị văn hóa, giáo dục truyền thống dân tộc và hình thành nhân cách công dân. Trên cơ sở đó, đề tài “Bảo tồn và phát huy nhạc khí của người S’tiêng ở Bình Phước ” là vấn đề mang tính cấp thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn và nghiên cứu Tổng quan về vấn đề nghiên cứu là một việc làm cần thiết, quan trọng để có thể tiếp cận vấn đề nghiên cứu một cách khoa học, khách quan, toàn diện, toàn cảnh.       

2.2.6 Những điều rút ra sau khi hệ thống các tài liệu liên quan

Đồng bào S’Tiêng là một trong những dân tộc đã có lịch sử và cư trú ở Bình Phước lâu đời. Âm nhạc của họ cũng đã được sinh ra, định hình và lưu truyền cùng với quá trình xây dựng, phát triển của cộng đồng dân tộc. Theo điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người S’tiêng ở Bình Phước chiếm số lượng hơn 90% so với tổng số cộng đồng đồng bào S’Tiêng  ở Việt Nam, họ chính là cộng đồng lưu giữ, truyền bá nhạc khí  trong quá khứ cũng như tương lai của đồng bào S’Tiêng . Trong những sinh hoạt, các lễ hội truyền thống của cộng đồng, âm nhạc chính là yếu tố quan trọng, không thể thiếu. Âm nhạc còn là món ăn tinh thần, có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng tính cách, phẩm chất, tâm hồn cho mỗi người dân S’tiêng nói riêng và mỗi con người Việt Nam nói chung; âm nhạc phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ chính trị, đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững xã hội, là phương tiện giáo dục, tập hợp và cố kết cộng đồng…

Trong tình hình đời sống, kinh tế, lao động sản xuất, hoạt động xã hội có nhiểu biến đổi như hiện hay, chắc chắn âm nhạc của đồng bào S’Tiêng  cũng chịu tác động. Những tiếp thu, biến đổi của nhạc khí cổ truyền trong đời sống hiện nay của âm nhạc không phải là vấn đề của riêng cộng đồng người S’tiêng mà là của toàn xã hội. Ngay từ Đề cương Văn hóa của Đảng năm 1943 đến định hướng cụ thể trong giai đoạn hội nhập hiện nay, Đảng ta luôn chú trọng mục tiêu giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc. Điều này cũng có nghĩa: bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc nói chung, âm nhạc nói riêng là trách nhiệm của toàn xã hội.

Tuy nhiên, những nghệ nhân nắm giữ nghệ thuật cổ truyền nay đã nhiều tuổi mà không có lớp người kế thừa. Cùng với đó, những hoạt động kinh tế, đời sống đang ngày càng thay đổi theo hướng đô thị hóa, công nghiệp hóa, không còn chỗ cho những hoạt động theo tập tục cổ xưa, không còn điều kiện để tổ chức các hoạt động mà trong đó nhạc khí  là một thành tố chủ yếu. Mặt khác, một bộ phận người trẻ trước xu thế giao lưu, hội nhập, và làn sóng văn hóa các nước đang tràn ngập trên hệ thống thông tin đại chúng, internet…đang có xu hướng xa rời nhạc khí , chỉ yêu chuộng các thể loại nhạc trẻ, nhạc mới, nhạc nước ngoài. Do vậy, rất nhiều thể loại âm nhạc đang đứng trước nguy cơ mai một; nhiều làn điệu âm nhạc, nhạc khí dân tộc dần dần không còn dịp diễn xướng, diễn tấu, không còn người kế thừa… nên nguy cơ biến mất di sản nhạc khí  là một thực tế và khó tránh khỏi.

Những khó khăn, thách thức, những yếu tố bất lợi cho sự tồn tại của nhạc khí  nói chung, nhạc khí S’tiêng Bình Phước nói riêng ngày càng rõ rệt, rất cần thiết có một nghiên cứu toàn diện về nhạc khí S’tiêng Bình Phước nhằm bảo vệ, bảo tồn và phát triển trong thời đại hiện nay.

Trên cơ sở lược khảo các công trình nghiên cứu về đồng bào S’Tiêng  nói chung, nhạc khí  S’tiêng nói riêng đã cho thấy âm nhạc là nội dung bắt đầu được nghiên cứu chuyên sâu, thực hiện ở nhiều khía cạnh với các mức độ khác nhau. Tuy nhiên, chưa có một sông trình mang tính hệ thống, cung cấp một cái nhìn toàn diện về nhạc khí  S’tiêng, đặc biệt là nhạc khí S’tiêng ở Bình Phước. Bởi, có thể nói, nghiên cứu âm nhạc S’tiêng ở Bình Phước chính là nghiên cứu nhạc khí với những đặc trưng xã hội, văn hóa tộc người cùng với những đặc thù, đặc điểm môi trường tự nhiên, điều kiện sinh sống của địa phương. Hơn nữa, những nghiên cứu chưa khai thác ở tầm vóc giá trị văn hóa dân tộc của âm nhạc, chưa soi thấu những yếu tố chuyên sâu trên cơ sở phương pháp và lý thuyết đang được sử dụng chủ yếu trên thế giới hiện nay là ngành nhạc khí  học.

Bên cạnh đó, với dân số tập trung đông nhất so với tổng số dân của cộng đồng đồng bào S’Tiêng  trên cả nước, là nơi lưu giữ nhiều di sản văn hóa vật chất, tinh thần của người S’tiêng cũng như những tập tục truyền đời của cộng đồng, Bình Phước là nơi thích hợp và cần có sự đầu tư để nghiên cứu, tìm hiểu kho tàng dân ca, dân nhạc, nhạc khí còn tồn tại trong cộng đồng trước khi bị biến đổi, hoặc mai một trước cơn sóng toàn cầu hóa, công nghiệp hóa, đô thị hóa. Hoạt động khảo sát, nghiên cứu âm nhạc còn gắn liền với việc nghiên cứu đời sống văn hóa tinh thần, tập tục, tín ngưỡng, làm khích lệ tinh thần - sự tự hào dân tộc, tinh thần đoàn kết gắn bó trong cộng đồng và góp phần thúc đẩy phát triển xã hội. Hơn nữa, nghiên cứu giá trị di sản nhạc khí  còn khẳng định bản sắc văn hóa của địa phương, biến nó thành sản phẩm văn hóa có thể góp phần phát triển kinh tế du lịch cho Bình Phước nói chung và người S’tiêng nói riêng.

Trước những yêu cầu cấp thiết cũng như điều kiện thuận lợi nêu trên, đã đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ tiến hành khảo cứu nhạc khí S’tiêng ở Bình Phước một cách toàn diện, hệ thống và chuyên sâu. Nhiệm vụ còn nghiên cứu giải pháp đáp ứng yêu cầu bảo tồn vốn di sản nhạc khí cổ truyền có nguy cơ bị biến đổi hoặc biến mất trước mắt, về lâu dài; đưa ra mô hình bảo tồn và phát huy vốn cổ truyền dân tộc, góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị văn hóa nhạc khí ; thúc đẩy công tác phổ biến, quảng bá, tôn vinh các giá trị di sản ở tầm quốc gia và quốc tế; góp phần quảng bá hình ảnh địa phương, thu hút du lịch, đáp ứng nguyện vọng nâng cao đời sống vật chất – tinh thần của đồng bào dân tộc. Ngoài ra, nghiên cứu sẽ là cơ sở cho hoạt động truyền dạy, phổ biến, giáo dục thế hệ trẻ; những sản phẩm của nghiên cứu sẽ hữu ích trong đào tạo nguồn nhân lực và đặc biệt với việc phát động, khuyến khích hoạt động sưu tầm, khảo sát, khảo cứu, công bố và phục dựng những hình thái hoạt động nhạc khí…sẽ góp phần đánh thức lòng tự tôn dân tộc, giáo dục giá trị văn hóa, giáo dục truyền thống dân tộc và hình thành nhân cách công dân.

2.3 Kết luận và đề xuất (Trình bày những kết quả quan trọng rút ra từ sự tổng hợp các kết quả nghiên cứu đã có trong/ngoài nước hay của tác giả nghiên cứu, những vấn đề còn khuyết/chưa được nghiên cứu và đề xuất nghiên cứu tiếp theo, đặc biệt liên hệ với đề tài của nghiên cứu sinh)

Nghiên cứu tài liệu (literature review) là một công việc quan trọng cần thiết cho bất kỳ hoạt động nghiên cứu khoa học nào. Mọi nghiên cứu khoa học luôn đòi hỏi một nền tảng kiến thức, hiểu biết về đề tài đang nghiên cứu. Đây là nguồn kiến thức quí giá được tích lũy qua quá trình nghiên cứu mang tính hệ thống lâu dài. Mục đích của việc thu thập và nghiên cứu tài liệu nhằm: giúp cho người nghiên cứu nắm được kiến thức, nội dung, phương pháp của các nghiên cứu đã thực hiện trước đây; làm rõ hơn đề tài nghiên cứu của mình; giúp người nghiên cứu có phương pháp luận hay luận cứ chặt ch hơn, có thêm kiến thức rộng, sâu về lĩnh vực đang nghiên cứu, phát hiện những vấn đề còn tồn tại, chưa hoàn thiện, chưa giải quyết vấn đề… của những nghiên cứu trước, hoặc ngược lại, tránh trùng lập với các nội dung mà các nghiên cứu trước đã thực hiện. Vì vậy, tra cứu tài liệu có trước để không mất thời gian, công sức và tài chính, làm lại cái đã được thực hiện. Tra cứu tài liệu có trước còn giúp người nghiên cứu có cái nhìn chung nhất về vấn đề mình đang thực hiện, giúp người nghiên cứu xây dựng luận cứ (bằng chứng) để chứng minh giả thuyết nghiên cứu v.v…

Việc giữ gìn và phát huy văn hóa phi vật thể của đồng bào S’tiêng trong bối cảnh mới, cần sự tham gia của chính cộng đồng S’tiêng. Hơn ai hết họ chủ thể của văn hóa và cũng là người lưu giữ các giá trị văn hóa của dân tộc mình. Cho nên, nếu không sự tham gia đồng thuận của họ thì chương trình, dự án khó thành công được. Giữ gìn và phát huy văn hóa phi vật thể của đồng bào S’tiêng cần được thực hiện theo lộ trình mang tính khoa học, phù hợp với điều kiện, yêu cầu của thực tiễn ở mỗi địa phương đặt ra. Trong quá trình thực hiện các kế hoạch giữ gìn và phát huy văn hóa của người S’tiêng cần gắn kết với sự theo dõi, giám sát, đánh giá, đồng thời địa phương cũng có cơ chế phản hội linh hoạt và hiệu quả.

Để làm tốt việc giữ gìn và phát huy văn hóa phi vật thể của đồng bào S’tiêng, cần tăng cường công tác giáo dục cho thế hệ trẻ trong việc giữ gìn văn hóa truyền thống của  cha ông ngay từ trong sinh hoạt gia đình, thấy được văn hóa truyền thống của dân tộc mình. Ngoài ra cũng cần biết phát huy vai trò uy tín của già làng, trưởng bản những mặt tích cực, khắc phục những hạn chế trong tập quán, phong tục còn lạc hậu để xây dựng đời sống văn hóa mới nhằm giữ gìn phát huy văn hóa phi vật thể của đồng bào S’tiêng. như vậy mới góp phần làm phong phú nền văn hóa Việt Nam cùng cả nước xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

Tất cả hoạt động nghiên cứu tài liệu được ghi chép, phân tích, tổng hợp thành một nghiên cứu, thể hiện một cái nhìn chung nhất về đề tài nghiên cứu, gọi là “tổng quan nghiên cứu” và luôn xuất hiện trong mọi hoạt động, thể hiện trong báo cáo của các nghiên cứu khoa học. Tổng quan cũng là phần quan trọng của luận án - thể hiện kết quả của một giai đoạn học tập, nghiên cứu bậc học Nghiên cứu sinh, của một nghiên cứu khoa học.

            Tổng quan nghiên cứu này đã thể hiện một cái nhìn chung nhất về đề tài luận án “Bảo tồn và phát  huy nhạc khí của người S’tiêng ở Bình Phước ”, ở các phương diện liên quan đến điều kiện địa lý, kinh tế, hoạt động lao động sinh sống, lịch sử, xã hội, hệ thống văn hóa, tộc người, âm nhạc… của đồng bào S’Tiêng (cũng như cộng đồng người S’tiêng ở Bình Phước); về những nghiên cứu nhạc khí, nhạc khí S’tiêng và đặc biệt là hệ thống những lý thuyết nghiên cứu tương ứng, làm nền tảng cho đề tài luận án. Có thể, Tổng quan này đã bỏ sót vài tài liệu, chưa phân tích đến mức chi tiết các nghiên cứu liên quan… nhưng, Tổng quan nghiên cứu này đã cho một cái nhìn hệ thống về các phương diện như đã nêu, góp phần quan trọng cho việc thực hiện đề tài luận án.


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO SỬ DỤNG TRONG CHUYÊN ĐỀ

Tài liệu sách

1.      Phan An (1992), Hệ thống xã hội tộc người S’tiêng ở Việt Nam: từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1975, luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Lịch sử, Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ (Tp. HCM).

2.      Phan An (2001), Luật tục S’tiêng và vấn đề đất rừng ở tỉnh Bình Phước hiện nay, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 1/2001

3.      Chris Barker (2011), Nghiên cứu Văn hóa: lý thuyết và thực hành (Dịch: Đặng Tuyết Anh), Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội.

4.      Nguyễn Chí Bền (2004), Báo cáo khoa học Vùng văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, hồ sơ di sản phi vật thể, Cục Di sản, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch.

5.      Lê Hải Đăng (2015), Khảo về nhạc dân gian S’tiêng, Thông báo khoa học - Viện Âm nhạc số 45 (tháng 8/2015), tr.44 - 62.

6.      Lê Ngọc Hùng (2015), Lịch sử & lý thuyết xã hội học, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

7.      Bùi Trọng Hiền (2008), Âm thanh cồng chiêng Tây Nguyên, Thông báo khoa học - Viện Âm nhạc số 31 (tháng 9-11/2010) tr.65 - 83, và 32 (tháng 4/2011), tr.80 - 113.

8.      Bùi Trọng Hiền (2008), Bài bản và nghệ thuật diễn tấu cồng chiêng Tây Nguyên, Thông báo khoa học - Viện Âm nhạc số 35 (tháng 4/2012), số 36 (tháng 8/2012), 37 (tháng 12/2012) và số 38 (tháng 4/2013).

9.      Bùi Trọng Hiền (2021), Âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên, nxb Văn hóa Dân tộc

10.  Oscar Salemink biên tập và xuất bản (2002), “Tính đa dạng của văn hóa Việt Nam: những tiếp cận về sự bảo tồn” từ Kỷ yếu hội thảo quốc tế Về “Sự bảo tồn và phát huy di sản phi vật chất của các dân tộc thiểu số Việt Nam”, tháng 3/1994, UNESCO

11. Bảo tàng Bình Phước (2013), Báo cáo tổng hợp chương trình mục tiêu “Khảo sát, nhận dạng âm nhạc của người S’tiêng Bình Phước”, Sở Văn hóa, Thể thoa và Du lịch tỉnh Bình Phước, bản đánh máy.

12. Phùng Đăng Quang (2005), Âm nhạc đồng bào S’Tiêng , Nxb Trẻ.

13.  Học viện Chính trị quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (2004), Khoa học quản lý, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội.

14.  Học viện hành chính quốc gia (1994), Giáo trình về quản lý nhà nước tập III, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội.

15.  Hội Đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển Bách khoa Việt Nam (2005), Từ điển bách khoa Việt Nam, tập 4, Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội.

16.  Khoa Quản lý kinh tế (Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) (2004), Khoa học quản lý, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội.

17. Phan Hồng Giang, Bùi Hoài Sơn (đồng chủ biên), Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2012.

18. Tổng Cục Thống kê Việt Nam (2020), Niên giám thống kê 2019, Nxb. Thống Kê, Hà Nội.

19.              Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1999), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

Tài liệu văn bản nhà nước

1.      Luật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, Nxb Chính trị Quốc gia

2.      UNESCO (2003), Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể.

3.      UNESCO (2005), Công ước bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa

4.      Từ điển Văn hóa dân gian. nxb VHTT Hà Nội 2002

Các bài viết trên internet

1.                       Nguyệt Cát http://binhphuocittpc.gov.vn/ITTPC-Binh-Phuoc/92/1438/10483/66029/Van-hoa-le-hoi/Tim-lai-gia-tri-cho-loai-nhac-cu-co-xua-nhat.aspx  truy cập ngày 3/2/2023

2.                       Điểu Điều, “Cần hiểu và viết đúng tên dân tộc S’tiêng”, Báo Bình Phước online, ngày 26/2/21, truy cập ngày 23/3/2023

3.                       https://baobinhphuoc.com.vn/news/19/121696/can-hieu-va-viet-dung-ten-dan-toc-s-tieng  

4.                       Đinh Nho Dương, http://baotangbinhphuoc.org.vn/mot-vai-tim-hieu-ve-am-nhac-truyen-thong-cua-nguoi-xtieng-binh-phuoc truy cập ngày 3/2/2023

5.                       Ngọc Hùng (2016), Tổng quan về lý thuyết cấu trúc - chức năng, Web site Viện nghiên cứu chính sách và phát triển. Truy cập ngày 30/4/2023

6.                       http://viennccspt.hcma1.vn/ly-thuyet/tong-quan-ve-ly-thuyet-cau-truc-chuc-nang:-gs-.ts-le-ngoc-hung-a379.html

7.                       Nguyễn Ngọc Lương https://vannghebinhphuoc.org.vn/tin-tuc-su-kien/di-san-binh-phuoc-hanh-trinh-di-tim-nhac-cu-da-mat-cua-nguoi-s-tieng-84.html tuy cập ngày 3/2/2023

8.                       Tạp chí “Thế giới di sản” https://dantocmiennui.vn/54-dan-toc-viet-nam/goong-chinh-trong-doi-song-cua-nguoi-stieng/165288.html  truy cập ngày 3/2/2023

9.                       Đình Tâm, https://baobinhphuoc.com.vn/news/19/98899/doc-dao-nhac-cu-truyen-thong-cua-nguoi-stieng truy cập ngày 3/2/2023

10.                  http://www.binhphuocittpc.gov.vn/TrungTamXucTienDauTuBP/92/1438/10483/23701/Van-hoa-le-hoi/Nghe-thuat-trinh-dien-dan-gian-cua-nguoi-S-tieng.aspx  truy cập ngày 26/3/2023

11. https://bptv.vn/news/19/119136/nguoi-bao-ton-nhac-cu-dan-toc-s-tieng truy cập ngày 25/3/2023

12.                  Tuệ Diễm (2015), Hoạt động nghệ thuật biểu diễn thời hội nhập: quản lý như thế nào”, http://hanoimoi.com.vn.


Phụ lục hình ảnh

 

 



[1] Người S’tiêng có một số tên gọi khác như: Xa Điêng, Bù Lơ, Bù Đek, Bù Biêt, Bù Đip, Bù Lach… Theo danh sách - tên gọi các dân tộc năm 2009 của chính phủ, tộc danh được ghi là Xtiêng. Trong từ điển S’tiêng - Pháp của ông R.H.Azémar công bố năm 1886 viết là Stiêng, đây là tên gọi chính thức đầu tiên của tộc người S’tiêng. Trong từ điển S’tiêng - Pháp năm 1886 không viết chữ "Xtiêng" và trong hệ thống từ điển S’tiêng – Anh do tác giả Ralph Haupers cũng không viết "Xtiêng".  Năm 2018, UBND tỉnh Bình Phước đã công bố Hệ thống bảng chữ cái và nguyên âm, phụ âm chữ viết của người S’tiêng cũng không viết chữ "Xtiêng". Ngày 01 tháng 4 năm 2019, Ban Dân tộc tỉnh đã có tờ trình số 18/TTr-BDT đề nghi điều chỉnh lại cách viết tên thành phần dân tộc từ S’tiêngsang S'tiêng. Đồng thời, do thông báo “Tuyển chọn…” của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Phước ghi là “S’tiêng” nên trong thuyết minh sẽ ghi theo cách này, trừ những tên tài liệu, sách… sẽ được ghi đúng theo tác phẩm được xuất bản. 

[2] Theo số liệu điều tra dân số năm 2019 – Tổng cục Thống kê, Chính phủ, dân số S'tiêng ở Bình Phước có  96.649 người.

[3] Khảo sát thực địa của tác giả vào tháng 11 năm 2023.

[4] Những người S’tiêng ở vùng Brơlâm

[5] “Những hiểu biết về người S’tiêng và vùng núi Djambra”

[6] Địa lý

[7] Xứ Mọi

[8] Cao nguyên Mọi

[9] Những người rừng Mọi

[10] Những vùng rừng thiêng của thung lũng Sông Bé

[11] Sông Bé lừng lẫy

[12] Phong tục người S’tiêng

[13] Các nhóm dân tộc thiểu số ở Việt Nam Cộng Hòa

[14] Đặng Hoành Loan (2015), Hội thảo khoa học quốc tế “Âm nhạc Dân tộc học”, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam.

[15]Music in Culture and Society” và “Culture and Society in Music” là tựa đề 2 chương của sách How Musical is man? của John Blacking (1973), nhà xuất bản University de Washington Press, điều mà Blacking phát hiện khi ông khảo sát âm nhạc Venda của người Nsengas ở Nam Châu Phi..

[16] John Blacking (1973), How Musical is man?, Nxb University de Washington Press, bản tiếng Pháp: “Le sens musical”, Nxb Les éditions de Minuit,1980.

[17] Tô Vũ (1996), Sức sống của Âm nhạc truyền thống Việt Nam, Nxb Âm nhạc;

-   (2002) Âm nhạc Việt Nam, truyền thống và hiện đại, Viện Âm nhạc – Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam

-   Tô Ngọc Thanh (2000), “Về công tác điều tra, sưu tầm di sản văn hóa phi vật thể”, trích trong sách: Góp phần nâng cao chất lượng sưu tầm, nghiên cứu văn hoá văn nghệ dân gian, Nxb. Văn hóa dân tộc, H.

-   Nguyễn Thị Mỹ Liêm (2002) Âm nhạc dân tộc học – phương pháp biện chứng trong nghiên cứu những truyền thống âm nhạc ngoài nền âm nhạc bác học Châu Âu, tạp chí Nghiên cứu Âm nhạc (Thông báo khoa học) – Viện Âm Nhạc, Học viện ÂNQGVN (ISSN 1859 – 4360), số 7, trang 150-168

-   (2003) “Bảo tồn và phát huy” hay “kế thừa và phát triển” văn hóa dân tộc trong nền kinh tế thị trường – định hướng xã hội chủ nghĩa’, Kỷ yếu Hội thảo KH “60 năm đề cương văn hóa Việt Nam”, Bộ Văn Hoá Thông Tin, Viện Văn hóa Thông tin Việt Nam, Nxb Sự Thật, trang 267-277.

-          (2014), Phương pháp luận trong nghiên cứu âm nhạc dân tộc học, tạp chí Lý luận Phê bình Văn học Nghệ thuật Trung Ương ISSN 0866 - 7349, số 29, trang 49-55;

-          (2018), Bảo tồn di sản âm nhạc ở các học viện âm nhạc, Thông báo Khoa học, Học viện Âm nhạc Huế, số 2/2018,, (ISSN 2354-1156) trang 96-99…

------------------------------------


văn hóa học

Đăng nhận xét

Mới hơn Cũ hơn