Vài nét về lịch sử nghệ thuật
Những bức tượng,
hình vẽ trên hang động, hình vẽ trên đá, và ký hiệu khắc trên đá của Hậu kỳ Thời
đại đá cũ có niên đại khoảng 40.000 năm trước đã được tìm thấy, nhưng ý nghĩa
chính xác của chúng vẫn thường không được xác định thống nhất vì có quá ít
thông tin về những nền văn hóa đã tạo ra chúng. Những hiện vật nghệ thuật lâu đời
nhất thế giới - một loạt các vỏ ốc sên nhỏ, được đục lỗ có chừng 75.000 năm tuổi
- được tìn thấy ở một hang động ở Nam Phi. Những vật có thể đã được dùng để đựng
mực có niên đại chừng 100.000 năm cũng đã được tìm thấy[1].
Hình một con ngựa vẽ trên vách hang
động Lascaux, cách đây chừng 16.000 năm.
Nhiều truyền
thống nghệ thuật lớn bắt nguồn từ nghệ thuật của một trong những nền văn minh lớn
của thế giới: Ai Cập cổ đại, Lưỡng Hà, Ba Tư, Ấn Độ, Trung Quốc, Hy Lạp cổ đại,
La Mã, cũng như Inca, Maya, và Olmec. Mỗi một trung tâm văn minh cổ xưa này đã
phát triển một phong cách nghệ thuật đặc thù. Những nền văn minh này xuất hiện
trên một phạm vi rộng và có thời gian tồn tại dài nên nhiều trong số những tác
phẩm nghệ thuật của họ vẫn tồn tại, và ảnh hưởng củ họ đã lan truyền đến những
nền văn hóa khác và đến những thời đại sau.
Vệ nữ
Willendorf, chừng 22.000–24.000 năm
trước.
Trong nghệ thuật Byzantine và nghệ
thuật Trung cổ ở phương Tây thời Trung cổ, hầu hết các tác phẩm nghệ thuật tập
trung vào đề tài tôn giáo, sử dụng những phong cách để cho thấy vẻ huy hoàng của
một thế giới thiên đường, chẳng hạn sử dụng vàng trong nền của các bức tranh,
hay thủy tinh trong các bức khảm hay cửa sổ; những phong cách này cũng thể hiện
những hình dáng ở dạng phẳng, theo mô thức, và lý tưởng hóa. Truyền thống hiện
thực cổ điển cũng có ở một số nhỏ các tác phẩm nghệ thuật Byzantine, và chủ
nghĩa hiện thực đã phát triển dần lên trong nghệ thuật châu Âu Công giáo.
Thời
kỳ Phục Hưng là một phong trào văn hóa thường được xem là bao gồm giai
đoạn từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, khởi đầu tại Firenze (Ý) vào Hậu kỳ Trung Đại,
sau đó lan rộng ra phần còn lại của châu Âu trên những quy mô và mức độ khác
nhau. Người ta cũng dùng từ Phục Hưng để chỉ, một cách không nhất quán, thời kỳ
lịch sử diễn ra phong trào văn hóa nói trên.
Là một phong
trào văn hóa, Phục Hưng bao hàm sự nở rộ các nền văn học tiếng Latinh cũng như
các tiếng dân tộc, bắt đầu từ sự phục hồi việc nghiên cứu các tư liệu cổ điển,
sự phát triển của phép phối cảnh tuyến tính và các kỹ thuật nhằm biểu diễn hiện
thực tự nhiên hơn trong mỹ thuật, và một cuộc cải cách giáo
dục tiệm tiến
nhưng phổ cập. Các học giả và nghệ sĩ thời Phục hưng cũng được gọi là những người
theo chủ nghĩa nhân văn.

Về chính trị
và nghệ thuật: Mặc dù Phục Hưng chứng kiến những cuộc cách mạng trong nhiều
lĩnh vực, cũng như những thay đổi chính trị-xã hội, nó vẫn được biết đến nhiều
nhất bởi những thành tựu lớn lao về mỹ thuật và những cống hiến của những vĩ
nhân đa tài như Leonardo da Vinci hay Michelangelo đã làm xuất hiện thuật ngữ
Vĩ nhân Phục Hưng.
Nghệ thuật thời kỳ Phục Hưng nhấn mạnh
nhiều vào việc mô tả theo lối hiện thực thế giới vật chất, và vị thế của con
người trong thế giới đó, phản ánh trong tính chất cụ thể của cơ thể con người,
và việc phát triển một phương pháp có hệ thống để thể hiện những sự lồi lõm của
vật thể trong ba chiều không gian.
Tác phẩm David của Michelangelo, (Phòng trưng bày Galleria
dell'Accademia, Florence) là một ví dụ cho đỉnh cao nghệ thuật Phục Hưng
Ở phương Đông,
sự từ bỏ việc sử dụng hình tượng của nghệ thuật Hồi giáo đã dẫn đến sự nhấn mạnh
vào các mô thức hình học, thư pháp, và kiến trúc.
Xa hơn về phía
Đông, tôn giáo cũng đóng một vai trò chủ đạo trong các hình thức và phong cách
nghệ thuật. Ở Ấn Độ và Tây Tạng, người ta thấy có sự nhấn mạnh đến những bức tượng
được sơn phết và những điệu múa, trong khi hội họa tôn giáo vay mượn nhiều ước
lệ từ điêu khắc và có xu hướng sử dụng những màu sắc tương phản để nhấn mạnh đến
các đường nét.
Phong cách nghệ
thuật Trung Quốc thay đổi đáng kể từ thời đại này sang thời đại khác, và mỗi
phong cách thường được đặt tên theo triều đại trị vì. Chẳng hạn, những bức
tranh thời nhà Đường đơn sắc và có tính chất điểm xuyết, nhấn mạnh những cảnh vật
lý tưởng hóa, còn những bức tranh thời nhà Minh thì dày đặc chi tiết và nhiều
màu sắc, và tập trung kể những câu chuyện thông qua khung cảnh và bố cục.
Trường
Athena,
một trong những bức tranh
sơn dầu nổi
tiếng nhất của họa sĩ thời kỳ Phục Hưng người Ý, Raphael
Nhật Bản cũng
đặt tên các phong cách nghệ thuật theo tên của triều đại trị vì, và cũng có thấy
có sự tương tác qua lại giữa những phong cách thư pháp và hội họa. Sau thế kỷ
17 thì tranh khắc gỗ trở thành một loại hình nghệ thuật quan trọng ở Nhật.
Thời kỳ khai sáng
Phong trào Khai sáng, cũng gọi bằng
Phong trào Duy lí,là phong trào tri thức triết học chi phối tư tưởng châu Âu
vào thế kỷ 17 và 18, lấy lý trí, sự theo đuổi hạnh phúc, và sự nhận biết của
giác quan làm nền móng, chủ trương tự do, tiến bộ loài người, khoan dung, bác
ái, chính phủ lập hiến, phân lập nhà nước với tôn giáo...
Phong trào Khai sáng thoát thai
Phong trào nhân văn thời Phục hưng, theo sau cuộc Cách mạng Khoa học, nối tiếp
sự nghiệp của Francis Bacon và những người khác. Ngày Phong trào Khai sáng nổi
lên, một số người định là năm 1637, nhà triết học René Descartes ra triết lí
Cogito, ergo sum ("tôi tư duy, nên tôi tồn tại"), người khác định là
năm 1687, nhà toán học Isaac Newton xuất bản quyển Principia, kết thúc Cách mạng
Khoa học. Giới sử học Pháp xưa nay lấy khoảng thời gian giữa lúc Vua Louis XIV
chết năm 1715 và lúc Cách mạng Pháp bùng nổ năm 1789 làm thời đại Khai sáng. Hầu
hết xem phong trào rút xuống vào đầu thế kỷ 19.
Giới triết học khoa học bấy giờ
phổ biến ý tưởng ở các học viện, chi nhánh hội Tam điểm, phòng họp văn nghệ sĩ,
quán cà phê và trong sách vở, tạp chí. Phong trào Khai sáng làm suy yếu các chế
độ vua chúa chuyên quyền và Giáo hội Công giáo, mở đường cách mạng chính trị
vào thế kỷ 18 và 19. Nhiều phong trào vào thế kỷ 19 như tự do và cổ điển mới lấy
Phong trào Khai sáng làm nền móng.[5]
Thời kỳ Khai sáng thường được liên hệ chặt chẽ với cuộc Cách mạng
Khoa học, do cả hai phong trào đều nhấn mạnh vào lý tính, khoa học hay sự hợp
lý, trong khi phong trào Khai sáng còn tìm cách phát triển hiểu biết có hệ thống
về các quy luật tự nhiên và thần học. Phong trào bắt nguồn từ cuộc cách mạng
tri trức khởi đầu bởi Galileo và Newton, trong một bầu không khí ngày càng kém
thiện cảm với quyền lực áp chế, trong những khám phá về cá nhân, xã hội, và nhà
nước, các nhà tư tưởng Khai sáng tin rằng có thể áp dụng tư duy có hệ thống cho
mọi lĩnh vực của hoạt động con người và đưa nó vào hoạt động nhà nước. Những
người đi đầu phong trào tin rằng họ sẽ dẫn thế giới vào một thời đại mới của
nhân tính, lý tính và tự do từ một thời kỳ dài đầy nghi ngờ, phi lý, mê tín dị
đoan, và độc tài mà họ gọi là Thời kỳ Đen Tối (Dark Ages). Phong trào Khai sáng
đi kèm với thời kỳ cổ điển và baroque trong âm nhạc và thời kỳ tân cổ điển
trong nghệ thuật; thời hiện đại chú ý đến phong trào Khai sáng như là một trong
những mô hình trung tâm cho nhiều phong trào thời hiện đại. Phong trào đã góp
phần tạo ra nền tảng tư tưởng cho Cách mạng Mỹ và Cách mạng Pháp, Phong trào độc
lập Mỹ La Tinh, và Hiến pháp Ba Lan ngày 3 tháng 5; góp phần dẫn tới sự trỗi dậy
của chủ nghĩa tự do cổ điển, dân chủ, và chủ nghĩa tư bản.
Phong trào Khai sáng chỉ xảy ra tại Đức, Pháp, Anh, và Tây Ban Nha,
nhưng tầm ảnh hưởng của nó lan xa hơn. Nhiều người trong số những người khai
sinh ra Hợp chúng quốc Hoa Kỳ đã chịu ảnh hưởng lớn bởi các tư tưởng của thời kỳ
Khai sáng, đặc biệt trong lĩnh vực tôn giáo (Thuyết thần giáo tự nhiên) và
trong lĩnh vực chính trị với Hiến pháp Hoa Kỳ, Tuyên ngôn nhân quyền Hoa Kỳ
(Bill of rights), cùng với Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền của Pháp.
Thời kỳ Khai sáng ở
phương Tây thế kỷ 18 cho thấy những thể hiện mang tính nghệ thuật về những niềm
tin duy lý về vũ trụ, cũng như những mơ tưởng về một thế giới hậu quân chủ, như
trong cách mô tả của William Blake về Newton, hay trong những bức tranh tuyên
truyền của Jacques-Louis David. Những cách thể hiện này bị chủ nghĩa lãng mạn từ
bỏ sau đó; trào lưu nghệ thuật mới này chú ý đến những hình ảnh về khía cạnh cảm
xúc và tính cá thể của con người, như có thể thấy trong những tiểu thuyết của
Goethe. Cuối thế kỷ 19, người ta chứng kiến sự ra đời của một loạt những trào
lưu nghệ thuật như nghệ thuật kinh viện, trường phái tượng trưng, trường phái ấn
tượng, và trường phái dã thú, cũng những trường phái khác.
Lịch
sử nghệ thuật thế kỷ 20 là câu chuyện về những khả thể vô hạn và về cuộc
tìm kiếm những tiêu chuẩn mới, tiêu chuẩn này mới ra đời thì bị tiêu chuẩn khác
hơn vượt qua. Vì thế mà những quan niệm của trường phái ấn tượng, trường phái
biểu hiện, trường phái dã thú, trường phái lập thể, trường phái dada, trường
phái siêu thực, v.v..., thường không tồn tại lâu sau khi ra đời.
Những tương
tác trên phạm vi toàn cầu ngày càng gia tăng trong thời kỳ này khiến những nền
văn hóa khác ảnh hưởng lên nghệ thuật châu Âu.
Những tác phẩm
tranh khắc gỗ Nhật Bản (vốn chịu ảnh hưởng bởi kỹ thuật châu Âu thời Phục hưng)
đã có ảnh hưởng đáng kể lên trường phái biểu hiện và những phát triển sau đó.
Về sau, điêu
khắc châu Phi ảnh hưởng lên sáng tác của Picasso và, ở một mức độ nào đó, những
sáng tác của Henri Matisse. Tương tự, phương Tây có ảnh hưởng rất lớn lên nghệ
thuật phương Đông thế kỷ 19 và 20; những tư tưởng có nguồn gốc phương Tây như
chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa hậu hiện đại tác động rất mạnh lên phong cách
nghệ thuật.
Trong
nửa cuối thế kỷ 20, chủ nghĩa hiện đại, cuộc tìm kiếm chân lý có tính
chất lý tưởng, nhường chỗ cho nhận thức về tính bất khả của nó. Chủ nghĩa tương đối (relativism) đã được
chấp nhận như một chân lý không thể chối bỏ được; điều này dẫn đến thời kỳ nghệ thuật đương đại (contemporary art)
và phê bình hậu hiện đại (postmodern
criticism), ở đó văn hóa thế giới và lịch sử được xem là những dạng thức không
ngừng biến đổi. Hơn nữa, những khác biệt giữa các nền văn hóa ngày càng bị xóa
mờ; một số người cho rằng ngày nay có lẽ thích hợp hơn khi nói về một nền văn
hóa toàn cầu, thay vì là những nền văn hóa khu vực.
[1] “African Cave Yields
Evidence of a Prehistoric Paint Factory”. The New York Times. ngày 13 tháng 10
năm 2011.