Chuyen de NCS Hoàng Sơn Giang_KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN TÍNH MỚI ĐỀ TÀI KHAI THÁC NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN TRUYỀN THỐNG GẮN VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH




HOÀNG SƠN GIANG

Chuyên đề tiến sĩ

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN TÍNH MỚI

ĐỀ TÀI

KHAI THÁC

NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN TRUYỀN THỐNG GẮN VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Quản lý văn hóa

Mã số: 9229042

Thành Phố Hồ Chí Minh, 2025

 

MỤC LỤC

 

I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1. Giới thiệu về chủ đề luận án 1

2. Lý do tiến hành chuyên đề 1

3. Mục tiêu của chuyên đề 2

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của chuyên đề 2

5. Phương pháp nghiên cứu 5

6. Khung phân tích và hướng tiếp cận 7

7. Ý nghĩa của chuyên đề 9

II. NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ 11

1. Cơ sở khoa học của chuyên đề 11

1.1. Một số khái niệm liên quan 11

1.2. Tiềm năng khai thác một số loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống gắn với du lịch tại TP.HCM 14

2. Những chủ trương, chính sách về khai thác và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống gắn với du lịch 18

2.1. Những chủ trương, chính sách cấp trung ương 18

2.2. Những chủ trương, kế hoạch của TP.HCM 24

3. Thực trạng khai thác một số loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống gắn với du lịch tại TP.HCM 28

3.1. Thực trạng khai thác ở các đơn vị công lập 28

3.2. Thực trạng khai thác ở các đơn vị tư nhân 37

3.3. So sánh hiệu quả giữa mô hình khai thác công lập và tư nhân dưới góc độ quản lý văn hóa 48

4. Nhu cầu nâng cao trải nghiệm nghệ thuật biểu diễn truyền thống của du khách tại TP.HCM 52

4.1. Đặc điểm nhân chủng học của mẫu khảo sát 53

4.2. Đánh giá thực trạng trải nghiệm của du khách 57

4.3. Giải mã những nhu cầu trải nghiệm nâng cao 60

4.4. Sự khác biệt trong cảm nhận và kỳ vọng giữa các phân khúc thị trường 63

4.5. Nhận thức của du khách về vai trò của du lịch văn hóa và tiềm năng phát triển bền vững 65

5. Biện luận tính mới của đề tài 68

5.1. Tính mới trong cách tiếp cận 69

5.2. Tính mới về lý luận và chính sách 70

5.3. Tính mới về phát hiện thực tiễn 71

KẾT LUẬN 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

 

PHỤ LỤC

 

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Giới thiệu về chủ đề luận án

Luận án “Khai thác nghệ thuật biểu diễn truyền thống gắn với phát triển du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện trong bối cảnh các di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc, đặc biệt là các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống (NTBDTT) tiêu biểu của Nam Bộ như Đờn ca tài tử (ĐCTT) và Cải lương, đang đứng trước những cơ hội và thách thức đan xen. Một mặt, các loại hình này là tài sản văn hóa vô giá, phản ánh bản sắc và tâm hồn của vùng đất Nam Bộ, đồng thời là nguồn tài nguyên đặc sắc cho việc phát triển du lịch văn hóa, phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc đưa văn hóa trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội. Mặt khác, trước áp lực của quá trình đô thị hóa, toàn cầu hóa và sự thay đổi trong thị hiếu – nhu cầu giải trí, NTBDTT đang phải đối mặt với nguy cơ mai một, thiếu hụt thế hệ kế thừa và khán giả. Thực tế cho thấy việc kết nối giữa bảo tồn di sản và khai thác du lịch tại TP.HCM vẫn còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng vốn có.

Từ góc độ của ngành Quản lý văn hóa, bài toán đặt ra không chỉ đơn thuần là bảo tồn hay phát triển, mà là làm thế nào để quản lý và điều phối một cách hài hòa, hiệu quả mối quan hệ cộng sinh giữa văn hóa và du lịch. Việc thiếu một mô hình khai thác chuyên nghiệp, thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các bên liên quan (nhà quản lý, nghệ sĩ, doanh nghiệp, cộng đồng) chính là một thách thức lớn về quản lý. Do đó, luận án này xác định đối tượng nghiên cứu trọng tâm là hoạt động khai thác hai loại hình ĐCTT và Cải lương gắn với phát triển du lịch tại TP.HCM. Mục tiêu của luận án là phân tích sâu sắc thực trạng, đánh giá tiềm năng và những rào cản từ góc độ quản lý, để từ đó đề xuất các mô hình, giải pháp cụ thể nhằm biến di sản văn hóa thành những sản phẩm du lịch đặc trưng, bền vững, góp phần thiết thực vào sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa thành phố.

2. Lý do tiến hành chuyên đề

Sau khi đã hoàn thành các chuyên đề nền tảng về tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý lý thuyết, việc thực hiện chuyên đề “Kết quả nghiên cứu và biện luận tính mới” là bước đi tiếp theo mang tính logic và then chốt trong quá trình hoàn thiện luận án. Nếu các chuyên đề trước tập trung vào việc hệ thống hóa tri thức sẵn có và xây dựng khung phân tích, thì chuyên đề này có nhiệm vụ cốt lõi là trình bày và phân tích những phát hiện mới từ dữ liệu thực chứng mà NCS đã thu thập được.

 

Lý do chính để tiến hành chuyên đề là nhằm hệ thống hóa một cách khoa học các kết quả từ quá trình khảo sát định lượng, phỏng vấn sâu các bên liên quan và quan sát thực địa. Việc này không chỉ nhằm mô tả thực trạng khai thác NTBDTT tại TP.HCM mà còn để lý giải các mối quan hệ phức hợp, nhận diện những điểm nghẽn trong thực tiễn và thấu hiểu sâu sắc nhu cầu chưa được đáp ứng của thị trường, đặc biệt là từ phía du khách. Trên cơ sở những phát hiện đó, chuyên đề sẽ tiến hành biện luận, làm rõ những đóng góp mới của luận án về cả mặt học thuật và thực tiễn, khẳng định giá trị khoa học và lấp đầy những “khoảng trống” mà các công trình đi trước đã chỉ ra. Do đó, chuyên đề này đóng vai trò như một bản lề quan trọng, kết nối giữa nền tảng lý thuyết và thực trạng để làm cơ sở vững chắc cho việc xây dựng các mô hình và giải pháp ở chương cuối của luận án.

3. Mục tiêu của chuyên đề

Chuyên đề này được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể sau:

Một là, hệ thống hóa các chủ trương, chính sách của Trung ương và TP.HCM liên quan đến việc khai thác NTBDTT gắn với du lịch, tạo nền tảng bối cảnh cho việc phân tích, đánh giá thực trạng.

Hai là, trình bày và phân tích sâu thực trạng khai thác NTBDTT tại TP.HCM thông qua hoạt động của các đơn vị công lập và tư nhân, từ đó nhận diện các mô hình, thành tựu, hạn chế và những mâu thuẫn đang tồn tại.

Ba là, phân tích, đánh giá nhu cầu, nhận thức và kỳ vọng của du khách đối với các sản phẩm du lịch NTBDTT, làm rõ “khoảng trống trải nghiệm” và những mong muốn nâng cao trải nghiệm của thị trường mục tiêu.

Bốn là, trên cơ sở tổng hợp các kết quả trên, tiến hành biện luận về tính mới, những đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn của luận án, đồng thời xác lập các luận cứ khoa học vững chắc để làm tiền đề cho việc xây dựng các giải pháp trong giai đoạn tiếp theo.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của chuyên đề

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Dựa trên đối tượng nghiên cứu của cả luận án, chuyên đề tập trung nghiên cứu việc khai thác và phát huy giá trị của hai loại hình NTBDTT là ĐCTT và Cải lương gắn với phát triển du lịch văn hóa tại TP.HCM. Trong rất nhiều loại hình NTBDTT

 

của Nam Bộ, việc lựa chọn hai loại hình này làm đối tượng nghiên cứu trọng tâm được dựa trên những luận cứ khoa học và thực tiễn chặt chẽ sau:

Thứ nhất, về tính tiêu biểu và giá trị di sản: ĐCTT và Cải lương là hai đại diện tiêu biểu, đặc trưng và có sức sống mãnh liệt nhất của NTBDTT Nam Bộ. ĐCTT, với việc được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (2013), không chỉ mang giá trị văn hóa tầm quốc gia mà còn có thương hiệu và sức hấp dẫn trên phạm vi quốc tế, là một tài nguyên quý giá cho du lịch. Trong khi đó, Cải lương là một loại hình sân khấu độc đáo, kết tinh từ sự giao thoa giữa âm nhạc dân tộc và kịch nghệ phương Tây, phản ánh rõ nét tinh thần cởi mở, năng động của văn hóa Sài Gòn - Nam Bộ.

Thứ hai, về mối quan hệ nội tại và tính bổ trợ: Hai loại hình này có mối liên hệ mật thiết, không thể tách rời về nguồn gốc và hình thức thể hiện. Cải lương được xem là một bước phát triển tiếp nối, một sự nâng cấp từ nền tảng âm nhạc của ĐCTT. Điều đặc biệt là sự ra đời của Cải lương không làm mai một hay thay thế ĐCTT, mà cả hai đã cùng tồn tại song song, bổ khuyết và làm giàu cho đời sống văn hóa Nam Bộ. Sự kết hợp giữa ĐCTT (thiên về âm nhạc thính phòng, ngẫu hứng) và Cải lương (thiên về sân khấu, tự sự) tạo thành một cặp đối tượng nghiên cứu hữu cơ, cho phép xây dựng các sản phẩm du lịch đa dạng, có chiều sâu.

Thứ ba, về tính khả thi và mức độ thích ứng trong du lịch: Đây là yếu tố then chốt quyết định sự lựa chọn. So với các loại hình khác, ĐCTT và Cải lương sở hữu sự linh hoạt vượt trội. Sự khả thi này không chỉ đến từ khả năng trình diễn đa dạng không gian mà còn đến từ sự tương đồng sâu sắc về âm nhạc. Cả hai loại hình cùng chia sẻ một hệ thống bài bản, điệu thức và sử dụng chung một dàn nhạc cụ để đệm cho người ca (hát) như đàn kìm, đàn tranh, đàn cò, và đặc biệt là cây đàn guitar phím lõm. Sự tương đồng này cho phép các nghệ sĩ có thể linh hoạt kết hợp biểu diễn cả hai loại hình trong cùng một chương trình mà không cần thay đổi dàn nhạc, giúp tối ưu hóa chi phí và tạo ra một sản phẩm du lịch liền mạch, đa dạng. Thực tế tại TP.HCM trong những năm gần đây đã chứng minh điều này, khi nhiều chương trình nghệ thuật phục vụ du lịch tại các sự kiện lớn của thành phố đã kết hợp hiệu quả cả ĐCTT và các chặp Cải lương đặc sắc, tạo sự hấp dẫn và trải nghiệm độc đáo cho du khách.

Thứ tư, về sự tương thích với định hướng chính sách của TP.HCM: Thực tế, TP.HCM đã và đang có những chủ trương, kế hoạch cụ thể nhằm bảo tồn và phát

 

huy giá trị của chính hai loại hình nghệ thuật này. Do đó, việc tập trung nghiên cứu vào ĐCTT và Cải lương không chỉ có ý nghĩa về mặt học thuật mà còn có giá trị ứng dụng cao. Hơn nữa, việc nghiên cứu sâu về giá trị và tiềm năng của Cải lương song hành cùng ĐCTT - một di sản đã được quốc tế công nhận - cũng không nằm ngoài định hướng chiến lược dài hạn nhằm xây dựng hồ sơ, tiến tới đề nghị công nhận Cải lương là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Từ những luận cứ trên, việc lựa chọn ĐCTT và Cải lương không chỉ đảm bảo chiều sâu văn hóa mà còn tối ưu hóa tính ứng dụng và khả thi trong khuôn khổ một luận án về khai thác NTBDTT gắn với phát triển du lịch tại TP.HCM.

4.2. Phạm vi của chuyên đề

Để đảm bảo tính tập trung và chiều sâu, chuyên đề này được giới hạn trong các phạm vi cụ thể sau:

- Về nội dung: Chuyên đề tập trung vào việc trình bày, phân tích các kết quả nghiên cứu thực chứng đã thu thập. Nội dung chính bao gồm: (1) Phân tích các chủ trương, chính sách liên quan; (2) Đánh giá thực trạng khai thác NTBDTT tại các đơn vị công lập và tư nhân; (3) Phân tích sâu dữ liệu khảo sát về nhu cầu và trải nghiệm của du khách; (4) Biện luận về những đóng góp mới của luận án. Chuyên đề không tái hệ thống hóa toàn bộ cơ sở lý luận, mà sử dụng chúng làm nền tảng để phân tích dữ liệu mới.

- Về không gian: Không gian nghiên cứu của chuyên đề được giới hạn trên địa bàn TP.HCM (trước khi sáp nhập với tỉnh Bình Dương và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). Cụ thể là tại các nhà hát, trung tâm văn hóa, khu du lịch, nhà hàng và không gian công cộng - nơi NCS đã tiến hành quan sát và thu thập dữ liệu.

- Về thời gian: Chuyên đề có hai giới hạn thời gian chính:

Đối với việc phân tích các chủ trương, chính sách, chuyên đề xem xét trong khoảng thời gian 10 năm (2014 - 2024). Cột mốc 2014 được chọn vì đây là thời điểm ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng, một văn bản có tính định hướng chiến lược, đánh dấu sự chuyển đổi trong tư duy chính sách khi xem văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là động lực cho sự phát triển bền vững.

Đối với việc phân tích thực trạng khai thác và phát huy, chuyên đề tập trung vào giai đoạn từ năm 2020 đến nay. Giai đoạn này được chọn vì nó bao gồm thời điểm

 

ngành du lịch và nghệ thuật biểu diễn chịu tác động sâu sắc của đại dịch Covid-19 và giai đoạn phục hồi, thích ứng sau đó. Việc phân tích trong khung thời gian này cho phép đánh giá chính xác những biến đổi và các mô hình hoạt động mới nổi, đảm bảo tính cập nhật cho các đề xuất. Dữ liệu khảo sát định lượng được thu thập chủ yếu từ tháng 6/2024 đến tháng 12/2024.

5. Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu của chuyên đề, NCS đã áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, kết hợp đồng thời phương pháp định tính và định lượng. Cách tiếp cận này cho phép vừa khám phá chiều sâu, bối cảnh và ý nghĩa của các hiện tượng văn hóa (thông qua định tính), vừa đo lường, kiểm chứng và khái quát hóa các xu hướng trên một quy mô mẫu đủ lớn (thông qua định lượng), từ đó mang lại một cái nhìn toàn diện và đa chiều về vấn đề nghiên cứu.

5.1. Phương pháp nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính được sử dụng để thu thập dữ liệu sâu, thấu hiểu bối cảnh và lý giải các quan điểm phức hợp từ các bên liên quan. Các phương pháp cụ thể bao gồm:

- Phân tích tài liệu: NCS đã tiến hành thu thập và phân tích các văn bản chính sách, chiến lược, kế hoạch của Trung ương và TP.HCM; các báo cáo tổng kết của Sở Văn hóa và Thể thao, Sở Du lịch, và các đơn vị nghệ thuật công lập; cùng các công trình nghiên cứu khoa học, bài báo liên quan. Phương pháp này giúp xây dựng khung bối cảnh về chính sách và thể chế, làm cơ sở để đối chiếu với dữ liệu thực địa.

- Phỏng vấn sâu: Đây là phương pháp chủ đạo để thu thập thông tin từ các chuyên gia, nhà quản lý, nghệ sĩ và doanh nghiệp. NCS đã thực hiện 20 cuộc phỏng vấn bán cấu trúc với các đối tượng gồm: lãnh đạo các đơn vị nghệ thuật công lập; chủ các doanh nghiệp tư nhân đang khai thác NTBDTT; các nhà nghiên cứu uy tín về NTBDTT và du lịch; các nghệ sĩ, nghệ nhân trực tiếp biểu diễn trong các chương trình phục vụ du lịch. Các cuộc phỏng vấn giúp làm rõ mô hình vận hành, những khó khăn nội tại và quan điểm của “người trong cuộc” mà dữ liệu thứ cấp không thể hiện được.

- Quan sát tham dự: Với lợi thế là người trực tiếp tham gia dẫn chương trình cho một số chương trình biểu diễn nghệ thuật truyền thống của thành phố, NCS đã áp dụng phương pháp quan sát tham dự để ghi nhận thực tế không khí các buổi diễn, phản ứng của du khách, cách thức tổ chức và sự tương tác giữa nghệ sĩ với khán giả.

 

Phương pháp này cung cấp những dữ liệu chân thực, khách quan về trải nghiệm thực tế tại hiện trường, bổ sung cho dữ liệu từ phỏng vấn và khảo sát.

5.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu định lượng được triển khai nhằm mục tiêu đo lường mức độ hài lòng, nhận thức và nhu cầu của du khách trên diện rộng, cung cấp các bằng chứng thống kê có giá trị để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.

- Thiết kế nghiên cứu và công cụ: Nghiên cứu tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi cấu trúc, được thiết kế gồm các phần chính: thông tin nhân khẩu học, hành vi du lịch, đánh giá trải nghiệm hiện tại và các kỳ vọng, nhu cầu nâng cao. Hầu hết các biến quan sát về thái độ và nhận thức được đo lường bằng thang đo Likert 5 mức độ. Bảng hỏi đã được khảo sát thử trên 30 đối tượng để điều chỉnh về ngôn ngữ và tính logic trước khi triển khai chính thức.

- Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:

+ Cỡ mẫu: Tổng cộng có 1.072 phiếu khảo sát hợp lệ được thu thập từ du khách trong nước và quốc tế, những người đã trực tiếp trải nghiệm các chương trình NTBDTT tại TP.HCM. Cỡ mẫu này lớn hơn đáng kể so với mức tối thiểu (~384 mẫu) được đề xuất bởi Krejcie và Morgan (1970) cho một tổng thể rất lớn để đạt độ tin cậy 95%. Do đó, cỡ mẫu 1.072 đảm bảo tính vững chắc và độ tin cậy cao cho các phân tích thống kê.

+ Phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất kết hợp, bao gồm chọn mẫu có chủ đích và chọn mẫu thuận tiện. Phương pháp này được lựa chọn vì tính phù hợp và khả thi trong bối cảnh thực tế. Khách thể nghiên cứu (du khách đã xem NTBDTT) là một nhóm đặc thù, không phân bố ngẫu nhiên trong tổng thể dân số hay tổng thể khách du lịch. Do đó, việc chọn mẫu xác suất ngẫu nhiên là không khả thi và kém hiệu quả. Thay vào đó, NCS và đội ngũ hỗ trợ đã chủ động đến các địa điểm có diễn ra hoạt động biểu diễn NTBDTT (nhà hát, khu du lịch, không gian công cộng, nhà hàng...) để đảm bảo tiếp cận được đúng đối tượng mục tiêu. Tại các địa điểm này, việc khảo sát được tiến hành theo phương pháp thuận tiện, tiếp cận những du khách sẵn lòng tham gia trả lời sau khi kết thúc trải nghiệm. Mặc dù là phương pháp phi xác suất, nhưng việc triển khai trên một cỡ mẫu rất lớn (N=1.072) và tại nhiều địa điểm đa dạng giúp giảm thiểu các sai lệch và tăng tính đại diện cho nhóm khách thể nghiên cứu.

 

- Phân tích dữ liệu: Dữ liệu sau khi thu thập và làm sạch được xử lý bằng phần mềm SPSS 26.0. Các kỹ thuật phân tích chính bao gồm:

+ Thống kê mô tả: Sử dụng tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn (SD) để phác họa chân dung nhân khẩu học của mẫu và mô tả các xu hướng chung trong đánh giá của du khách.

+ Kiểm định độ tin cậy: Sử dụng hệ số Cronbach's Alpha để đánh giá độ tin cậy và nhất quán nội tại của các thang đo.

+ Thống kê suy luận: Sử dụng các kiểm định T-test và phân tích phương sai ANOVA để so sánh sự khác biệt về nhận thức và nhu cầu giữa các nhóm du khách khác nhau (ví dụ: theo quốc tịch, thu nhập, độ tuổi...), từ đó xác định các phân khúc thị trường mục tiêu.

6. Khung phân tích và hướng tiếp cận

Từ góc độ Quản lý văn hóa, việc luận giải một vấn đề phức hợp như khai thác NTBDTT trong bối cảnh đương đại đòi hỏi một công cụ phân tích có khả năng nắm bắt được các tương tác đa chiều. Để làm phong phú thêm các mô hình phân tích truyền thống, vốn đã đặt nền tảng quan trọng cho lĩnh vực, chuyên đề này đề xuất bổ sung cách tiếp cận hệ sinh thái văn hóa nhằm nắm bắt đầy đủ hơn các mối quan hệ phi tuyến tính, nơi các giá trị văn hóa, xã hội và kinh tế đan xen phức tạp. Cách tiếp cận này xem xét toàn bộ vấn đề nghiên cứu như một hệ sinh thái sống động, trong đó các chủ thể (bên liên quan) tồn tại, tương tác và phụ thuộc lẫn nhau trong một môi trường (khung chính sách, bối cảnh kinh tế - xã hội), cho phép nhà quản lý văn hóa có một cái nhìn toàn diện và năng động hơn.

Để cụ thể hóa, chuyên đề thiết kế và xây dựng “Khung phân tích và hướng tiếp cận hệ sinh thái khai thác NTBDTT” làm công cụ phân tích trung tâm. Sơ đồ này không phải là một bản đồ tĩnh, mà là một mô hình động, mô tả mạng lưới các mối quan hệ và dòng ảnh hưởng giữa bốn tầng lớp chủ thể chính. Đây chính là khung xương sống, có vai trò liên kết toàn bộ các nội dung phân tích của chuyên đề dưới lăng kính quản lý văn hóa.


Hình 1.1: Khung phân tích và hướng tiếp cận hệ sinh thái khai thác NTBDTT gắn với phát triển du lịch. Nguồn: NCS đề xuất

(1) Nhà nước (Nhà Quản lý văn hóa): Ở tầng vĩ mô, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo môi trường và thiết lập “luật chơi” thông qua các công cụ quản lý. Chuyên đề sẽ phân tích vai trò quản trị này qua hai kênh tác động chính. Thứ nhất là việc ban hành Chủ trương, chính sách, vốn tạo ra hành lang pháp lý và định hướng chiến lược cho sự gắn kết giữa văn hóa và du lịch. Thứ hai là các cơ chế quản lý và phân bổ nguồn lực, thể hiện qua sự song hành giữa cơ chế bao cấp cho các đơn vị công lập và chủ trương xã hội hóa nhằm huy động các nguồn lực khác. Việc phân tích các công cụ quản lý này nhằm luận giải cách chúng đã định hình nên cấu trúc, tạo ra cơ hội và áp lực cho các chủ thể bên trong hệ sinh thái.

(2) Bên cung ứng (Công lập và Tư nhân): Đây là các tổ chức trực tiếp tạo ra và cung cấp các sản phẩm NTBDTT. Chuyên đề sẽ tiến hành một phân tích đối sánh sâu về hai mô hình quản lý văn hóa với logic vận hành hoàn toàn khác biệt. Khu vực công lập hoạt động với sứ mệnh hàng đầu là thực hiện nhiệm vụ chính trị, dẫn đến một mô hình quản lý theo định hướng bảo tồn và phổ biến. Ngược lại, khu vực tư nhân vận hành theo logic thương mại, xem NTBDTT là một tài nguyên văn hóa cần được khai thác hiệu quả. Việc phân tích so sánh hai mô hình quản lý này sẽ làm rõ bức tranh

 

cung ứng đa dạng nhưng cũng đầy mâu thuẫn, một thách thức trọng tâm đối với công tác quản lý văn hóa hiện nay.

(3) Cộng đồng sáng tạo (Nghệ nhân, Nghệ sĩ): Đây là nguồn vốn con người cốt lõi, là “trái tim sống” của hệ sinh thái. Chuyên đề sẽ xem xét các thách thức trong việc quản lý và đảm bảo phúc lợi cho cộng đồng này, vốn chịu tác động từ cả hai phía: nhận sự đãi ngộ từ khu vực công và thù lao từ khu vực tư nhân, nhưng thường ở thế yếu và chưa được hưởng lợi một cách tương xứng. Việc phân tích sức khỏe của cộng đồng này – từ động lực sáng tạo đến sự kế thừa – là một nhiệm vụ quản lý quan trọng nhằm đảm bảo sức sống dài hạn của cả hệ sinh thái.

(4) Thị trường cầu (Du khách trong nước và quốc tế): Từ góc độ quản lý văn hóa, việc phân tích thị trường cầu không phải là một mục tiêu kinh tế tự thân, mà là một công cụ quản lý thiết yếu. Chuyên đề sẽ giải mã các tín hiệu từ thị trường như nhu cầu trải nghiệm hay mong muốn nâng cao hiểu biết nhằm cung cấp những luận cứ thực chứng cho việc quản trị sản phẩm văn hóa. Việc thấu hiểu nhu cầu của công chúng và du khách sẽ giúp các nhà quản lý đưa ra những quyết sách phù hợp, điều chỉnh chiến lược tiếp cận, và quan trọng nhất là cân bằng giữa tính toàn vẹn của di sản với kỳ vọng của người thụ hưởng.

Việc áp dụng khung phân tích này cho phép chuyên đề vượt qua cách nhìn nhận các chủ thể một cách biệt lập. Sức mạnh của hệ sinh thái không chỉ nằm ở sức mạnh của từng chủ thể mà nằm ở chất lượng của các mối quan hệ tương tác giữa họ. Do đó, nhiệm vụ cốt lõi của quản lý văn hóa, dưới lăng kính này, không phải là quản lý các thiết chế một cách riêng rẽ, mà là quản trị các giao diện (interfaces) và nuôi dưỡng các mối liên kết giữa các chủ thể. Đây chính là hướng tiếp cận xuyên suốt mà chuyên đề sẽ theo đuổi để liên kết các chương mục, từ phân tích chính sách, thực trạng cung ứng đến nhu cầu thị trường, nhằm luận giải các vấn đề một cách hệ thống và đề xuất các giải pháp mang tính chiến lược.

7. Ý nghĩa của chuyên đề

7.1. Ý nghĩa về mặt học thuật

Chuyên đề cung cấp những dữ liệu thực chứng mới, có giá trị cho lĩnh vực nghiên cứu Quản lý văn hóa và Du lịch tại Việt Nam. Thông qua việc khảo sát trên quy mô lớn và phỏng vấn sâu, chuyên đề đã phác họa được một bức tranh chi tiết về thị trường du lịch NTBDTT tại một đô thị lớn, từ đó lấp đầy khoảng trống nghiên cứu

 

về phía “cầu” (nhu cầu du khách) mà các công trình trước đây còn bỏ ngỏ. Các phát hiện về “khoảng trống trải nghiệm”, nhu cầu tương tác sâu và kỳ vọng tích hợp công nghệ số của du khách là những đóng góp mới, cung cấp luận cứ khoa học cho các nghiên cứu về hành vi khán giả và phát triển sản phẩm du lịch văn hóa trong bối cảnh đương đại.

7.2. Ý nghĩa đối với luận án

Chuyên đề này đóng vai trò là xương sống, cung cấp toàn bộ luận cứ thực tiễn cho các chương cuối của luận án. Các kết quả phân tích về thực trạng và nhu cầu du khách chính là cơ sở dữ liệu nền tảng, giúp kiểm chứng các giả thuyết nghiên cứu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra. Phần biện luận tính mới trong chuyên đề giúp khẳng định và hệ thống hóa những đóng góp cốt lõi của toàn bộ công trình. Quan trọng nhất, chuyên đề là cầu nối vững chắc giữa cơ sở lý luận và thực tiễn, đảm bảo rằng các mô hình và giải pháp được đề xuất trong luận án không chỉ dựa trên lý thuyết mà còn bắt nguồn từ sự thấu hiểu sâu sắc bối cảnh và nhu cầu thực tế của TP.HCM.

7.3. Ý nghĩa đối với cá nhân nghiên cứu sinh

Việc hoàn thành chuyên đề là một cột mốc quan trọng, đánh dấu sự trưởng thành trong năng lực nghiên cứu của NCS dưới sự định hướng, chỉ dẫn tận tình của hai giảng viên hướng dẫn. Quá trình từ thu thập, xử lý, phân tích dữ liệu đa phương pháp đến việc biện luận các kết quả đã giúp NCS rèn luyện tư duy phản biện, kỹ năng tổng hợp và khả năng xây dựng một lập luận khoa học dựa trên bằng chứng cụ thể. Đây là cơ hội để NCS chuyển hóa những kiến thức lý thuyết đã tích lũy thành những phát hiện và đóng góp mới, đồng thời kết nối sâu sắc hơn giữa hoạt động nghiên cứu học thuật và kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực chuyên môn mà bản thân đang gắn bó.

 

II. NỘI DUNG

1. Cơ sở khoa học của chuyên đề

1.1. Một số khái niệm liên quan

1.1.1. Nghệ thuật và di sản văn hóa phi vật thể

Khái niệm “nghệ thuật” (art) là một phạm trù rộng lớn, tồn tại xuyên suốt lịch sử nhân loại và có nhiều cách định nghĩa tùy theo từng trường phái triết học, mỹ học và ngữ cảnh văn hóa, xã hội. Theo nhà mỹ học người Mỹ Monroe Beardsley (1981): “Nghệ thuật là một hình thức biểu hiện sáng tạo, có khả năng truyền tải cảm xúc, tư tưởng và tạo nên giá trị thẩm mỹ cho người tiếp nhận”. Ở cấp độ rộng hơn, nghệ thuật được xem là một hình thái ý thức xã hội, nơi con người phản ánh hiện thực thông qua các hình tượng nghệ thuật, mang lại những giá trị thẩm mỹ và tư tưởng sâu sắc.

Trong bối cảnh đương đại, nhiều loại hình nghệ thuật, đặc biệt là những loại hình gắn liền với bản sắc cộng đồng, được định vị trong một khuôn khổ pháp lý và học thuật quan trọng hơn: Di sản văn hóa phi vật thể (Intangible Cultural Heritage - ICH). Công ước 2003 về Bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO định nghĩa ICH là “các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng cùng với những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và không gian văn hóa có liên quan – được các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ”. Định nghĩa này mang tính đột phá vì nó nhấn mạnh rằng di sản không chỉ là sản phẩm (vật thể) mà còn là quá trình (phi vật thể). Di sản này được “lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường, sự tương tác của họ với tự nhiên và lịch sử của chính họ, mang lại cho họ ý thức về bản sắc và sự kế thừa, qua đó thúc đẩy sự tôn trọng đối với đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người”.

1.1.2. Nghệ thuật biểu diễn truyền thống

Trong năm lĩnh vực chính của Di sản văn hóa phi vật thể mà UNESCO (2003) xác định, “Nghệ thuật biểu diễn” (Performing arts) chiếm một vị trí trung tâm, bao gồm âm nhạc, vũ đạo, sân khấu, kịch và thơ ca. Điều quan trọng trong cách tiếp cận của UNESCO là các loại hình này không chỉ đơn thuần là “buổi trình diễn” cho khán giả, mà còn có thể đóng vai trò cốt yếu trong văn hóa và xã hội, chẳng hạn như các bài hát trong lao động nông nghiệp hay âm nhạc trong các nghi lễ. Cách nhìn nhận này

 

xem nghệ thuật biểu diễn như một thực thể sống, gắn bó hữu cơ với đời sống cộng đồng, thay vì một sản phẩm giải trí đơn thuần.

Khi gắn với yếu tố “truyền thống”, khái niệm “Nghệ thuật biểu diễn truyền thống” dùng để chỉ các loại hình nghệ thuật có nguồn gốc từ cộng đồng, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, đóng vai trò quan trọng trong việc định hình và duy trì bản sắc văn hóa dân tộc. Tại Việt Nam, các loại hình này được pháp luật công nhận và bảo vệ. Luật Di sản văn hóa năm 2024 đã phân loại NTBDTT là một trong những loại hình chính của di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm “âm nhạc, múa, hát, sân khấu truyền thống và các hình thức trình diễn dân gian khác”.

Dựa trên các đặc trưng về nguồn gốc, không gian và phương thức biểu diễn, có thể phân loại NTBDTT thành hai nhóm chính để phục vụ cho mục đích nghiên cứu:

(1) Nghệ thuật sinh hoạt cộng đồng (Community-based Arts): Đặc trưng bởi tính dân gian, ngẫu hứng, không gian biểu diễn linh hoạt và sự tương tác gần gũi giữa người trình diễn và người thưởng thức. Đại diện tiêu biểu nhất cho nhóm này là nghệ thuật ĐCTT. Đây là loại hình nghệ thuật thính phòng, nơi tiếng đờn lời ca hòa quyện trong một không gian thân mật, phản ánh tâm tư, tình cảm của người dân vùng sông nước Nam Bộ.

(2) Nghệ thuật sân khấu chuyên nghiệp hóa (Professionalized Theatrical Arts): Đặc trưng bởi kịch bản có cấu trúc, sân khấu được thiết kế riêng, có sự phân định rõ ràng giữa sân khấu và khán đài, giữa nghệ sĩ và công chúng. Cải lương là đại diện tiêu biểu cho nhóm này. Ra đời vào đầu thế kỷ 20, Cải lương là một loại hình sân khấu độc đáo, là bước phát triển, nâng cấp từ nền tảng âm nhạc của ĐCTT, kết hợp với kịch nghệ phương Tây, phản ánh tinh thần cởi mở, năng động của văn hóa Sài Gòn - Nam Bộ.

Trong khuôn khổ luận án, NCS lựa chọn ĐCTT và Cải lương làm đối tượng nghiên cứu trọng tâm vì tính tiêu biểu, mối quan hệ hữu cơ và tiềm năng ứng dụng trong du lịch (đã được phân tích chi tiết ở phần Đặt vấn đề). Việc xác định đúng bản chất và giá trị của NTBDTT là điều kiện tiên quyết để luận án có thể đề xuất các mô hình khai thác phù hợp với đặc trưng từng loại hình. Nghệ thuật không thể chỉ được nhìn nhận như “sản phẩm giải trí” hay “tài nguyên du lịch”, mà cần được hiểu như một thực thể sống động, gắn với ký ức cộng đồng, không gian văn hóa và môi trường diễn xướng truyền thống. Do đó, khi nghiên cứu khai thác NTBDTT phục vụ phát triển du

 

lịch, cần có sự kết hợp hài hòa giữa bảo tồn bản sắc và đổi mới hình thức thể hiện, giữa nội dung văn hóa truyền thống và nhu cầu tiếp nhận của công chúng hiện đại.

1.1.3. Khai thác

Trong lĩnh vực văn hóa và du lịch, “khai thác” thường được hiểu là quá trình sử dụng có tổ chức và có định hướng các giá trị văn hóa nhằm phục vụ mục đích xã hội, giáo dục, kinh tế hoặc du lịch, trên cơ sở bảo tồn và phát huy giá trị vốn có của di sản. Theo Luật Du lịch Việt Nam (2017), phát triển du lịch phải gắn với bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, khai thác lợi thế của từng địa phương và tăng cường liên kết vùng (Điều 4, khoản 2).

Đối với di sản NTBDTT, khai thác không chỉ là việc tổ chức biểu diễn cho công chúng hoặc khách du lịch, mà còn bao gồm các hoạt động như phục dựng, sáng tạo nội dung mới trên nền chất liệu truyền thống, giới thiệu qua phương tiện truyền thông, phát triển sản phẩm trải nghiệm, và giáo dục công chúng. Trong kinh tế văn hóa, David Throsby (2001) nhấn mạnh rằng: giá trị văn hóa có thể chuyển hóa thành giá trị kinh tế nếu được khai thác đúng cách, nhưng cần phải đảm bảo “sự toàn vẹn văn hóa” của đối tượng được sử dụng.

Đối với NCS, trong nghiên cứu này, khái niệm “khai thác” được tiếp cận không theo hướng khai thác triệt để, mà là quá trình kích hoạt và đồng kiến tạo giá trị của NTBDTT trong môi trường du lịch đô thị. Quá trình đó đòi hỏi sự phối hợp giữa các bên liên quan, khả năng chuyển ngữ văn hóa phù hợp với công chúng hiện đại, và sự thận trọng trong việc giữ gìn bản sắc vốn có của di sản.

1.1.4. Du lịch và du lịch văn hóa

Theo Luật Du lịch (2017), “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá một năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”. Du lịch không chỉ là ngành kinh tế tổng hợp mà còn là không gian giao thoa văn hóa, nơi diễn ra các tương tác xã hội và trao đổi giá trị.

Du lịch văn hóa là một loại hình du lịch đặc trưng, tập trung vào việc khám phá, trải nghiệm các yếu tố văn hóa bản địa như di sản, lễ hội, tín ngưỡng, nghệ thuật dân gian và lối sống cộng đồng. Theo Tổ chức Du lịch Thế giới: “Du lịch văn hóa bao gồm hoạt động của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa

 

như các chương trình nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn, về các lễ hội và các sự kiện văn hóa khác nhau, thăm các di tích và đền đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương” (UNWTO, 2005).

Theo NCS, du lịch văn hóa không chỉ là phương thức phát huy giá trị di sản, mà còn là cơ hội để NTBDTT được tiếp cận với công chúng mới, từ đó tạo ra giá trị xã hội và kinh tế bền vững nếu được tổ chức và quản lý hiệu quả.

1.2. Tiềm năng khai thác một số loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống gắn với du lịch tại TP.HCM

Trên nền tảng ngành du lịch văn hóa đang chuyển mình mạnh mẽ theo hướng sáng tạo và trải nghiệm, việc phân tích tiềm năng của nghệ thuật ĐCTT và Cải lương tại TP.HCM đòi hỏi một cách tiếp cận đa chiều, vượt ra ngoài khuôn khổ của việc đánh giá giá trị nghệ thuật đơn thuần. Tiềm năng, trong phạm vi của luận án này, được định nghĩa không phải là giá trị nội tại của di sản, vốn đã được khẳng định ở chuyên đề trước, mà là khả năng chuyển hóa các giá trị đó thành những sản phẩm du lịch bền vững, có sức hấp dẫn đặc thù và khả thi về mặt kinh tế lẫn quản lý văn hóa trong bối cảnh một siêu đô thị năng động, đa văn hóa như TP.HCM.

Cách tiếp cận này không chỉ nhằm mục đích mô tả tiềm năng mà còn kiến giải các thách thức mang tính cấu trúc, từ đó đề xuất những định hướng chiến lược khả dĩ. Như học giả Lê Thị Hải Lý (2015) đã chỉ ra, trong văn hóa du lịch, “khai thác được đi liền với bảo tồn; tôn tạo luôn phải tôn trọng cái gốc của tài nguyên”. Đây chính là nguyên tắc kim chỉ nam cho việc phân tích tiềm năng của ĐCTT và Cải lương, nhằm biến di sản thành tài sản du lịch mà không làm phai mờ bản sắc.

1.2.1. Tiềm năng khai thác nghệ thuật Đờn ca tài tử

Tiềm năng khai thác ĐCTT trong lĩnh vực du lịch tại TP.HCM trước hết bắt nguồn từ một hệ sinh thái văn hóa (cultural ecosystem) vững chắc và một khả năng thích ứng vượt trội, cho phép loại hình nghệ thuật này không chỉ tồn tại mà còn phát triển trong những điều kiện đa dạng của một siêu đô thị. Nền tảng của hệ sinh thái này là một cộng đồng thực hành đông đảo và tâm huyết, tạo nên một nguồn “vốn xã hội” và “vốn con người” vô cùng quý giá. Theo thống kê của Trung tâm Văn hóa TP.HCM năm 2024, thành phố hiện có 229 câu lạc bộ (CLB) và 84 đội nhóm ĐCTT với tổng số

1.226 thành viên đang hoạt động, trong đó có 6 Nghệ nhân nhân dân và 13 Nghệ nhân ưu tú. Lực lượng này, dù phần lớn hoạt động theo hình thức bán chuyên, chính là

 

nguồn cung dồi dào và linh hoạt cho các hoạt động biểu diễn phục vụ du lịch, là “hậu phương vững chắc cho toàn bộ hệ thống văn hóa cơ sở” (Trích biên bản phỏng vấn, Bà Nguyễn Thị Hoài Phượng).

Theo NCS, một trong những tiềm năng lớn nhất của ĐCTT tại TP.HCM đến từ chính sự phi tập trung của hệ sinh thái này. Sức mạnh của ĐCTT nằm ở mạng lưới CLB được phân bổ rộng khắp thành phố, từ những khu vực trung tâm sầm uất đến các vùng ven mang dáng dấp nông thôn, mở ra tiềm năng to lớn cho việc kiến tạo các sản phẩm du lịch đa dạng, mang tính địa phương hóa cao. Đặc tính nổi bật nhất của ĐCTT chính là tính linh hoạt và không bị ràng buộc bởi một không gian sân khấu cố định. Như nhận định của nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Hải Phượng (2018), ĐCTT “tương đối dễ học, dễ thực hành hơn... Môi trường diễn xướng của ĐCTT cũng phong phú, có thể đờn ca bất kỳ thời điểm nào trong ngày và bất cứ ở đâu”. Chính khả năng thích ứng này cho phép ĐCTT sinh tồn và phát triển trong nhiều “hốc sinh thái” (niche) khác nhau của môi trường du lịch đô thị, mở ra những tiềm năng khai thác đa dạng:

Hốc sinh thái Đô thị - Sáng tạo: Đây là nơi tiềm năng của ĐCTT được khai thác một cách độc đáo nhất, thông qua việc tạo ra sự tương phản thú vị giữa truyền thống và hiện đại. Sản phẩm tiêu biểu nhất là tour du lịch đường thủy trên sông Sài Gòn, nơi du khách được thưởng thức những giai điệu tài tử giữa lòng một đô thị hiện đại. Trải nghiệm này kể một câu chuyện về sức sống của thành phố, biến một không gian đô thị quen thuộc thành một sân khấu sống động, gây ấn tượng mạnh với du khách. Tương tự, các chương trình tại Chợ Hoa Xuân “Trên bến dưới thuyền” cũng là một ví dụ điển hình, nơi ĐCTT được kết hợp với công nghệ hiện đại, tạo ra một không gian nghệ thuật sống động, thu hút đông đảo công chúng.

Hốc sinh thái Di sản - Văn hóa: Trong hốc sinh thái này, ĐCTT được tích hợp vào các điểm đến văn hóa để làm giàu và hoàn thiện trải nghiệm của du khách. Một ví dụ thành công là chương trình “Ngắm trăng, nghe ĐCTT” tại Bảo tàng Áo dài (TP. Thủ Đức). Tiềm năng ở đây nằm ở khả năng kết hợp (bundling) ĐCTT với các yếu tố khác như ẩm thực, thời trang, kiến trúc để tạo ra một gói trải nghiệm văn hóa hoàn chỉnh, có giá trị gia tăng cao.

Hốc sinh thái Miệt vườn - Thư giãn: TP.HCM sở hữu lợi thế đặc biệt là có cả không gian “nông thôn trong lòng đô thị” tại các khu vực ngoại thành như Củ

 

Chi, Hóc Môn. Điều này tạo ra một hốc sinh thái lý tưởng để khai thác ĐCTT gắn liền với du lịch sinh thái. Các mô hình tại Khu du lịch Bình Quới hay các vườn cây ăn trái ở Củ Chi là minh chứng rõ nét. Lợi thế cạnh tranh của mô hình này nằm ở sự tiện lợi, giúp du khách có lịch trình eo hẹp vẫn có thể tận hưởng trải nghiệm “miệt vườn” ngay tại thành phố.

Hốc sinh thái Cộng đồng - Chân thực: Đáp ứng xu hướng du lịch toàn cầu đang tìm kiếm những kết nối chân thực, những trải nghiệm văn hóa không qua dàn dựng (authentic, non-staged experiences). Tiềm năng này nằm ở việc phát triển các sản phẩm du lịch cộng đồng, nơi du khách có thể trực tiếp tham gia vào đời sống văn hóa địa phương, ví dụ như hoạt động của CLB ĐCTT tại ấp Thiềng Liềng, Cần Giờ.

Về phía cầu (demand), nhu cầu thưởng thức ĐCTT là có thật và đến từ nhiều phân khúc thị trường. Đối với du khách quốc tế, ĐCTT là một trải nghiệm văn hóa độc đáo, giúp họ khám phá chiều sâu tâm hồn và bản sắc con người Nam Bộ. Việc di sản này được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại là một “bảo chứng thương hiệu” quốc tế, làm tăng thêm giá trị và sức hấp dẫn của nó. Sức truyền cảm của giai điệu có thể vượt qua rào cản ngôn ngữ, như chia sẻ của NNND Thanh Tuyết, khi ca một đoạn trong “Dạ cổ hoài lang”, “dù không hiểu một chữ, nhiều vị khách Tây đã rưng rưng nước mắt” (Trích biên bản phỏng vấn). Đối với du khách nội địa, ĐCTT được xem là một “đặc sản” văn hóa phương Nam không thể bỏ lỡ. Nhà nghiên cúu Mai Mỹ Duyên cũng khẳng định tiềm năng này: “Khối lượng công chúng, khán giả là có sẵn. Nếu chúng ta nhắm vào du lịch đối với du khách trong nước, thì hai loại hình này không hề xa lạ trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân Nam Bộ và cũng không xa lạ với người dân cả nước” (Trích biên bản phỏng vấn). Một tiềm năng quan trọng khác, như nhà nghiên cứu Lê Hồng Phước đã chỉ ra,

là sự cần thiết phải kiến tạo một bản sắc riêng cho ĐCTT tại TP.HCM. Ông cho rằng: “ĐCTT ở Sài Gòn phải mang không gian của thành thị... Nếu về Sài Gòn mà cũng “nhái” theo kiểu miền Tây thì thứ nhất là không đúng với thực trạng lịch sử của ĐCTT Sài Gòn, thứ hai là du khách sẽ thấy không có gì mới lạ” (Trích biên bản phỏng vấn). Luận điểm này cho thấy tiềm năng không chỉ nằm ở việc sao chép mô hình miệt vườn, mà ở việc khai thác chính lịch sử tồn tại của ĐCTT trong không gian đô thị, từ những buổi tao đàn của giới trí thức xưa đến các CLB trong các quán cà phê, nhà văn

 

hóa ngày nay. Điều này sẽ tạo ra một sản phẩm khác biệt, có sức cạnh tranh cao và tôn trọng tính xác thực của di sản.

1.2.2. Tiềm năng khai thác nghệ thuật Cải lương

Khác với ĐCTT, tiềm năng của Cải lương tại TP.HCM lại gắn liền với các nguồn lực mang tính thể chế và một vị thế trung tâm. Nguồn lực lớn nhất và mang tính biểu tượng chính là hệ thống hạ tầng và nhân lực tập trung. Thành phố sở hữu Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang, một đơn vị nghệ thuật công lập được đầu tư xây mới khang trang, đóng vai trò chủ lực. Về nhân lực, không thể phủ nhận TP.HCM là “thủ phủ” của Cải lương, nơi quy tụ lực lượng nghệ sĩ, soạn giả, đạo diễn, nhạc công hùng hậu và tài năng nhất cả nước. Ông Phan Quốc Kiệt, Giám đốc Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang tự hào chia sẻ với NCS về tài sản quý giá nhất của nhà hát là đội ngũ nghệ sĩ chất lượng bậc nhất với 12 Nghệ sĩ Ưu tú trong biên chế (Trích biên bản phỏng vấn). Bên cạnh lực lượng công lập, sức sống của Cải lương còn được duy trì mạnh mẽ bởi các đoàn xã hội hóa và gánh hát tuồng cổ như Huỳnh Long, Chí Linh - Vân Hà, với những suất diễn thường xuyên “cháy vé”. Sự hội tụ của các nguồn lực đỉnh cao này tạo ra một tiềm năng to lớn, cho phép TP.HCM có đủ “nguyên liệu” để tạo ra những sản phẩm Cải lương ở đẳng cấp nghệ thuật cao nhất.

Mặc dù đối mặt với những thách thức của môi trường giải trí đương đại, Cải lương lại sở hữu một tiềm năng to lớn để trở thành một sản phẩm du lịch văn hóa chủ lực, một sự kiện văn hóa đỉnh cao cho TP.HCM, tương tự vai trò của nghệ thuật múa rối nước ở Hà Nội. Tiềm năng này đến từ chính đặc tính nghệ thuật tổng hợp của Cải lương: sự kết hợp hài hòa của ca, vũ, nhạc, kịch, cùng với trang phục lộng lẫy và kỹ thuật sân khấu ấn tượng. Đối với du khách, đặc biệt là khách quốc tế, một vở Cải lương được dàn dựng công phu có thể mang lại một trải nghiệm văn hóa toàn diện, đầy cảm xúc và choáng ngợp về mặt thị giác.

Lịch sử của Cải lương vốn gắn liền với giới trí thức, thượng lưu Sài Gòn xưa. Tác giả Nguyễn Đức Hiệp (2017) ghi nhận: “Sự lên ngôi và được chấp nhận của cải lương như hình thái sân khấu mới từ giới thượng lưu và trí thức trong xã hội Nam Kỳ xảy ra nhanh chóng chỉ trong vài năm sau khi ra đời”. Vị thế lịch sử này, cùng với “khả năng tiếp biến mạnh mẽ mọi giá trị văn hóa thời đại” như Huỳnh Quốc Thắng (2025) nhận định, chính là nền tảng cho tiềm năng phát triển các sản phẩm du lịch sang trọng, có chiều sâu.

 

Bằng chứng thuyết phục nhất cho tiềm năng này đến từ chính sự thành công của khu vực tư nhân. Ông Phan Quốc Kiệt chỉ ra: “Các nhà hàng sang trọng, các du thuyền trên sông Sài Gòn... họ đã và đang tích hợp Cải lương, nhạc tài tử vào sản phẩm của mình và bán rất thành công cho du khách. Điều này cho thấy du khách sẵn sàng chi trả cho trải nghiệm nghệ thuật truyền thống” (Trích biên bản phỏng vấn). Điều này chứng tỏ một thị trường là có thật, và tiềm năng nằm ở việc “đóng gói” sản phẩm một cách phù hợp: những trích đoạn ngắn, biểu diễn trong không gian ẩm thực, có thuyết minh, thay vì những vở diễn dài hàng giờ đồng hồ. Nhà nghiên cứu Mai Mỹ Duyên cũng nhấn mạnh về giá trị kinh tế nội tại của Cải lương: “Cải lương, từ khi ra đời, đã là một sản phẩm chuyên nghiệp. Đội ngũ làm nghề Cải lương phải sống bằng nghề, cho nên họ phải bán vé, phải có doanh thu, phải tổ chức quảng bá, tiếp thị để làm sao cho nó trở thành một sản phẩm kinh tế đặc thù, có thể tồn tại được trong nền kinh tế thị trường” (Trích biên bản phỏng vấn). Những yếu tố này khẳng định Cải lương hoàn toàn có tiềm năng trở thành một sản phẩm du lịch văn hóa đỉnh cao, mang lại giá trị kinh tế và bản sắc cho thành phố.

2. Những chủ trương, chính sách về khai thác và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống gắn với du lịch

2.1. Những chủ trương, chính sách cấp Trung ương

Trong khoảng một thập niên trở lại đây, Việt Nam đã từng bước định hình và cụ thể hóa các chủ trương, chính sách cấp Trung ương nhằm nâng cao vai trò của văn hóa, đặc biệt là nghệ thuật truyền thống trong chiến lược phát triển quốc gia. Nếu như trước kia, văn hóa thường được tiếp cận chủ yếu từ khía cạnh bảo tồn, lưu giữ các giá trị phi vật thể, thì nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội bền vững, tư duy chính sách đã có sự mở rộng đáng kể. Văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội, mà còn được xem như một nguồn lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng sáng tạo, xây dựng bản sắc quốc gia, đồng thời tạo ra giá trị gia tăng thông qua phát triển công nghiệp văn hóa và du lịch. Trong xu thế đó, NTBDTT – với những giá trị lịch sử, thẩm mỹ và cộng đồng sâu sắc ngày càng được chú trọng hơn trong các định hướng phát triển dài hạn.

 


 

Hình 2.1: Sơ đồ những chủ trương, chính sách cấp Trung ương liên quan đến phát huy NTBDTT gắn với phát triển du lịch. Nguồn: NCS tổng hợp

Sơ đồ trên đã trực quan hóa rõ nét một quá trình hoạch định chính sách liên tục và có tính hệ thống của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn 10 năm gần đây. Sự xuất hiện của hàng loạt các văn bản quan trọng, từ các Nghị quyết của Đảng đến các Quyết định, Chỉ thị của Chính phủ, cho thấy sự quan tâm sâu sắc và một định hướng chiến lược nhất quán nhằm nâng tầm vai trò của văn hóa, gắn kết di sản với du lịch để tạo thành động lực phát triển kinh tế - xã hội. Để đi vào phân tích sâu hơn các văn bản này, bảng 2.1 dưới đây sẽ hệ thống hóa các nội dung trọng tâm và làm rõ ý nghĩa của từng chính sách đối với luận án, làm nền tảng để phân tích sâu hơn trong các phần tiếp theo của chuyên đề.

Bảng 2.1: Các Chủ trương, chính sách cấp Trung ương liên quan đến phát huy NTBDTT gắn với phát triển du lịch

Năm Số văn bản Cấp ban

hành Nội dung trọng tâm Ý nghĩa đối với luận án

2014 Nghị quyết số

33-NQ/TW

ngày 9/6/2014 Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Đặt nền móng tư duy, xem văn hóa là động lực phát triển, tạo tiền đề cho việc kết nối văn hóa với kinh tế, du lịch.

 


2015 Quyết định số 14/2015/QĐ-

TTg ngày 20/5/2015 Thủ tướng Chính phủ Quy định chế độ phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp và chế độ bồi dưỡng đối với người làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn. Cung cấp cơ sở pháp lý để phân tích thực trạng và những bất cập trong chính sách đãi ngộ nghệ sĩ – một bên liên quan cốt lõi trong hệ sinh thái.

2016 Quyết định số 1755/QĐ-TTg

ngày 8/9/2016 Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến 2020, tầm nhìn đến 2030. Đề xuất các giải pháp phát triển thị trường, đào tạo nhân lực, ứng dụng công nghệ, thu hút đầu tư, hợp tác quốc tế, bảo tồn nghệ thuật truyền thống kết hợp đương đại, khuyến khích doanh nghiệp. Là văn bản then chốt, định danh NTBDTT và du lịch văn hóa là các ngành công nghiệp, cung cấp các mục tiêu định lượng để đối sánh với thực tiễn.

2017 Nghị quyết số

08-NQ/TW

ngày 16/01/2017 Bộ Chính trị Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, trong đó có mục tiêu bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, tạo ra những sản phẩm cạnh tranh được với các nước trong khu vực. Khẳng định vai trò trung tâm của du lịch, tạo ra một “lực đẩy” chính sách mạnh mẽ, thúc đẩy các địa phương phải tích hợp các tài nguyên (trong đó có văn hóa) vào phát triển du lịch.

2020 Quyết định số 3767/QĐ- BVHTTDL

ngày 11/12/2020 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phê duyệt Đề án xây dựng thương hiệu quốc gia về du lịch văn hóa, với mục tiêu định vị du lịch văn hóa Việt Nam dựa trên giá trị di sản. Đến năm 2030, ngành du lịch văn hóa phấn đấu chiếm 20 – 25% tổng doanh thu du lịch quốc gia. Cung cấp khung chiến lược về xây dựng thương hiệu, làm cơ sở để đánh giá các nỗ lực xây dựng sản phẩm du lịch NTBDTT đặc thù của TP.HCM.

2021 Quyết định số 1909/QĐ-TTg

ngày 12/11/2021 Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030. Mục tiêu xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam toàn diện, nâng cao đời sống tinh thần, hoàn thiện cơ chế thị trường trong lĩnh vực văn hóa, ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp văn hóa có tiềm năng, lợi thế. Tái khẳng định và cập nhật các định hướng dài hạn, cho thấy sự nhất quán và tiếp nối của chính sách, củng cố luận điểm về một môi trường vĩ mô thuận lợi.

 


2024 Chỉ thị số

08/CT-

TTg ngày 23/2/2024 Thủ tướng Chính phủ Về phát triển du lịch toàn diện, nhanh và bền vững thời gian tới. Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tích hợp di sản văn hóa vào sản phẩm du lịch, tạo động lực mới cho sự phát triển bền vững du lịch văn hóa. Là văn bản cập nhật nhất, nhấn mạnh sự tích hợp, cung cấp tính thời sự cho các phân tích và đề xuất của luận án.

Nguồn: NCS tổng hợp

Nghị quyết số 33-NQ/TW ban hành năm 2014 của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định một cách rõ ràng rằng: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”. Sự bổ sung cụm từ “vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển đất nước” bên cạnh “nền tảng tinh thần của xã hội” không chỉ là một thay đổi về ngôn ngữ mà còn biểu thị một sự tái đánh giá chiến lược ở cấp độ chính trị cao nhất. Điều này cho thấy các tài sản văn hóa, bao gồm NTBDTT, không chỉ là di sản cần được gìn giữ một cách thụ động mà còn là những nguồn lực chủ động, có khả năng tạo ra giá trị kinh tế và đóng góp vào sự phát triển chung của quốc gia. Sự chuyển đổi này tạo ra một tiền đề quan trọng, khuyến khích việc tích hợp văn hóa vào các chiến lược phát triển kinh tế, đặc biệt là thông qua ngành du lịch. Đối với các loại hình NTBDTT như ĐCTT và Cải lương, điều này có nghĩa là chúng ngày càng được nhìn nhận như những tài sản có thể được khai thác để tạo ra lợi ích kinh tế, đặc biệt là thông qua du lịch, thay vì chỉ đơn thuần là đối tượng cần bảo tồn. Sự thay đổi này mở ra những con đường mới cho việc huy động nguồn lực và sự tham gia của công chúng, song cũng tiềm ẩn những rủi ro về thương mại hóa.

Để cụ thể hóa định hướng chiến lược nêu trên, Chính phủ và các cấp chính quyền đã ban hành nhiều văn bản quan trọng, tập trung vào phát triển công nghiệp văn hóa nói chung và du lịch văn hóa nói riêng. Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 8 tháng 9 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 là một trong những văn bản mang tính đột phá. Chiến lược này đã xác định nghệ thuật biểu diễn và du lịch văn hóa là những ngành công nghiệp văn hóa trọng điểm, với các mục tiêu doanh thu cụ thể: Ngành nghệ thuật biểu diễn được đặt mục tiêu đạt doanh thu khoảng 16 triệu USD vào năm 2020 và 31 triệu USD vào năm 2030; trong khi du lịch văn hóa

 

được kỳ vọng chiếm 10-15% tổng thu từ khách du lịch vào năm 2020 và 15-20% vào

năm 2030.

Việc đặt ra các mục tiêu tài chính rõ ràng cho nghệ thuật biểu diễn và du lịch văn hóa trong chiến lược công nghiệp văn hóa cho thấy một sự chuyển đổi đáng kể từ các tuyên bố chính sách rộng lớn sang các mục tiêu kinh tế có thể định lượng được. Điều này tạo ra một áp lực kép: vừa phải bảo tồn tính chân thực của nghệ thuật, vừa phải thương mại hóa và mở rộng quy mô để phục vụ du lịch. Sự thay đổi này không chỉ đơn thuần là quảng bá hay bảo tồn mà còn là sự “công nghiệp hóa” văn hóa một cách chủ động. Đối với nghệ thuật truyền thống, điều này đặt ra một thách thức lớn. Bản chất của các loại hình nghệ thuật truyền thống, thường có nhịp điệu chậm, gắn liền với các nghi lễ cộng đồng và không phải lúc nào cũng được thiết kế cho sự tiêu thụ đại chúng, có thể xung đột với yêu cầu của một ngành công nghiệp định hướng doanh thu. Sự xung đột này có thể dẫn đến việc đơn giản hóa, rút gọn hoặc thậm chí làm biến dạng các hình thức nghệ thuật để phù hợp với thị hiếu của du khách, từ đó có nguy cơ làm mất đi giá trị nguyên bản mà các nghiên cứu sinh thường quan ngại. Tuy nhiên, sự định hướng này cũng mang lại động lực rõ ràng cho việc đầu tư và đổi mới, ví dụ như tạo ra các sản phẩm mới hoặc cải thiện hoạt động tiếp thị.

Trong bối cảnh các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, các quy định cụ thể đã được ban hành nhằm tạo điều kiện cho NTBDTT phát triển, trong đó có ĐCTT và Cải lương. Một trong những quy định đáng chú ý là Quyết định số 14/2015/QĐ-TTg ngày 20 tháng 5 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp và chế độ bồi dưỡng đối với người làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn. Văn bản này được ban hành với mục đích cải thiện đời sống cho nghệ sĩ, từ đó khuyến khích họ yên tâm cống hiến cho nghề. Tuy nhiên, theo nhận định của nghiên cứu sinh, mặc dù có chính sách này, mức bồi dưỡng và phụ cấp cho nghệ sĩ vẫn còn thấp, không theo kịp với sự phát triển của thị trường, dẫn đến tình trạng đa số văn nghệ sĩ chưa thể sống được với chế độ lương cơ bản. Sự chênh lệch giữa mục tiêu chính sách là hỗ trợ nghệ sĩ và thực tế triển khai cho thấy một khoảng cách đáng kể trong việc thực thi chính sách. Sự thiếu hụt về tài chính này trực tiếp ảnh hưởng đến tính bền vững của nghệ thuật truyền thống, làm giảm động lực cho các thế hệ trẻ theo đuổi sự nghiệp này và buộc nhiều nghệ sĩ hiện tại phải từ bỏ nghề để tìm kiếm sinh kế khác. Điều này dẫn đến tình trạng “chảy máu chất xám” trong lĩnh vực nghệ thuật truyền

 

thống, làm suy yếu nghiêm trọng các nỗ lực bảo tồn dài hạn. Nếu không có một nguồn nhân lực ổn định và được đãi ngộ xứng đáng, chất lượng và sự sống động của các buổi biểu diễn ĐCTT và Cải lương sẽ suy giảm, làm mất đi sức hấp dẫn đối với du khách.

Bên cạnh đó, Quyết định 1909/QĐ-TTg ngày 12 tháng 11 năm 2021 của Phó Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 cũng củng cố thêm định hướng này, với mục tiêu xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam toàn diện, nâng cao đời sống tinh thần, hoàn thiện cơ chế thị trường trong lĩnh vực văn hóa, và ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp văn hóa có tiềm năng. Gần đây nhất, Chỉ thị 08/CT-TTg ban hành năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển du lịch toàn diện, nhanh và bền vững cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tích hợp di sản văn hóa vào sản phẩm du lịch, tạo động lực mới cho sự phát triển bền vững của du lịch văn hóa. Điều này cho thấy NTBDTT được xem là một phần quan trọng của công nghiệp văn hóa, có vai trò then chốt trong việc thu hút khách du lịch và góp phần vào tăng trưởng kinh tế.

Quan điểm của NCS về những chủ trương, chính sách cấp Trung ương

Từ góc độ của NCS, các chủ trương, chính sách cấp Trung ương về văn hóa, nghệ thuật và du lịch trong giai đoạn 2014 - 2024 đã thể hiện sự quan tâm và định hướng chiến lược rõ ràng.

- Đánh giá về tính đồng bộ và hiệu quả: NCS nhận thấy rằng Đảng và Nhà nước đã xây dựng một chủ trương và nền tảng chính trị vững chắc cho công tác bảo tồn, phát huy và phát triển các loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống, trong đó có ĐCTT và Cải lương. Các chính sách này đã tập trung vào các khía cạnh quan trọng như giáo dục nghệ thuật, đổi mới sáng tạo, thúc đẩy hoạt động văn hóa nghệ thuật theo cơ chế thị trường, và gia tăng nguồn lực về tài chính, cơ sở vật chất và con người. Điều này cho thấy một tầm nhìn chiến lược nhằm nâng cao vị thế của văn hóa và nghệ thuật trong sự phát triển chung của đất nước.

- Hạn chế trong cụ thể hóa và thực thi: Công tác bảo tồn và phát huy nghệ thuật sân khấu truyền thống vẫn chưa đạt được kết quả mong muốn. Phân tích sâu hơn cho thấy nguyên nhân chính nằm ở những hạn chế trong việc cụ thể hóa và thực thi các chính sách này. Cụ thể, đầu tư vào thiết chế văn hóa còn thấp, dẫn đến việc thiếu hụt cơ sở vật chất cần thiết để duy trì và phát triển nghệ thuật. Các tác phẩm chất lượng cao còn ít phản ánh sự thiếu hụt trong đầu tư vào sáng tạo và đổi mới nghệ thuật. Đặc

 

biệt, hoạt động khai thác nghệ thuật truyền thống phục vụ du lịch chưa được đẩy mạnh và không có thế hệ kế thừa. Những vấn đề này không phải là những thiếu sót nhỏ mà là những điểm yếu mang tính hệ thống, ảnh hưởng đến khả năng tồn tại và phát triển của nghệ thuật truyền thống.

Những phân tích này chỉ ra rằng, mặc dù có khung chính sách cấp cao, việc thiếu đầu tư vào cơ sở hạ tầng văn hóa và sự hỗ trợ không đầy đủ cho nghệ sĩ là những nguyên nhân gốc rễ làm cho ngành nghệ thuật truyền thống không thể phát triển như mong đợi. Điều này có nghĩa là tầm nhìn lớn về công nghiệp văn hóa và phát triển du lịch có thể sẽ chỉ dừng lại ở mức độ lý thuyết nếu các vấn đề cơ bản về nguồn lực và con người không được giải quyết một cách triệt để.

2.2. Những chủ trương, kế hoạch của Thành phố Hồ Chí Minh

Với vai trò đầu tàu kinh tế và văn hóa của cả nước, TP.HCM đã thể hiện sự chủ động, nhanh chóng trong việc cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Trung ương thành những kế hoạch hành động mang tính thực tiễn, phù hợp với bối cảnh đặc thù của một siêu đô thị. Các văn bản được ban hành trong 10 năm gần đây cho thấy một lộ trình chính sách ngày càng rõ nét và có tính liên kết, từ việc đặt nền móng tư tưởng đến các kế hoạch liên ngành và cuối cùng là một chiến lược tổng thể về công nghiệp văn hóa. Các văn bản dưới đây cho thấy định hướng rõ ràng của thành phố trong việc phát huy giá trị di sản văn hóa phục vụ mục tiêu phát triển bền vững.

Bảng 2.2: Những chủ trương, kết hoạch của TP.HCM liên quan đến phát huy NTBDTT gắn với phát triển du lịch

Năm Số văn bản Cấp ban

hành Nội dung trọng tâm Ý nghĩa đối với luận án





2015


Quyết  định  số

5338 -

QĐ/UBND

ngày 21/10/2015



UBND TP.HCM Chương trình hành động số 45 về thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW. Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân thiện mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc. Phát triển hài hòa giữa

kinh tế và văn hóa. Thể hiện sự cụ thể hóa chủ trương của Trung ương tại địa phương, là văn bản nền tảng cho thấy định hướng của TP.HCM trong việc phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa, tạo cơ sở pháp lý ban đầu cho việc quản lý và

khai thác di sản.



2020 Kế hoạch số 5644/KHLT- SVHTT-SDL

ngày 22/9/2020 Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM

& Sở Du lịch Kế hoạch liên tịch về biểu diễn nghệ thuật truyền thống phục vụ phát triển du lịch. Phát huy sự đặc sắc văn hóa nghệ thuật Nam Bộ, tăng cường gắn Là minh chứng rõ nét nhất cho sự hợp tác liên ngành giữa văn hóa và du lịch, cung cấp một khuôn khổ hành động cụ thể để đánh giá mức độ hiệu quả

 


TP.HCM kết văn hóa nghệ thuật với du lịch, khuyến khích đầu tư chương trình phù hợp du lịch. của sự phối hợp giữa các bên liên quan cấp thành phố.





2021


Kế hoạch số

4311/KH-

UBND ngày 20/12/2021



UBND TP.HCM Kế hoạch triển khai Đề án phát triển du lịch thông minh trên địa bàn TP.HCM giai đoạn 2021- 2025. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, số hóa dữ liệu du lịch, tăng cường hợp tác và kết nối dữ liệu để phát triển du lịch bền vững. Cung cấp cơ sở chính sách cho các đề xuất về ứng dụng công nghệ số (AR, VR, app...) trong việc nâng cao trải nghiệm du lịch NTBDTT, đối chiếu với nhu cầu thực tế của du khách đã được khảo sát.






2022



Kế hoạch bảo tồn nghệ thuật Đờn ca tài tử đến 2025



Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM Kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Nghệ thuật ĐCTT Nam Bộ trên địa bàn TP.HCM đến năm 2025. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, tạo điều kiện thực hành, lưu truyền, sáng tạo. Nghiên cứu đưa các hình thức trình diễn ĐCTT kết hợp vào phát triển du lịch. Là văn bản chuyên biệt cho một trong hai đối tượng nghiên cứu chính của chuyên đề (ĐCTT), cho thấy sự nhận diện của thành phố về tiềm năng du lịch của di sản này và là cơ sở để đánh giá các hoạt động bảo tồn thực tế.






2023



Quyết định 4853/QĐ-

UBND ngày 25/10/2023




UBND TP.HCM Phê duyệt Đề án Phát triển ngành công nghiệp văn hóa TP.HCM đến năm 2030. Mục tiêu đưa TP.HCM thành trung tâm công nghiệp văn hóa, tập trung phát triển du lịch văn hóa và nghệ thuật biểu diễn. Khuyến khích xã hội hóa, xây dựng sản

phẩm và thương hiệu đặc sắc. Là văn bản chiến lược quan trọng nhất ở cấp độ thành phố, định vị NTBDTT và du lịch văn hóa là trọng tâm của ngành công nghiệp văn hóa, tạo ra một môi trường chính sách thuận lợi và các mục tiêu rõ ràng để chuyên đề đối sánh, phân tích.

Nguồn: NCS tổng hợp

Ngay sau khi có Nghị quyết 33-NQ/TW, thành phố đã ban hành Quyết định số 5338/QĐ-UBND (2015) về Chương trình hành động số 45-CTr/TU, đặt nền móng cho việc phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa, khẳng định vai trò của văn hóa nghệ thuật trong việc bồi đắp tâm hồn và đảm bảo quyền hưởng thụ cho người dân. Đây là bước đi đầu tiên, mang tính định hướng, thể hiện sự tiếp thu và cam kết của thành phố đối với chủ trương lớn của Đảng.

 

Trên nền tảng đó, một bước tiến quan trọng mang tính thực tiễn đã được thực hiện thông qua Kế hoạch liên tịch số 5644/KHLT-SVHTT-SDL (2020). Văn bản này đánh dấu một cột mốc quan trọng khi lần đầu tiên có sự “bắt tay” chính thức giữa hai cơ quan đầu ngành là Sở Văn hóa và Thể thao và Sở Du lịch. Kế hoạch này đã chuyển hóa định hướng chung thành các hành động cụ thể như khảo sát, xây dựng điểm diễn, và quảng bá, cho thấy một nỗ lực rõ ràng nhằm phá vỡ sự ngăn cách cố hữu giữa hai lĩnh vực, hướng tới việc tạo ra các sản phẩm du lịch văn hóa thực thụ.

Song song với nỗ lực liên kết ngành, thành phố cũng cho thấy sự quan tâm đến việc bảo tồn chiều sâu của từng loại hình di sản. Kế hoạch bảo tồn nghệ thuật Đờn ca tài tử đến năm 2025 (2022) là một minh chứng. Kế hoạch này không chỉ tập trung vào việc bảo tồn, truyền dạy mà còn nhấn mạnh mục tiêu nghiên cứu, đưa các hình thức trình diễn ĐCTT vào phát triển du lịch. Điều này cho thấy một tư duy quản lý văn hóa ngày càng tinh tế: bảo tồn không tách rời phát huy, và phát huy phải dựa trên sự thấu hiểu giá trị cốt lõi của di sản.

Nhận thức được xu thế toàn cầu, thành phố cũng không đứng ngoài cuộc cách mạng số. Kế hoạch triển khai Đề án phát triển du lịch thông minh (2021), dù không trực tiếp nhắm vào NTBDTT, lại có ý nghĩa chiến lược trong việc tạo ra một hệ sinh thái hỗ trợ. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và số hóa dữ liệu đã cung cấp nền tảng hạ tầng và tư duy cần thiết để hiện đại hóa cách thức quảng bá và nâng cao trải nghiệm du lịch văn hóa, mở đường cho các giải pháp công nghệ mà chuyên đề sẽ đề xuất.

Cuối cùng, tất cả những nỗ lực trên đã hội tụ và được nâng lên một tầm cao mới với sự ra đời của Đề án Phát triển ngành công nghiệp văn hóa TP.HCM đến năm 2030 (2023). Đây là văn bản mang tính chiến lược toàn diện và triển vọng nhất, chính thức định vị du lịch văn hóa và nghệ thuật biểu diễn là những ngành kinh tế mũi nhọn. Đề án này không chỉ tổng hợp các định hướng trước đó mà còn mở ra những cơ chế mới như khuyến khích xã hội hóa mạnh mẽ, đặt hàng sản phẩm, và xây dựng thương hiệu, thể hiện quyết tâm chính trị cao nhất trong việc biến di sản thành tài sản, đưa TP.HCM trở thành một trung tâm công nghiệp văn hóa của khu vực.

Các kế hoạch của TP.HCM cho thấy một cách tiếp cận chi tiết và định hướng hành động hơn so với các chỉ thị cấp trung ương. Thành phố đã chuyển từ các nhiệm vụ văn hóa rộng lớn sang các kế hoạch cụ thể để tích hợp các loại hình nghệ thuật truyền thống vào các sản phẩm du lịch và phát triển các ngành công nghiệp văn hóa.

 

Sự định hướng chiến lược cục bộ này là yếu tố then chốt cho việc triển khai thực tế, vì nó chuyển đổi các tầm nhìn quốc gia thành các dự án và sự hợp tác cụ thể. Kế hoạch bảo tồn ĐCTT vẫn đang ở giai đoạn nghiên cứu đưa các hình thức trình diễn kết hợp vào phát triển du lịch, cho thấy đây vẫn là một định hướng chứ chưa phải là một kế hoạch triển khai cụ thể. Thành công của các chính sách này sẽ phụ thuộc vào khả năng và nguồn lực của các cơ quan thực thi để chuyển đổi các chỉ thị chiến lược thành các dự án có thể hành động, được tài trợ đầy đủ và quản lý tốt, đồng thời vẫn tôn trọng tính toàn vẹn của hình thức nghệ thuật trong khi đáp ứng nhu cầu của du khách.

- Quan điểm của nghiên cứu sinh về những chủ trương, kế hoạch tại TP. Hồ

Chí Minh

Từ góc độ của NCS, các chủ trương, kế hoạch của TP.HCM trong việc khai thác NTBDTT gắn với phát triển du lịch có cả những thuận lợi và hạn chế cần được nhìn nhận một cách khách quan.

- Thuận lợi: Chúng tôi đánh giá cao sự chủ động của Ủy ban nhân dân TP.HCM trong việc bảo tồn và phát triển di sản văn hóa truyền thống thông qua việc ban hành các chiến lược và kế hoạch cụ thể. Việc xây dựng các chính sách hỗ trợ và khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực nghệ thuật, cùng với việc nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển nhân lực, đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nghệ thuật truyền thống. Sự kết hợp các chương trình biểu diễn với phát triển du lịch cũng được xem là một hướng đi tích cực, giúp nghệ thuật truyền thống trở thành một phần không thể thiếu trong hệ thống văn hóa và du lịch của thành phố.

Một điểm mạnh đặc biệt là TP.HCM là nơi duy nhất có những chính sách thiết thực hỗ trợ nghệ sĩ có hoàn cảnh khó khăn, neo đơn, và cũng là nơi duy nhất trong cả nước, thậm chí trong khu vực và thế giới có Nhà dưỡng lão nghệ sĩ, Chùa nghệ sĩ và CLB Ái hữu nghệ sĩ. Sự tồn tại của các cơ sở vật chất và cộng đồng hỗ trợ này cho thấy một sự hiểu biết sâu sắc và nhân văn về yếu tố con người trong bảo tồn di sản văn hóa. Đây là một tài sản độc đáo, vượt xa các tuyên bố chính sách đơn thuần, thể hiện một cách tiếp cận toàn diện hơn đối với phúc lợi của nghệ sĩ. Nếu được chăm sóc và phát huy đúng mức, những công trình này không chỉ là nơi an dưỡng cho nghệ sĩ mà còn có thể trở thành một cụm văn hóa đặc thù, thu hút du khách muốn tìm hiểu về đời sống và truyền thống của giới nghệ sĩ, tạo nên một trải nghiệm du lịch ý nghĩa và khác biệt.

 

- Hạn chế: Mặc dù đã có nhiều chính sách được ban hành ở cấp Trung ương nhằm bảo tồn và phát huy NTBDTT, tuy nhiên quá trình triển khai tại địa phương vẫn còn nhiều hạn chế. Sự thiếu đồng bộ, phụ thuộc lớn vào ngân sách nhà nước, cùng với việc thiếu nguồn lực từ khu vực tư nhân khiến nhiều chương trình không đạt được quy mô và chất lượng kỳ vọng. Cơ sở hạ tầng phục vụ biểu diễn còn lạc hậu, trang thiết bị nghèo nàn, trong khi các không gian biểu diễn lại thiếu sức hút và chưa đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật ngày càng đa dạng của công chúng.

Bên cạnh đó, nhiều hoạt động nghệ thuật truyền thống vẫn thiếu đổi mới về nội dung và hình thức, chưa theo kịp thị hiếu của khán giả hiện đại, đặc biệt là giới trẻ. Công tác quảng bá còn rời rạc, chưa tận dụng hiệu quả các nền tảng truyền thông số. Việc giáo dục và truyền thụ giá trị văn hóa truyền thống trong trường học chưa được chú trọng, dẫn đến sự thiếu gắn kết giữa nghệ thuật truyền thống và thế hệ trẻ. Hơn nữa, sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động bảo tồn còn mờ nhạt, làm giảm hiệu quả và tính bền vững của các chính sách hiện hành.

3. Thực trạng khai thác một số loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống gắn với du lịch tại TP.HCM

3.1. Thực trang khai thác ở các đơn vị công lập

Trong khuôn khổ của tiểu mục này, NCS xin phép được triển khai những phân tích, đánh giá về thực trạng khai thác NTBDTT gắn với phát triển du lịch tại các đơn vị công lập ở TP.HCM dưới một lăng kính đa diện. Cách tiếp cận này không chỉ dừng lại ở vai trò của một người nghiên cứu văn hóa, mà còn được soi chiếu và bổ khuyết bởi những trải nghiệm thực tiễn. Đó là lăng kính của một người đã và đang trực tiếp tham gia thực hiện nhiều chương trình biểu diễn nghệ thuật truyền thống phục vụ du lịch với vai trò người dẫn chương trình (MC), cho phép thấu thị những vận hành nội tại, những khó khăn thầm lặng của nghệ nhân, nghệ sĩ và những phản ứng tức thời của khán giả mà các báo cáo chính thức không thể ghi lại. Đồng thời, đó cũng là lăng kính của một khán giả trung thành, một người mộ điệu luôn trăn trở với sự tồn vong và phát triển của di sản, phân tích “sản phẩm” từ góc độ của người thụ hưởng cuối cùng, đánh giá chất lượng trải nghiệm nghệ thuật và giá trị cảm xúc mà các chương trình mang lại. Sự kết hợp của ba lăng kính này – người nghiên cứu, người trong cuộc và khán giả – được kỳ vọng sẽ mang đến một cái nhìn toàn diện, có chiều sâu và đa diện, kết nối giữa lý luận khoa học của ngành Quản lý văn hóa với thực tiễn sinh động của đời sống nghệ thuật,

 

từ đó làm rõ những thành tựu, hạn chế và những nghịch lý đang tồn tại trong nỗ lực biến di sản thành tài sản du lịch của thành phố. Dưới đây là những nỗ lực khai thác và phát huy nghệ thuật ĐCTT và Cải lương của một số đơn vị sự nghiệp công lập cấp thành phố.

Trung tâm Văn hóa TP.HCM

Trong hệ thống các đơn vị văn hóa công lập, Trung tâm Văn hóa TP.HCM (TTVH) đóng vai trò là cơ quan đầu não, là “xương sống” cho các hoạt động văn hóa quần chúng, với sứ mệnh cốt lõi là bảo tồn và phát huy các giá trị di sản trong cộng đồng. Đối với nghệ thuật ĐCTT, vai trò này được thể hiện rõ nét thông qua việc triển khai “Đề án Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể nghệ thuật ĐCTT Nam Bộ trên địa bàn Thành phố” do Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM chỉ đạo.

- Mô hình và phương thức hoạt động

Mô hình hoạt động của TTVH, về bản chất, là thực hiện nhiệm vụ chính trị, tập trung vào việc đưa di sản đến với đông đảo công chúng nhất có thể thông qua các không gian mở, hoàn toàn miễn phí. Chính mô hình này, dù rất thành công ở phương diện quảng bá và phục vụ cộng đồng, lại bộc lộ những giới hạn cố hữu khi được xét dưới góc độ của ngành Quản lý văn hóa và du lịch, đặc biệt là trong việc kiến tạo nên những sản phẩm du lịch có giá trị thương mại và bền vững.

Theo chia sẻ của bà Nguyễn Thị Hoài Phượng, Phó Giám đốc TTVH TP.HCM, vai trò của đơn vị mang tính đa diện và then chốt. TTVH không chỉ là “một trụ cột nền tảng, là hậu phương vững chắc cho toàn bộ hệ thống văn hóa cơ sở” bằng việc cung cấp định hướng chuyên môn và nguồn lực, mà còn định vị mình là một “cầu nối di sản năng động” (trích biên bản phỏng vấn). Triết lý hoạt động của TTVH được thể hiện rõ qua quan điểm không để di sản “nằm yên trong các kho lưu trữ”, mà phải chủ động tổ chức các hoạt động để đưa nghệ thuật “hòa mình vào đời sống” một cách tự nhiên nhất.

Cách tiếp cận này định hình một mô hình hoạt động đặc trưng: lồng ghép các suất diễn ĐCTT vào những sự kiện văn hóa – chính trị, các lễ hội lớn và mang tính biểu tượng của thành phố. Thay vì tạo ra các điểm diễn cố định, bán vé, TTVH lựa chọn chiến lược tích hợp nghệ thuật vào các không gian công cộng, nơi đã có sẵn một lượng lớn công chúng và du khách. Cách làm này, theo bà Phượng, giúp “tối ưu hóa khả năng tiếp cận khán giả”. Ví dụ điển hình là việc đưa ĐCTT vào không gian Chợ Hoa Xuân “Trên bến dưới thuyền” tại Bến Bình Đông, hay Lễ hội Sông nước tại Công

 

viên Bến Bạch Đằng. Tại những địa điểm này, tiếng đờn lời ca không chỉ là một tiết mục biểu diễn đơn thuần mà còn hòa quyện, cộng hưởng với không gian văn hóa đặc trưng, làm tăng thêm sức hấp dẫn và ý nghĩa cho chính các sự kiện du lịch.

Phân tích từ góc độ Quản lý văn hóa, mô hình này thể hiện rõ đặc tính của một dịch vụ công, ưu tiên tối đa hóa lợi ích xã hội và sứ mệnh bảo tồn văn hóa hơn là mục tiêu kinh tế. Hoạt động xoay quanh các mục tiêu công ích như “bồi đắp các giá trị đạo đức”, “nâng cao nhận thức”, và phục vụ các nhóm đối tượng chính là “công chúng địa phương”, “du khách trong và ngoài nước”, và đặc biệt là “giới trẻ”. Các chỉ số đo lường hiệu quả (KPI) của mô hình này rõ ràng là mức độ lan tỏa, số lượng người tiếp cận và hiệu ứng truyền thông, chứ không phải là doanh thu hay các chỉ số về sự hài lòng của du khách theo tiêu chuẩn thương mại. Đây là một mô hình cung cấp “hàng hóa công” (public good) kinh điển, có giá trị lớn trong việc duy trì sức sống của di sản trong cộng đồng, nhưng cũng chính vì bản chất đó mà nó gặp phải những giới hạn mang tính hệ thống khi đối diện với yêu cầu kiến tạo sản phẩm du lịch.

- Quy mô và hiệu quả của hoạt động khai thác

Thực tiễn hoạt động của TTVH trong giai đoạn 2020 - 2024 đã chứng minh quy mô và tính nhất quán của chiến lược lan tỏa di sản. Trung bình mỗi năm, TTVH tổ chức từ 50 đến 80 suất biểu diễn các loại hình nghệ thuật truyền thống, trong đó ĐCTT là nòng cốt. Khối lượng công việc này cho thấy một nỗ lực bền bỉ và có hệ thống nhằm đảm bảo sự hiện diện thường xuyên của ĐCTT trong không gian văn hóa của thành phố.

Bảng 3.1: Thống kê một số hoạt động biểu diễn ĐCTT của Trung tâm Văn hóa TP.HCM phục vụ du lịch (2020 - 2024)

Số suất diễn Thời gian Địa điểm Tổng (suất)



Năm

2020 07 suất ĐCTT mừng Đảng mừng Xuân Tháng 01/2020 Bến Bình Đông



30

04 suất ĐCTT phục vụ Lệ hội Nghinh Ông Từ 29/9 đến

3/20/2020 Huyện Cần Giờ

19 suất phục vụ Ngày Hội Văn hóa đọc các quận, huyện Từ tháng 10 đến tháng 11/2020 Các Quận, Huyện tại TP.HCM


Năm

2021 01 chương trình Nhạc hội ĐCTT “Báu vật Đất phương Nam” 30/1/2021 Trước Nhà hát Thành phố


11

10 suất ĐCTT phục vụ chợ hoa xuân “Trên bến dưới Từ  06/02  đến

10/02/2021 Bến Bình Đông

 


thuyền”


Năm

2022 10 suất NTTT phục vụ Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam Từ 19/4 đến

24/4/2022 Phố đi bộ Nguyễn Huệ


14

04 suất ĐCTT phục vụ Lễ hội Nghinh Ông Từ  08/11  đến

11/11/2022 Huyện Cần Giờ








Năm

2023 10 suất ĐCTT phục vụ chợ hoa xuân “Trên bến dưới thuyền” Từ  16/01  đến

20/01/2023 Bến Bình Đông








31

06 suất ĐCTT mừng Đảng mừng Xuân Quý Mão Từ  20/01  đến

25/02/2023 Phố Đi bộ Nguyễn Huệ và Tiền sảnh TTVH TP.HCM

02 suất ĐCTT phục vụ khai mạc Hưởng ứng tháng hành

động vì trẻ em 2023 28/5/2023 Phố Đi bộ Nguyễn Huệ

04 suất ĐCTT phục vụ chương trình kỷ niệm 325 năm thành lập thành phố Sài Gòn – TP.HCM Từ 28/6 đến

2/7/2023 Công viên 23/9

05 suất NTTT phục vụ Lễ hội Sông nước TP.HCM Từ 04/8 đến

06/8/2023 Công viên Bến Bạch Đằng

04 suất ĐCTT phục vụ Lệ hội Nghinh Ông Từ 27/9 đến

30/9/2023 Huyện Cần Giờ







Năm

2024 10 suất ĐCTT phục vụ chợ hoa xuân “Trên bến dưới thuyền” Từ  04/02  đến

08/02/2024 Bến Bình Đông






35

08 suất ĐCTT mừng Đảng mừng Xuân Giáp Thìn Từ  07/02  đến

14/02/2024 Công viên Tượng đài Chủ tịch  Hồ

Chí Minh

04 suất NTTT mừng Đảng mừng Xuân Giáp Thìn Từ  07/02  đến

14/02/2024 TTVH TP.HCM

08 suất ĐCTT phục vụ Lễ hội Sông nước TP.HCM Từ 31/5 đến

08/6/2024 Công viên Bến Bạch Đằng

05 suất ĐCTT phục vụ chương trình kỷ niệm 326 năm thành lập thành phố Sài Gòn – TP.HCM Từ  28/06  đến

02/7/2024 Phố Đi bộ Nguyễn Huệ

Nguồn: NCS tổng hợp từ các báo cáo của Trung tâm Văn hóa TP.HCM

Bảng thống kê trên cho thấy một bức tranh hoạt động sôi nổi, với tần suất cao và địa điểm đa dạng, tập trung vào các không gian công cộng mang tính biểu tượng. Cách làm này đã đạt được hiệu quả rõ rệt về mặt truyền thông và tiếp cận đại chúng. Bà Hoài Phượng khẳng định: “Các chương trình của chúng tôi luôn nhận được sự quan tâm, cổ vũ nhiệt tình” của công chúng và du khách, đồng thời trở thành một kênh tuyên truyền hiệu quả cho các chủ trương, chính sách của Nhà nước về văn hóa. Sức lan tỏa còn được nhân lên gấp bội nhờ sự vào cuộc của các cơ quan truyền thông, được TTVH xem

 

như một “cánh tay nối dài”, giúp quảng bá hình ảnh thành phố và nâng cao nhận thức của thế hệ trẻ về di sản.

- Những rào cản và hạn chế

Dù đã hoàn thành tốt vai trò bảo tồn và phát huy di sản ĐCTT ở bề rộng, giúp duy trì sức sống mãnh liệt của loại hình nghệ thuật này trong đời sống xã hội, cách làm của TTVH bộc lộ nhiều hạn chế cố hữu khi xét dưới góc độ khai thác du lịch.

Thứ nhất, về không gian biểu diễn: Đa phần các hoạt động biểu diễn ĐCTT do TTVH tổ chức đều diễn ra tại các không gian công cộng, ngoài trời như Phố đi bộ Nguyễn Huệ, Bến Bình Đông, Công viên Bến Bạch Đằng. Theo quan sát của NCS trong 5 năm qua, mặc dù cách làm này tối ưu hóa khả năng tiếp cận công chúng, nhưng lại không đáp ứng được yêu cầu về một không gian thưởng thức nghệ thuật có chiều sâu. Tiếng ồn từ môi trường xung quanh, sự thiếu vắng một sân khấu được thiết kế chuyên nghiệp – dù là loại hình nghệ thuật dân gian nhưng khi đã phục vụ du lịch thì phải được chuyên nghiệp hóa, và sự phân tâm của khán giả khiến cho buổi biểu diễn khó có thể đạt được chất lượng nghệ thuật cao nhất. Đối với du khách, đặc biệt là khách quốc tế mong muốn một trải nghiệm văn hóa đích thực, không gian biểu diễn như vậy dễ biến ĐCTT trở thành một “tiết mục phụ họa” hay “nhạc nền” cho sự kiện, thay vì là một sản phẩm nghệ thuật độc lập, trọn vẹn mà họ sẵn sàng chi trả để thưởng thức.

Thứ hai, về bản chất “sản phẩm”: Các chương trình biểu diễn của TTVH về cơ bản được thiết kế để phục vụ cộng đồng và các nhiệm vụ chính trị, không phải là một sản phẩm du lịch được “đóng gói” chuyên nghiệp. Các buổi diễn thường mang tính dàn trải, thiếu một kịch bản được biên tập súc tích, thiếu các yếu tố hỗ trợ như phụ đề, thuyết minh bằng ngoại ngữ để giúp du khách quốc tế hiểu được nội dung và cái hay của nghệ thuật. Hoạt động của TTVH chỉ dừng lại ở mức độ quảng bá và phục vụ, chưa thể được xem là khai thác du lịch theo đúng nghĩa.

Thứ ba, về chiến lược phát triển: Mặc dù trong các kế hoạch hàng năm, TTVH liên tục đề xuất xây dựng “Đề án phát triển một số điểm trình diễn Di sản văn hóa phi vật thể ĐCTT trên địa bàn Thành phố phục vụ khách du lịch”, nhưng các đề án này dường như vẫn đang nằm trên giấy, cho thấy một sự chậm trễ đáng kể trong việc chuyển hóa từ tư duy bảo tồn sang tư duy phát triển kinh tế

 

văn hóa. Điều này phản ánh một hạn chế mang tính hệ thống: TTVH vẫn đang hoạt động như một cơ quan quản lý văn hóa công điển hình, với ưu tiên hàng đầu là thực hiện nhiệm vụ được giao, chứ chưa thể hiện vai trò tự chủ của một đơn vị có khả năng tạo ra các sản phẩm cạnh tranh trên thị trường.

Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang

Nếu TTVH TP.HCM đại diện cho mô hình phát triển theo chiều rộng, thì Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang là đơn vị tiêu biểu cho mô hình phát triển theo chiều sâu, với sứ mệnh bảo tồn và phát triển nghệ thuật Cải lương đỉnh cao, hàn lâm. Tuy nhiên, với tư cách là một đơn vị sự nghiệp công lập, nhà hát cũng phải đối mặt với nhiệm vụ kép là phục vụ khán giả đại chúng, và thực trạng hoạt động của nhà hát là một minh chứng sống động cho những nghịch lý kinh tế và cơ chế quản lý văn hóa.

- Mô hình và phương thức hoạt động

Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang (NHTHT) cũng là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM, được giao nhiệm vụ kép: vừa phải bảo tồn nghệ thuật Cải lương tinh hoa, hàn lâm, vừa phải tự chủ và phát triển trên thị trường thương mại. Phương thức hoạt động của nhà hát do đó cũng phân thành hai mảng rõ rệt. Một là thực hiện nhiệm vụ chính trị thông qua một số lượng lớn các suất diễn miễn phí, từ các chương trình chiến lược như “Sân khấu học đường”, “Sân khấu thiếu nhi” đến biểu diễn phục vụ người dân ở các quận, huyện vùng ven. Hai là hoạt động thương mại thông qua việc tổ chức các suất diễn có bán vé tại Rạp Hưng Đạo.

Dưới góc độ Quản lý văn hóa, theo NCS, mô hình này thể hiện rõ một nghịch lý mang tính hệ thống. Toàn bộ cấu trúc vận hành và hệ thống khuyến khích của nhà hát lại chỉ được thiết kế để phục vụ mục tiêu bảo tồn. Như ông Phan Quốc Kiệt - Giám đốc Nhà hát đã phân tích: “Toàn bộ “DNA” hoạt động của chúng tôi được xây dựng dựa trên việc hoàn thành chỉ tiêu suất diễn phục vụ do nhà nước giao, thước đo thành công không phải là lợi nhuận” (trích biên bản phỏng vấn). Khi không có áp lực thị trường, không có cơ chế thưởng phạt dựa trên kết quả kinh doanh, thì sự trì trệ của hoạt động thương mại là một hệ quả tất yếu. Đây là biểu hiện của một “khủng hoảng nhận dạng thể chế” điển hình trong các đơn vị nghệ thuật công lập, khi phải theo đuổi một sứ mệnh thương mại với một cấu trúc vận hành hoàn toàn công ích.

- Quy mô và hiệu quả của hoạt động khai thác

 

Hiệu quả hoạt động của NHTHT phản ánh rõ nét bức tranh lưỡng cực bắt nguồn từ mô hình hoạt động của nó. Giám đốc Phan Quốc Kiệt đã phác họa một cách thẳng thắn “bức tranh toàn cảnh với hai mảng màu đối lập rõ rệt”. Ở mảng phục vụ cộng đồng, nhà hát hoạt động rất hiệu quả. Hàng năm, nhà hát tiếp cận hàng chục ngàn lượt khán giả thông qua các suất diễn miễn phí, cho thấy Cải lương vẫn có sức sống mãnh liệt trong cộng đồng và nhà hát đang làm rất tốt nhiệm vụ phổ biến nghệ thuật, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân.

Tuy nhiên, ở mảng màu đối lập là hoạt động thương mại, bức tranh lại hoàn toàn xám xịt và đầy thách thức. Tình hình bán vé tại Rạp Hưng Đạo, thánh đường một thời của Cải lương, trong nhiều năm qua không mấy khả quan. Ông Kiệt nhận định: “Thực tế đáng buồn là nhiều suất diễn chúng tôi chỉ bán được vài chục vé, thậm chí có những đêm diễn chỉ trên dưới 10 vé. Khán giả đến xem các suất diễn này phần lớn là người thân của nghệ sĩ, nhân viên nhà hát hoặc khách mời” (trích biên bản phỏng vấn). Lượng khán giả thực sự bỏ tiền mua vé là vô cùng khiêm tốn, sự tương phản này được minh chứng rõ nét qua các số liệu thống kê hoạt động biểu diễn.

Bảng 3.2: Thống kê hoạt động biểu diễn của Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang (2020-2024)

Năm Diễn tại Rạp Hưng Đạo

(Có bán vé) Số suất diễn phục vụ cộng đồng (Miễn phí)

Số suất diễn (suất) Lượng khách (người) Số suất diễn (suất) Lượng khách (người)

2020 Không thực hiện do dịch Covid 19

2021 09 4.050 15 suất phục vụ du khách và người

dân TP.HCM 7.500

2022 08 3.600 87 suất phục vụ du khách và người

dân TP.HCM 43.500

2023 08 4.100 95 suất (08 suất chương trình Bảo tồn nghệ thuật truyền thống và 87 suất phục vụ du khách và người dân TP.HCM) 51.500

2024 08 3.000 94 suất (08 suất chương trình Bảo tồn nghệ thuật truyền thống và 87 suất phục vụ du khách và người dân TP.HCM) 50.5000

Nguồn: Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang

Các số liệu trong bảng trên là bằng chứng không thể chối cãi cho sự mất cân đối nghiêm trọng trong mô hình hoạt động của NHTHT. Kể từ khi hoạt động ổn định trở lại sau đại dịch (năm 2022), số lượng suất diễn miễn phí phục vụ cộng đồng cao hơn

 

gấp 10 lần so với số suất diễn bán vé. Lượng khán giả từ các chương trình miễn phí cũng áp đảo tuyệt đối. Điều này cho thấy Nhà hát đang tồn tại và hoạt động chủ yếu dựa vào nguồn kinh phí bao cấp của nhà nước. Hoạt động bán vé, nguồn thu trực tiếp và là thước đo sức sống thị trường của nghệ thuật, chỉ còn mang tính cầm chừng, biểu tượng.

Con số 8 suất diễn bán vé mỗi năm được duy trì gần như không đổi trong suốt ba năm 2022 - 2024 cho thấy sự trì trệ đáng báo động. Điều này không chỉ phản ánh khó khăn của thị trường Cải lương nói chung, mà còn cho thấy sự thiếu vắng một chiến lược phát triển sản phẩm hướng đến các đối tượng khán giả mới, trong đó có khách du lịch. Các vở diễn của nhà hát thường là những vở kinh điển, có thời lượng dài, nội dung hàn lâm, vốn rất khó tiếp cận với du khách (đặc biệt là khách quốc tế) do rào cản ngôn ngữ và văn hóa. Nhà hát chưa có những sản phẩm được “cắt gọt”, biên tập lại với thời lượng ngắn (khoảng 60 - 90 phút), tập trung vào các trích đoạn đặc sắc, kết hợp các yếu tố trình diễn hình thể, âm nhạc và có phụ đề đa ngôn ngữ để phù hợp với thị hiếu du lịch.

Nhận thức được sự cần thiết phải tìm kiếm hướng đi mới, NHTHT đã xác định dự án “Sân khấu du lịch” là một trong hai nhiệm vụ trọng tâm. Mục tiêu của dự án là xây dựng những chương trình nghệ thuật Cải lương có thời lượng ngắn gọn, nội dung cô đọng, hấp dẫn để phục vụ du khách, đặc biệt là khách quốc tế, qua đó tạo ra một sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng cho thành phố. Đây là một định hướng chiến lược hoàn toàn đúng đắn, đáp ứng trực tiếp nhu cầu của thị trường du lịch, nơi du khách thường có ít thời gian và e ngại các vở diễn truyền thống quá dài, như một du khách đã chia sẻ: “Thời lượng một vở diễn cải lương quá dài, tôi không thể xem trọn vẹn hết”.

Tuy nhiên, dù có tầm nhìn đúng đắn, dự án này đến nay vẫn “chưa đạt được kết quả như kỳ vọng và đang trong tình trạng chững lại”. Nguyên nhân sâu xa, theo ông Phan Quốc Kiệt, nằm ở chính nghịch lý của cơ chế: “làm thế nào một đơn vị sự nghiệp công lập, vốn quen vận hành trong cơ chế bao cấp, có thể chuyển mình thành công để vận hành một mô hình kinh doanh hướng đến du lịch?” (trích biên bản phỏng vấn). Một sản phẩm du lịch đòi hỏi sự năng động, nhạy bén với thị trường, kỹ năng marketing, và quan trọng nhất là dám chấp nhận rủi ro – những yếu tố này gần như đi ngược lại với cơ cấu hành chính công mà nhà hát đang vận hành.

 

Sự thất bại trong việc triển khai hiệu quả dự án này không phải là sự thất bại của nghệ thuật Cải lương. Bằng chứng thuyết phục nhất, như chính ông Kiệt đã chỉ ra, là sự thành công của khu vực tư nhân (tiểu mục tiếp theo). Các nhà hàng, du thuyền trên sông Sài Gòn, các khu du lịch đã tích hợp Cải lương, ĐCTT vào sản phẩm của mình và bán rất thành công cho du khách. Họ thành công vì có tư duy thị trường và sự linh hoạt để “kiến tạo trải nghiệm” phù hợp: những trích đoạn ngắn 15-20 phút, biểu diễn trong không gian ẩm thực, có thuyết minh tiếng Anh. Trong khi đó, NHTHT, với tư cách là một đơn vị công, lại gặp khó khăn trong việc thoát khỏi tư duy “trình diễn” một vở diễn hoàn chỉnh dài 2-3 tiếng.

- Những rào cản và hạn chế

Những khó khăn mà NHTHT đối mặt không phải là những vấn đề đơn lẻ, mà là các triệu chứng của một “căn bệnh” mang tính hệ thống, bắt nguồn từ chính cơ chế vận hành.

Thứ nhất là vấn đề tài chính. Đây là khó khăn bao trùm và là gốc rễ của nhiều vấn đề khác. Ông Kiệt cho biết: “Chế độ đãi ngộ cho nghệ sĩ hiện nay quá thấp, không đảm bảo được cuộc sống ở một thành phố đắt đỏ như TP.HCM” (trích biên bản phỏng vấn). Khi thu nhập từ nghề chính không đủ sống, nghệ sĩ buộc phải làm thêm nhiều việc khác để mưu sinh, từ đó ảnh hưởng đến thời gian, sức lực và tâm huyết dành cho việc tập luyện và sáng tạo. Kinh phí đầu tư cho một vở diễn mới cũng rất hạn hẹp, chỉ đủ để làm ở mức cơ bản, khó có thể tạo ra những tác phẩm đột phá, hoành tráng để cạnh tranh với các loại hình giải trí hiện đại.

Thứ hai là sự bế tắc trong sáng tạo. Nhà hát đang đối mặt với một “cuộc khủng hoảng nghiêm trọng về kịch bản mới”. Đội ngũ tác giả Cải lương hiện nay vừa mỏng, vừa yếu, phần lớn chưa được đào tạo bài bản. Điều này dẫn đến việc sân khấu thiếu vắng những tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, phản ánh hơi thở của đời sống đương đại. Nhà hát buộc phải liên tục dựng lại các vở kinh điển, dù biết rằng đó không phải là giải pháp bền vững. Qua tìm hiểu, được biết trong giai đoạn 2020 - 2024, số lượng vở diễn được dựng lại (13 vở) ngang bằng với số lượng vở được sáng tác mới (13 vở), cho thấy sự phụ thuộc lớn vào kịch mục cũ.

Thứ ba là về cơ sở vật chất. Mặc dù Rạp Hưng Đạo mang giá trị lịch sử, nhưng trang thiết bị kỹ thuật đã lỗi thời, không còn đáp ứng được yêu cầu của các phương thức dàn dựng sân khấu hiện đại. Đây cũng là một điểm nghẽn lớn trong việc nâng cao

 

chất lượng nghệ thuật của các vở diễn, làm giảm sức hấp dẫn đối với khán giả quen với các tiêu chuẩn trình diễn quốc tế.

Cả ba rào cản này đều quy về một gốc rễ: mô hình hoạt động phụ thuộc vào bao cấp. Chế độ đãi ngộ thấp là hệ quả trực tiếp của một cơ cấu tài chính phi thương mại. Sự khủng hoảng kịch bản liên quan đến mức nhuận bút không hấp dẫn và một văn hóa ngại rủi ro, ưa chuộng các vở kinh điển “an toàn”. Cơ sở vật chất xuống cấp phản ánh sự phụ thuộc vào các đợt đầu tư vốn từ nhà nước thay vì cơ chế tự tái đầu tư từ doanh thu.

3.2. Thực trạng khai thác ở các đơn vị tư nhân

Bối cảnh khu vực tư nhân

Giai đoạn 2020 - 2025 chứng kiến một sự chuyển dịch đáng kể trong mô hình phát triển du lịch văn hóa của thành phố, đặc biệt là sự trỗi dậy mạnh mẽ của khu vực tư nhân trong việc khai thác các giá trị văn hóa, cụ thể là NTBDTT để tạo ra các sản phẩm du lịch đặc thù. Sự trỗi dậy này không phải là một hiện tượng tự phát, mà là kết quả của sự hội tụ của ba lực đẩy chính: sự thay đổi trong nhu cầu của thị trường du lịch, chủ trương chính sách của nhà nước, và các yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn kinh tế.

Thứ nhất, về phía cầu thị trường, đã có một sự biến đổi sâu sắc trong tâm lý và hành vi của du khách. Du lịch không còn đơn thuần là tham quan, nghỉ dưỡng mà ngày càng hướng tới các ‘trải nghiệm” mang tính chân thực, sâu sắc và có khả năng kết nối với văn hóa bản địa. Đặc biệt, sau khi nghệ thuật ĐCTT Nam Bộ được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào năm 2013, nhận thức và sự quan tâm của cả du khách trong và ngoài nước đối với loại hình nghệ thuật này đã tăng vọt. Du khách quốc tế, đặc biệt là những người đến từ các nền văn hóa khác biệt, ngày càng tìm kiếm những trải nghiệm “nguyên bản” (authentic), coi đó là một phương thức để thấu hiểu tâm hồn và bản sắc của một vùng đất. Từ góc độ của lý thuyết Sinh thái học văn hóa, sự thay đổi trong nhu cầu của du khách (một yếu tố môi trường) đã tạo ra những “ngách sinh thái” (ecological niches) mới, nơi các sản phẩm du lịch văn hóa có chiều sâu có thể phát triển, mở ra cơ hội cho các “sinh vật” mới là các đơn vị tư nhân tham gia vào hệ sinh thái.

Thứ hai, về phía cung chính sách, sự tham gia của khu vực tư nhân được thúc đẩy mạnh mẽ bởi chủ trương “xã hội hóa” (socialization) của nhà nước. Đây là một thuật ngữ mang nhiều tầng nghĩa trong bối cảnh kinh tế - chính trị Việt Nam. Vượt ra

 

ngoài ý nghĩa đơn thuần của tư nhân hóa (privatization), “xã hội hóa hoạt động văn hóa là quá trình huy động sự tham gia dưới các hình thức khác nhau của các thành phần xã hội, tập thể cũng như cá nhân, vào các hoạt động văn hóa, nhằm thực hiện công bằng xã hội trong đóng góp và thụ hưởng các dịch vụ liên quan đến văn hóa” (Lê Thị Hoài Phương, 2023).

Phân tích sâu hơn cho thấy, diễn ngôn xã hội hóa bắt nguồn từ lịch sử xây dựng chủ nghĩa xã hội, vốn dùng để chỉ việc tập thể hóa tư liệu sản xuất, nay được tái diễn giải trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để chỉ việc cá nhân hóa trách nhiệm và huy động nguồn lực tư nhân cho các hàng hóa công. Trong quản lý văn hóa, điều này có nghĩa là nhà nước, trước bối cảnh ngân sách hạn hẹp, khuyến khích và tạo điều kiện cho tư nhân tham gia đầu tư vào các hoạt động văn hóa nghệ thuật, coi đó là một phương thức để chia sẻ “gánh nặng” và phát huy hiệu quả nguồn lực xã hội. Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM đã thừa nhận “xã hội hóa là hướng đi tất yếu để bảo tồn và phát triển các loại hình nghệ thuật truyền thống trong du lịch”. Theo chúng tôi, dưới lăng kính của Lý thuyết các bên liên quan, chính sách này cho thấy vai trò của nhà nước như một bên liên quan (stakeholder) chủ chốt, chủ động định hình môi trường pháp lý để khuyến khích sự tham gia của một bên liên quan khác là các doanh nghiệp tư nhân, xem họ là đối tác quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu văn hóa và kinh tế.

Thứ ba, từ góc độ kinh tế, du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của TP.HCM, đóng góp một tỷ trọng lớn vào GRDP của thành phố. Các báo cáo gần đây cho thấy sự tăng trưởng ấn tượng của ngành: chỉ trong quý 1 năm 2025, tổng thu du lịch ước đạt 56.662 tỷ đồng, tăng 26,7% so với cùng kỳ, với hơn 1,6 triệu lượt khách quốc tế1. Trong 7 tháng đầu năm 2024, thành phố đã đón hơn 3 triệu lượt khách quốc tế và 20 triệu lượt khách nội địa, mang về doanh thu hơn 108 nghìn tỷ đồng2. Những con số này cho thấy một thị trường khổng lồ và một áp lực cạnh tranh gay gắt, đòi hỏi thành phố phải liên tục đổi mới và đa dạng hóa sản phẩm để giữ chân du khách và gia tăng chi tiêu. Trong bối cảnh đó, du lịch văn hóa, với cốt lõi là NTBDTT, nổi lên như một lợi thế cạnh tranh khác biệt, một nguồn “tài nguyên mềm” có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao và định hình bản sắc riêng cho điểm đến TP.HCM. Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa của Việt Nam đến năm 2030, với mục tiêu đóng góp

1 https://news.tuoitre.vn/ho-chi-minh-city-generates-handsome-tourism-revenue-in-q1-10385529.htm

2 https://en.nhandan.vn/ho-chi-minh-city-serves-23-million-visitors-in-seven-months-post138204.html

 

7% GDP, càng khẳng định tầm quan trọng của việc biến di sản thành tài sản, trong đó TP.HCM được kỳ vọng sẽ đóng vai trò đầu tàu3.

Sự hội tụ của ba yếu tố trên – nhu cầu trải nghiệm chân thực của du khách, chủ trương xã hội hóa của nhà nước, và áp lực cạnh tranh kinh tế đã tạo thành một “hệ sinh thái” thuận lợi cho sự trỗi dậy của các đơn vị tư nhân trong lĩnh vực khai thác NTBDTT phục vụ du lịch. Họ, với sự năng động, linh hoạt và nhạy bén với thị trường, đã tiên phong xây dựng nên những mô hình mới mẻ, từ việc tích hợp biểu diễn vào các không gian văn hóa, ẩm thực, cho đến việc tạo ra các show diễn chuyên nghiệp hóa, góp phần làm phong phú và nâng tầm sản phẩm du lịch của thành phố. Mặc dù vậy, thực trạng khai thác này vẫn còn ở quy mô nhỏ lẻ, chưa tương xứng với tiềm năng to lớn của các di sản như ĐCTT và Cải lương. Trong quá trình nghiên cứu, NCS đã trực tiếp khám phá và quan sát kỹ cách làm của một số đơn vị, được thống kê qua bảng bên dưới.

Bảng 3.3: Thống kê các mô hình xã hội hóa tiêu biểu

trong khai thác NTBDTT phục vụ du lịch tại TP.HCM



Đơn vị thực hiện Loại hình phục

vụ

Phân loại mô

hình

Tần suất & thời gian

Đối tượng mục tiêu

Ghi chú

Bảo tàng Áo Dài (TP. Thủ Đức) ĐCTT Tích hợp không gian văn hóa - sinh thái, doanh thu phụ trợ (ẩm thực, mua sắm) Đêm rằm hàng tháng, cuối tuần (khi có sự kiện) Khách lẻ trong nước, gia đình, du khách quốc tế yêu văn hóa Mức độ tương tác cao, khuyến khích giao lưu. Hoạt động không còn đều đặn như trước, chủ yếu theo sự kiện

Làng Du lịch Bình Quới

(Quận Bình Thạnh) ĐCTT Cộng hưởng ẩm thực - sinh thái. Tích hợp trong giá vé buffet ẩm thực Mỗi tối cuối tuần Gia đình, khách đoàn trong nước, khách quốc tế Không gian dàn dựng đậm chất Nam Bộ, có tính tương tác cao

Khu Du lịch Văn hóa Suối Tiên (TP. Thủ Đức) ĐCTT,

Cải lương Tích hợp không gian văn hóa - sinh thái, vé tham quan khu    Farm,

miễn phí tại lễ hội Hàng  tuần

(Suối Tiên Farm), theo mùa (Lễ hội Trái cây) Gia đình có trẻ em, khách đoàn, khách tham quan lễ hội Kết hợp du lịch canh nông, tái hiện bối cảnh “miệt vườn” nguyên bản

Khu Du lịch

sinh thái

Trung An

(Huyện Củ ĐCTT Cộng hưởng du lịch nông nghiệp, tích hợp trong gói Theo yêu

cầu của

tour, đoàn

khách Khách đi tour Củ Chi, khách quốc tế muốn trải Quy mô nhỏ, tính chân thực cao, kết nối cộng đồng địa phương


3 https://vietnamnet.vn/en/the-promising-future-of-vietnam-s-cultural-industries-2365812.html

 


Chi) dịch vụ tour của công ty lữ

hành nghiệm miệt vườn

Công viên Văn hóa Đầm Sen (Quận 11) ĐCTT,

Cải lương Tích hợp trong khu giải trí, Miễn phí trong khuôn khổ lễ hội (doanh thu gián tiếp từ vé vào cổng Theo mùa (Lễ hội Ẩm thực Đất Phương Nam) Khách tham quan lễ hội, công chúng địa phương Chủ yếu mang tính sự kiện, quảng bá văn hóa

Chuỗi nhà hàng Đại Việt (Quận 1) ĐCTT Cộng hưởng ẩm thực (đô thị), tích hợp trong dịch vụ nhà hàng (không thu phí

riêng) Hàng đêm Du  khách

quốc    tế

(khách lẻ, ba lô), giới trẻ Vị trí đắc địa, biểu diễn tại bàn, không gian ấm cúng, tương tác gần

Du thuyền trên sông Sài Gòn (Indochina Queen, Saigon Princess) ĐCTT,

Cải lương (trích đoạn), nhạc cụ dân tộc Cộng hưởng ẩm thực (cao cấp), tích hợp trong giá vé ăn tối (set

menu/buffet) Hàng đêm Du khách quốc tế cao cấp, khách MICE, cặp đôi, gia đình Đa dạng mô hình: chuyên nhạc dân tộc (Indochina Queen) hoặc kết hợp nhạc quốc tế (Saigon Princess)

Sân khấu Cải lương Chí Linh - Vân Hà (thuê NH Trần    Hữu

Trang) Cải lương tuồng cổ Sân khấu xã hội hóa, bán vé trực tiếp Không định kỳ, khoảng 1-2

tháng/vở Khán giả mộ điệu cải lương (chủ yếu trong nước),  nhà

nghiên cứu Nghệ sĩ tự đầu tư, chú trọng tính nghệ thuật, chưa khai thác mạnh cho du lịch

Sân khấu/Hội quán Sen Việt (Quận 1) Cải lương, ĐCTT Sân khấu xã hội hóa, bán vé trực tiếp Hàng tuần (T2-T6 giao lưu, T7-CN diễn vở) Công chúng địa phương, khán   giả

yêu nghệ thuật, tiềm năng khai thác du lịch Mô hình linh hoạt, kết hợp nhiều hình thức để duy trì hoạt động và xây dựng khán giả

Chương trình “Chào Show” Biểu diễn các nhạc cụ

truyền thống Cộng hưởng ẩm thực (cao cấp), tích hợp trong giá vé ăn tối (set

menu/buffet) Tất cả buổi tối trong tuần Du khách quốc tế cao cấp, khách MICE,  cặp

đôi, gia đình Phụ vụ hơn 30 nhạc cụ dân tộc, âm thanh ánh sách hiện đại, tính tương tác với du khách khá cao

Nguồn: NCS sưu tầm và tổng hợp

3.2.2. Phân loại các mô hình khai thác tư nhân

Sự tham gia của khu vực tư nhân vào lĩnh vực du lịch văn hóa tại TP.HCM đã hình thành nên một hệ hình (paradigm) khai thác đa dạng và năng động. Thay vì một cách tiếp cận đồng nhất, các doanh nghiệp đã phát triển nhiều mô hình khác nhau, mỗi mô hình là một lời giải đáp riêng cho bài toán cân bằng giữa tính toàn vẹn văn hóa và

 

tính khả thi thương mại. Việc phân loại các mô hình này không chỉ giúp hệ thống hóa thực trạng mà còn cho thấy các chiến lược “đóng gói” và “trình diễn” di sản khác nhau, tương ứng với các phân khúc thị trường và mục tiêu kinh doanh riêng biệt. Dựa trên khảo sát thực tế, có thể phân loại thành bốn mô hình chính: (1) Mô hình Tích hợp không gian văn hóa - sinh thái; (2) Mô hình Cộng hưởng ẩm thực; (3) Mô hình Sân khấu chuyên nghiệp hóa; và (4) Mô hình Sân khấu xã hội hóa.



Hình 3.1 Các mô hình khai thác NTBDTT khu vực tư nhân.

Nguồn: Kết quả nghiên cứu

- Mô hình Tích hợp không gian văn hóa - sinh thái

Đặc trưng cốt lõi của mô hình này là việc nhúng (embed) hoạt động biểu diễn nghệ thuật vào một không gian có chủ đề văn hóa hoặc sinh thái tương thích, biến nghệ thuật trở thành một phần không thể tách rời của trải nghiệm không gian - địa điểm (place - based experience). Ở đây, không gian không chỉ là phông nền mà còn là một “diễn viên” tích cực, cộng hưởng với màn trình diễn để tạo ra một bầu không khí tổng thể, một cảm giác về “tính nơi chốn” (sense of place) mà du khách khó có thể tìm thấy trong một nhà hát thông thường. Theo Lý thuyết Sinh thái học văn hóa, đây là một chiến lược thích ứng thông minh, nơi “sinh vật” (loại hình nghệ thuật) được đặt vào một “môi trường” (không gian văn hóa) lý tưởng để phát huy tối đa giá trị và sức hấp dẫn của nó, đại diện cho mô hình này có các đơn vị sau đây:

Bảo tàng Áo Dài là một ví dụ điển hình, đã khéo léo sử dụng ĐCTT như một phương tiện để làm “sống” không gian di sản. Chương trình định kỳ “ngắm trăng, nghe ĐCTT” vào đêm rằm hàng tháng không chỉ là một buổi tiệc âm nhạc, mà là một

 

sự kiện trải nghiệm tổng hợp trong bối cảnh đậm chất hoài niệm. Nhà nghiên cứu Lê Hồng Phước, người từng tư vấn cho Bảo tàng, nhận xét: “Mô hình của họ có những thuận lợi rất lớn. Thứ nhất, cảnh quan của họ rất đẹp... Thứ hai, họ lại tọa lạc gần Trường Đại học Văn hóa, nên có một lượng sinh viên, những người vốn yêu thích nghệ thuật, thường xuyên qua tham gia” (trích biên bản phỏng vấn). Du khách được đặt trong một bối cảnh đậm chất hoài niệm: sân vườn truyền thống, ánh trăng và ẩm thực dân gian (bánh quê, chè Nam Bộ). Quy mô ấm cúng, chỉ vài chục đến hơn 100 khách, cùng với tính tương tác cao – mời khách giao lưu, học hát – đã phá vỡ khoảng cách giữa người xem và nghệ sĩ, biến du khách từ người quan sát thụ động thành người tham gia tích cực. Việc mở rộng mô hình bằng cách lồng ghép biểu diễn vào các “phiên chợ quê” cuối tuần càng cho thấy chiến lược thông minh: nghệ thuật được dùng làm chất xúc tác để thu hút khách, kéo dài thời gian lưu trú và thúc đẩy chi tiêu cho các dịch vụ phụ trợ.

Tương tự, Làng Du lịch Bình Quới (thuộc Saigontourist, một doanh nghiệp nhà nước nhưng hoạt động theo cơ chế thị trường, có thể xem như một mô hình lai) đã thành công trong việc tạo ra một sản phẩm “ẩm thực kèm văn nghệ” đặc trưng. Tại đây, ĐCTT được tích hợp vào các đêm buffet ẩm thực Nam Bộ cuối tuần. Không gian được dàn dựng công phu với hình ảnh sông nước (thuyền gỗ, cầu khỉ) trở thành một sân khấu thực cảnh, nơi tiếng đàn, lời ca hòa quyện với không khí của một bữa tiệc miệt vườn. NCS phỏng vấn nhanh bà Trần Thị Huyền - Phó Giám đốc Làng du lịch Bình Quới cho biết: “mô hình này nhận được sự ủng hộ nhiệt tình, đặc biệt là sự hưởng ứng giao lưu của du khách quốc tế”. Sự kết hợp này đã nâng tầm trải nghiệm ẩm thực đơn thuần, tạo ra một giá trị ký ức bền vững cho du khách và xây dựng nét độc đáo cho thương hiệu.

Các khu du lịch lớn như Suối Tiên và Đầm Sen cũng áp dụng mô hình này, nhưng chủ yếu theo hình thức sự kiện. Tại Lễ hội Trái cây Nam Bộ (Suối Tiên) hay Lễ hội Ẩm thực Đất Phương Nam (Đầm Sen), các sân khấu nhỏ biểu diễn ĐCTT, hò dân ca được bố trí để phục vụ miễn phí, làm tăng thêm không khí văn hóa và “hồn quê” cho các sự kiện. Đáng chú ý, mô hình “Suối Tiên Farm” mới ra mắt gần đây đã đi một bước xa hơn khi lồng ghép biểu diễn ĐCTT miệt vườn vào tour du lịch canh nông. Bằng cách này, Suối Tiên không chỉ bán một sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao mà

 

còn bán một trải nghiệm văn hóa, tái hiện bối cảnh nguyên thủy của ĐCTT là giữa vườn cây trái, mang lại cảm giác chân thực và mới lạ cho du khách đô thị.

Ở quy mô nhỏ hơn, Khu du lịch sinh thái Trung An tại Củ Chi là một minh chứng cho thấy các hộ kinh doanh cá thể cũng có thể áp dụng thành công mô hình này. Sau khi tham quan vườn cây, du khách được nghỉ chân tại chòi lá, thưởng thức trái cây và nghe vài bản vọng cổ do các nghệ nhân địa phương biểu diễn. Mô hình này tuy đơn sơ nhưng lại được đánh giá cao về tính chân thực, trở thành một điểm nhấn độc đáo được các công ty lữ hành đưa vào tour tuyến, cho thấy tiềm năng của việc liên kết giữa các bên liên quan (cộng đồng địa phương, doanh nghiệp lữ hành, du khách) để khai thác di sản một cách bền vững.

- Mô hình Cộng hưởng ẩm thực

Khác với mô hình tích hợp không gian văn hóa - nơi nghệ thuật và địa điểm hòa quyện, mô hình cộng hưởng ẩm thực tập trung vào việc sử dụng NTBDTT như một “gia vị” văn hóa để nâng cao giá trị và sự khác biệt cho trải nghiệm ẩm thực. Trong mô hình này, nghệ thuật không phải là sản phẩm chính mà là một dịch vụ giá trị gia tăng, biến một bữa ăn thành một sự kiện giải trí - văn hóa. Đây là một ví dụ điển hình về mối quan hệ cộng sinh trong hệ sinh thái văn hóa, nơi hai “loài” (nghệ thuật và ẩm thực) cùng tồn tại và hỗ trợ nhau phát triển.

Chuỗi nhà hàng Đại Việt trên phố đi bộ Bùi Viện là một ví dụ tiêu biểu và thành công của mô hình này trong môi trường đô thị cạnh tranh cao. Nằm giữa khu “phố Tây” sôi động, Đại Việt đã định vị mình khác biệt bằng cách tạo ra một “ốc đảo” văn hóa Việt. Không gian được thiết kế cổ điển, nhân viên mặc áo bà ba, và đặc biệt là các ban nhạc ĐCTT biểu diễn hàng đêm ngay tại bàn ăn của thực khách. Chiến lược này cực kỳ hiệu quả: nó trực tiếp nhắm vào đối tượng du khách quốc tế đang tìm kiếm một trải nghiệm Việt Nam “trọn gói” - vừa ăn món Việt, vừa nghe nhạc Việt trong một không gian Việt. NCS phỏng vấn nhanh, quản lý nhà hàng cho biết: “mục tiêu không chỉ là kinh doanh mà còn là giới thiệu niềm tự hào văn hóa Nam Bộ đến bạn bè quốc tế và khơi dậy tình yêu di sản trong nước”. Phản hồi tích cực từ cả khách Tây và khách ta cho thấy mô hình này đã thành công trong việc biến bữa tối thành một trải nghiệm văn hóa đáng nhớ, giúp nhà hàng tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững.

Một lĩnh vực phát triển mạnh mẽ của mô hình này là các du thuyền nhà hàng

trên sông Sài Gòn. Đây là một phân khúc du lịch cao cấp, nơi trải nghiệm ngắm cảnh

 

thành phố về đêm được kết hợp với ẩm thực và giải trí. Hầu hết các du thuyền lớn đều tích hợp biểu diễn nghệ thuật, và NTBDTT là một lựa chọn phổ biến để tạo dấu ấn Việt Nam. Tại đây, một phổ mô hình con cũng đã hình thành, cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các bên liên quan:

Mô hình chuyên biệt (Specialist Model): Tàu Indochina Queen (còn được gọi là Indochina Junk) là một ví dụ. Mặc dù có thiết kế hiện đại, con tàu này xác định rõ định vị của mình là chỉ biểu diễn nhạc cổ truyền dân tộc Việt Nam. Từ độc tấu đàn tranh, sáo trúc đến các bài bản ngắn, điệu lý, chương trình nghệ thuật trên tàu là một “tuyên ngôn” về văn hóa Việt, nhắm đến những du khách (một bên liên quan) muốn có một trải nghiệm thuần túy, không pha tạp. Đây là một chiến lược khác biệt hóa thông minh trong một thị trường có nhiều lựa chọn giải trí.

Mô hình hỗn hợp (Hybrid Model): Du thuyền 5 sao Saigon Princess lại chọn một hướng đi linh hoạt hơn. Trên tàu, du khách có thể thưởng thức cả ban nhạc Philippines chơi nhạc quốc tế lẫn các tiết mục tứ tấu nhạc cụ dân tộc Việt Nam trong trang phục áo dài. Đôi khi, các chặp Cải lương ngắn gọn, có tóm tắt bằng tiếng Anh, cũng được đưa vào chương trình để tạo bất ngờ. Mô hình này cho thấy sự nhạy bén với thị trường, khi cố gắng đáp ứng lợi ích của nhiều bên liên quan khác nhau, từ khách quốc tế, khách MICE cho đến các cặp đôi và gia đình trong nước đang tìm kiếm một buổi tối sang trọng.

Cả hai mô hình trên du thuyền đều cho thấy các doanh nghiệp tư nhân đã nhận ra rằng, trong ngành du lịch dịch vụ cao cấp, yếu tố văn hóa không chỉ là một chi tiết trang trí mà là một thành phần cốt lõi tạo nên giá trị và sức hấp dẫn của sản phẩm.

- Mô hình Sân khấu chuyên nghiệp hóa

Mô hình này đại diện cho cấp độ cao nhất của quá trình “hàng hóa hóa” (commodification) văn hóa, nơi NTBDTT được chuyển hóa từ một hình thức sinh hoạt cộng đồng hay một dịch vụ phụ trợ thành một sản phẩm nghệ thuật độc lập, được đầu tư bài bản, có bán vé, lịch diễn cố định và chất lượng sản xuất cao. Theo Lý thuyết Sinh thái học văn hóa, đây là một chiến lược thích ứng tinh vi, nhằm cạnh tranh trong “môi trường” giải trí toàn cầu, nơi các sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn quốc tế.

Một ví dụ tiêu biểu và mới nổi cho mô hình này là “Chào Show” - một chương trình nghệ thuật được đầu tư công phu và ra mắt với mục tiêu lấp đầy khoảng trống về

 

một sản phẩm du lịch văn hóa ban đêm đặc sắc tại TP.HCM. Thay vì trình diễn nguyên bản ĐCTT hay Cải lương, Chào Show chọn một hướng đi khác biệt: tạo ra một trải nghiệm đa giác quan, kết hợp ba yếu tố cốt lõi: âm nhạc dân tộc, công nghệ trình diễn hiện đại và ẩm thực vùng miền.

Về mặt nghệ thuật, chương trình là một hành trình âm nhạc xuyên Việt với tổ khúc “Giang sơn cẩm tú” gồm 12 chương, mang hơi thở đương đại nhưng vẫn dựa trên chất liệu dân gian. Theo quan sát của NCS: có hơn 30 loại nhạc cụ dân tộc độc đáo được trình diễn bởi các nghệ sĩ tài năng, nhiều người là giảng viên Nhạc viện. Về công nghệ, CEO của chương trình là anh Trần Minh Hoàng tự hào cho biết “Chào Show là chương trình nghệ thuật đầu tiên tại Việt Nam ứng dụng hệ thống âm thanh Immersive Audio 20.4, tạo ra hiệu ứng âm thanh vòm 3D sống động, đảm bảo mọi khán giả trong khán phòng 160 chỗ đều có trải nghiệm âm thanh tối ưu như ngồi ở vị trí trung tâm” (trích biên bản phỏng vấn). Về ẩm thực, trải nghiệm được hoàn thiện với 9 món ăn đặc trưng của ba miền được phục vụ song hành cùng các chương nhạc, cho phép khán giả “nghe, xem và nếm” văn hóa Việt Nam trong cùng một buổi tối.

Từ góc độ Lý thuyết các bên liên quan, Chào Show là một sản phẩm được thiết kế để đáp ứng lợi ích của nhiều nhóm: Du khách (trong nước và quốc tế): họ là bên liên quan trung tâm, được cung cấp một trải nghiệm văn hóa cao cấp, tiện lợi và dễ tiếp cận. Mức giá vé 1.300.000 VNĐ/khách (bao gồm cả ẩm thực) cho thấy chương trình nhắm đến phân khúc khách hàng sẵn sàng chi trả cho chất lượng và sự độc đáo; Nhà sản xuất: Lợi ích của họ là tạo ra một sản phẩm kinh doanh bền vững, có thương hiệu và mang lại lợi nhuận. Việc đầu tư lớn vào công nghệ, chất lượng nghệ thuật và ý tưởng độc đáo là một chiến lược nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh khác biệt; Nghệ sĩ và đội ngũ sáng tạo: họ có một sân khấu chuyên nghiệp để trình diễn các tác phẩm có chiều sâu nghệ thuật, được đầu tư bài bản và nhận được sự đãi ngộ xứng đáng, khác với tình trạng bấp bênh ở nhiều sân khấu nhỏ lẻ khác; Ngành Văn hóa và du lịch: Chào Show đáp ứng nhu cầu cấp thiết của thành phố về một sản phẩm du lịch văn hóa chất lượng cao, có khả năng giữ chân du khách và định vị TP.HCM trên bản đồ du lịch văn hóa châu Á.

- Mô hình Sân khấu xã hội hóa

Khác biệt với các mô hình trên, nhóm này bao gồm các đơn vị sân khấu, thường do chính các nghệ sĩ tâm huyết thành lập và vận hành, với một sứ mệnh kép: vừa bảo

 

tồn những giá trị nghệ thuật nguyên bản, đặc biệt là các vở Cải lương tuồng tích, vừa phải vật lộn để tồn tại trong cơ chế thị trường. Từ góc độ Sinh thái học văn hóa, các sân khấu này có thể được xem như những “loài” đang gặp khó khăn trong việc thích ứng với một “môi trường” kinh tế khắc nghiệt, nơi các giá trị thương mại thường lấn át giá trị nghệ thuật.

Sân khấu Cải lương Chí Linh – Vân Hà là một đại diện tiêu biểu. Đây là một sân khấu tư nhân chuyên về Cải lương tuồng cổ. Họ không biểu diễn hàng đêm mà theo từng mùa diễn, mỗi lần ra mắt một vở mới và công diễn trong vài suất tại các địa điểm thuê lại như Nhà hát Trần Hữu Trang. Nguồn thu chính của họ đến từ bán vé trực tiếp cho một lượng khán giả trung thành, chủ yếu là người mộ điệu trong nước. Mối liên hệ với du lịch của sân khấu này còn khá mờ nhạt, chủ yếu mang tính tiềm năng hơn là hiện thực, có thể thu hút các nhà nghiên cứu văn hóa hoặc những du khách có sự quan tâm đặc biệt sâu sắc đến Cải lương. Sự tồn tại của sân khấu Chí Linh – Vân Hà là một nỗ lực đáng trân trọng của các nghệ sĩ (một bên liên quan cốt lõi) trong việc giữ lửa cho một loại hình nghệ thuật đang gặp nhiều khó khăn.

Một mô hình thích ứng linh hoạt hơn là Sân khấu/Hội quán Sen Việt do NSƯT Lê Nguyên Đạt sáng lập. Nhận thấy những khó khăn của việc chỉ dàn dựng các vở diễn lớn, Sen Việt đã xây dựng một mô hình “lai” (hybrid). Vào cuối tuần, họ vẫn duy trì việc công diễn các vở Cải lương nguyên tuồng. Nhưng vào các ngày trong tuần, hội quán biến thành một không gian giao lưu cởi mở hơn, với các chương trình “hát với nhau”, biểu diễn ca cổ, trích đoạn theo yêu cầu, và giao lưu ĐCTT, Cải lương. Bằng cách này, Sen Việt không chỉ phục vụ khán giả mộ điệu truyền thống mà còn cố gắng tiếp cận và xây dựng một lớp công chúng mới, bao gồm cả giới trẻ và tiềm năng là du khách. Mô hình này cho thấy một tư duy kinh doanh năng động, một chiến lược thích ứng linh hoạt để tồn tại, tìm cách tạo ra nhiều dòng doanh thu và duy trì hoạt động thường xuyên, biến sân khấu thành một “điểm hẹn’ văn hóa sống động thay vì chỉ là nơi biểu diễn định kỳ.

Nhìn chung, các sân khấu xã hội hóa đang ở trong một vị thế đầy thách thức. Họ là những người bảo vệ “thành trì” của nghệ thuật Cải lương chính thống, nhưng lại phải đối mặt với áp lực kinh tế nặng nề và sự cạnh tranh từ các loại hình giải trí hiện đại. Sự tồn tại và phát triển của họ trong tương lai sẽ phụ thuộc rất nhiều vào sự ủng

 

hộ của các bên liên quan khác như cộng đồng, khán giả, và có thể là cả những chính sách hỗ trợ cụ thể từ nhà nước.

3.2.3. Đánh giá hiệu quả và các vấn đề tồn tại

Dưới góc nhìn của NCS, sự tham gia của khu vực tư nhân đã mang lại một luồng sinh khí mới, tạo ra những thành tựu đáng ghi nhận, nhưng đồng thời cũng bộc lộ những thách thức cố hữu đòi hỏi một giải pháp tiếp cận mang tính hệ thống và bền vững.

Những thành tựu nổi bật: Không thể phủ nhận rằng khu vực tư nhân, với sự năng động và sáng tạo, đã thành công trong việc tạo ra một hệ sinh thái du lịch văn hóa đa dạng, đáp ứng được lợi ích của nhiều bên liên quan. Họ đã chứng minh được rằng di sản văn hóa là một nguồn tài nguyên có giá trị nếu được khai thác đúng cách. Các mô hình từ cộng hưởng ẩm thực đến sân khấu chuyên nghiệp đã tạo ra các “ngách sinh thái” sản phẩm phong phú, đáp ứng nhu cầu của nhiều phân khúc du khách. Quan trọng hơn, các hoạt động này đã tạo thêm “đất diễn” và nguồn thu nhập cho các nghệ sĩ, góp phần vào việc bảo tồn và và phát huy các loại hình nghệ thuật truyền thống đến với công chúng rộng rãi, đặc biệt là du khách quốc tế.

Các vấn đề tồn tại và thách thức: Bên cạnh những thành công, quá trình phát triển này cũng bộc lộ những vấn đề mang tính cấu trúc khi nhìn từ góc độ các bên liên quan và hệ sinh thái:

- Mất cân bằng lợi ích giữa các bên liên quan: Thách thức lớn nhất là sự mất cân bằng trong việc phân chia lợi ích. Các nghệ sĩ – nghệ nhân, dù là bên nắm giữ “vốn văn hóa” cốt lõi, lại thường ở vị thế yếu thế. NNND Thanh Tuyết chia sẻ: “Cái hay nhất của ĐCTT là sự linh hoạt... Nhưng chính vì sự linh hoạt đó mà người ta lại xem chúng tôi như một thứ “gia vị”, một “tiết mục phụ họa” chứ không phải là món chính. Chúng tôi trở thành “nhạc nền” cho một bữa tối sang trọng hay một chuyến du ngoạn trên sông... chủ nhà hàng bán một bữa ăn giá 500.000 đồng, chủ du thuyền bán một vé tour giá cả triệu bạc, còn những người nghệ sĩ chúng tôi... thì nhận được vài trăm ngàn đồng tiền thù lao” (trích biên bản phỏng vấn). Nếu lợi ích của nghệ sĩ không được đảm bảo, toàn bộ hệ thống sẽ mất đi nền tảng bền vững.

- Rủi ro cho sức khỏe hệ sinh thái văn hóa: Áp lực thích ứng với môi trường du lịch có thể dẫn đến sự xói mòn di sản. Nhà nghiên cứu Mai Mỹ Duyên cảnh báo: “nếu làm không khéo, du khách sẽ xem thường loại hình nghệ thuật này... Chúng ta chạy

 

đua theo lợi nhuận, chiều ý theo các thiết kế tour của ngành du lịch, làm cho loại hình này không còn giữ được bản chất của nghệ thuật tài tử nữa mà trở thành một dạng “thập cẩm” âm nhạc” (trích biên bản phỏng vấn). Việc các loại hình nghệ thuật bị giản lược hóa, cắt xén để phục vụ thị hiếu đại chúng có nguy cơ làm “phẳng hóa” bản chất sâu sắc của di sản.

- Sự manh mún và thiếu liên kết giữa các bên liên quan: Mặc dù có nhiều mô hình thành công, sự phát triển hiện nay vẫn còn mang tính tự phát, “mạnh ai nấy làm”. Thiếu một chiến lược tổng thể và sự kết nối giữa các đơn vị tư nhân, giữa tư nhân và nhà nước, đã dẫn đến một hệ sinh thái phân mảnh, chưa tạo ra được sức mạnh cộng hưởng và một thương hiệu du lịch nghệ thuật chung, đủ mạnh cho thành phố.

Tóm lại, khu vực tư nhân đã và đang là một động lực không thể thiếu trong việc đưa NTBDTT vào đời sống du lịch đương đại tại của TP.HCM. Tuy nhiên, để con đường phát triển thực sự bền vững, cần có một sự chung tay, một tầm nhìn chung giữa các bên liên quan nhằm tạo ra một hệ sinh thái nơi giá trị văn hóa và giá trị kinh tế có thể cộng hưởng và cùng nhau phát triển. Như học giả Lê Thị Hải Lý (2015) đã nhấn mạnh: “Văn hóa du lịch luôn luôn thực hiện hai hoạt động song song, khai thác và bảo tồn, tôn tạo tài nguyên du lịch văn hóa. Khai thác được đi liền với bảo tồn; tôn tạo luôn phải tôn trọng cái gốc của tài nguyên”.

3.3. So sánh hiệu quả giữa mô hình khai thác công lập và tư nhân dưới góc độ quản lý văn hóa

3.3.1. Khung phân tích đối sánh

Việc phân tích đối sánh hiệu quả giữa hai mô hình khai thác NTBDTT tại TP.HCM - khu vực công và khu vực tư nhân không thể chỉ dừng lại ở một sự đối lập nhị nguyên đơn giản. Thay vào đó, một lăng kính Quản lý văn hóa đòi hỏi phải kiến giải sự khác biệt này như một biểu hiện của một nghịch lý mang tính hệ thống, một sự xung đột cố hữu giữa hai logic vận hành: logic của một hàng hóa công (public good) và logic của một hàng hóa tư (private good).

Mô hình công lập, với nguồn tài chính chủ yếu từ ngân sách nhà nước, được cấu trúc để thực thi một sứ mệnh văn hóa và chính trị, nhằm cung cấp một hàng hóa công. Mục tiêu cốt lõi là bảo tồn các giá trị di sản tinh hoa và đảm bảo quyền tiếp cận văn hóa một cách rộng rãi, công bằng cho mọi tầng lớp nhân dân, như được minh chứng qua các chương trình biểu diễn miễn phí, có quy mô lớn của Trung tâm Văn hóa

 

TTVH và các suất diễn phục vụ cộng đồng của NHTHT. Thước đo thành công của mô hình này không phải là lợi nhuận kinh tế, mà là các chỉ số về tác động xã hội và chính trị, như mức độ lan tỏa, số lượng công chúng tiếp cận và hiệu quả tuyên truyền.

Ngược lại, mô hình tư nhân vận hành theo logic của một hàng hóa tư, tạo ra những trải nghiệm có tính loại trừ (excludable) và cạnh tranh (rivalrous) mà người tiêu dùng phải trả phí để thụ hưởng. Thành công của mô hình này được đo lường bằng các chỉ số thị trường như doanh thu, lợi nhuận và mức độ hài lòng của khách hàng. Các ví dụ đa dạng từ các nhà hàng, du thuyền, khu du lịch đến các sân khấu xã hội hóa đã cho thấy sự năng động của khu vực tư nhân trong việc “đóng gói” và thương mại hóa di sản để đáp ứng nhu cầu của các phân khúc thị trường cụ thể.

Sự khác biệt này không phải là ngẫu nhiên, mà là hệ quả tất yếu từ “DNA thể chế” của mỗi khu vực. Cơ cấu hành chính, quan liêu và hệ thống khuyến khích phi thị trường của khu vực công khiến các đơn vị này vốn không được thiết kế để có thể vận hành một cách linh hoạt, chấp nhận rủi ro và nhạy bén với những biến đổi của thị trường du lịch trải nghiệm. Trong khi đó, áp lực tối đa hóa lợi nhuận của khu vực tư nhân lại có xu hướng thúc đẩy họ ưu tiên các phiên bản nghệ thuật dễ tiêu thụ, có khả năng nhân rộng và đôi khi là giản lược hóa, thay vì đầu tư vào việc bảo tồn các giá trị văn hóa phức tạp và có chiều sâu. Do đó, bài toán quản lý văn hóa không phải là tìm ra mô hình nào “tốt hơn”, mà là nhận diện và phân tích cách thức nghịch lý này biểu hiện qua các chiều cạnh vận hành, từ đó tạo ra những cơ hội, thách thức và cả những thất bại mang tính hệ thống cho toàn bộ hệ sinh thái du lịch văn hóa của thành phố.

3.3.2. Ma trận đối sánh

Để hệ thống hóa một cách trực quan những khác biệt căn bản giữa hai mô hình, ma trận đối sánh dưới đây tổng hợp các tiêu chí vận hành cốt lõi. Ma trận này đóng vai trò như một khung quy chiếu, làm nền tảng cho các phân tích sâu hơn về từng chiều cạnh, dựa trên những dữ liệu thực chứng đã được thu thập.

Bảng 3.4: Ma trận so sánh các mô hình khai thác NTBDTT giữa khu vực công và tư nhân

Tiêu chí Khu vực Công lập Khu vực Tư nhân


Phương thức quản lý Quản lý theo cơ chế hành chính, bao cấp. Vận hành dựa trên việc thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ chính trị được giao từ cấp trên. Quản lý theo cơ chế thị trường, tự chủ. Vận hành dựa trên hiệu quả kinh doanh, lợi nhuận và sự hài lòng của khách hàng.

 



Sứ mệnh Thực hiện nhiệm vụ chính trị, bảo

tồn và phổ cập di sản. Ưu tiên lợi ích xã hội. Tối đa hóa lợi nhuận, đáp ứng nhu

cầu thị trường. Ưu tiên lợi ích kinh tế.

Mô hình tài chính Phụ thuộc vào ngân sách nhà nước (bao cấp). Doanh thu bán vé không đáng kể. Tự chủ tài chính, huy động vốn tư nhân. Doanh thu là yếu tố sống còn.


Chiến lược sản phẩm “Định hướng sản xuất”: Dàn dựng các vở diễn hoàn chỉnh, hàn lâm. Tổ chức các sự kiện miễn phí, quy mô lớn. “Định hướng trải nghiệm”: Tích hợp nghệ thuật vào các dịch vụ khác (ẩm thực, sinh thái). "Đóng gói" sản phẩm ngắn gọn, linh hoạt.

Đối tượng khán giả Công chúng đại chúng, người dân địa phương, các nhiệm vụ phục vụ chính trị. Du khách (đặc biệt là quốc tế), phân khúc khách hàng có khả năng chi trả cao.

Chỉ số đo lường hiệu quả (KPI) Số lượng suất diễn phục vụ, số lượt người tiếp cận, mức độ lan tỏa truyền thông. Doanh thu, lợi nhuận, mức độ hài lòng của khách hàng, tỷ lệ quay lại.

Chiến lược giá Miễn phí hoặc giá vé rất thấp, mang tính tượng trưng. Định giá cao dựa trên giá trị cảm nhận và chi phí đầu tư.


Điểm mạnh Nguồn nhân lực nghệ sĩ chất lượng cao, có biên chế. Năng lực tổ chức sự kiện lớn. Vai trò nòng cốt trong bảo tồn. Năng động, linh hoạt, nhạy bén với thị trường. Sáng tạo trong việc “đóng gói” và tiếp thị sản phẩm.


Điểm yếu Cơ chế hành chính, trì trệ. Thiếu tư duy kinh doanh. Cơ sở vật chất xuống cấp. Gặp khó khăn nghiêm

trọng trong bán vé. Quy mô nhỏ lẻ, manh mún. Rủi ro “thương mại hóa” quá mức, làm giản lược giá trị nghệ thuật. Quyền

lợi nghệ sĩ chưa được đảm bảo.

Nguồn: NCS tổng hợp từ kết quả nghiên cứu

Phân tích sâu hơn các tiêu chí trong ma trận cho thấy sự khác biệt không chỉ nằm ở bề mặt mà còn ở cấu trúc vận hành. Về phương thức quản lý và sứ mệnh, sự tương phản rõ nét giữa cơ chế chỉ tiêu của NHTHT và sự năng động của các đơn vị như “Chào Show” hay chuỗi nhà hàng Đại Việt cho thấy hai thế giới quan khác biệt. Một bên là sứ mệnh bảo tồn và phục vụ chính trị, một bên là sứ mệnh tồn tại và phát triển trên thương trường. Về mô hình tài chính, sự phụ thuộc vào ngân sách nhà nước của khu vực công, như lời thừa nhận của Giám đốc NHTHT, đã triệt tiêu áp lực thị trường, dẫn đến sự trì trệ trong đổi mới. Ngược lại, sự tự chủ của khu vực tư nhân là động lực cho sáng tạo, nhưng cũng tạo ra áp lực cắt giảm chi phí, dẫn đến rủi ro ảnh hưởng đến quyền lợi nghệ sĩ và chất lượng nghệ thuật, như thực trạng thù lao thấp của nghệ sĩ biểu diễn trên các du thuyền.

Sự khác biệt mang tính chiến lược nhất nằm ở chiến lược sản phẩm và đối tượng khán giả. Khu vực công theo đuổi chiến lược “định hướng sản xuất”

 

(production-oriented), tập trung tạo ra các sản phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh, hàn lâm (các vở Cải lương kinh điển) cho đối tượng khán giả truyền thống và các nhiệm vụ chính trị. Trong khi đó, khu vực tư nhân áp dụng chiến lược “định hướng trải nghiệm” (experience-oriented), tích hợp và “đóng gói” nghệ thuật thành những sản phẩm ngắn gọn, linh hoạt, dễ tiếp cận hơn cho du khách, đặc biệt là khách quốc tế.

Dưới lăng kính của Lý thuyết Kinh tế học văn hóa, sự đối sánh này càng làm nổi bật sự phân hóa trong cách tiếp cận giá trị. Mô hình công lập, với sứ mệnh của mình, rõ ràng ưu tiên việc bảo tồn và bồi đắp giá trị văn hóa, xem NTBDTT như một dạng vốn văn hóa (cultural capital) cần được gìn giữ cho xã hội. Tuy nhiên, mô hình này lại gặp khó khăn nghiêm trọng trong việc chuyển hóa giá trị văn hóa đó thành giá trị kinh tế bền vững, dẫn đến sự phụ thuộc vào bao cấp. Ngược lại, mô hình tư nhân lại tập trung vào việc khai thác giá trị kinh tế từ vốn văn hóa sẵn có. Dù vậy, áp lực thị trường có thể dẫn đến việc khai thác quá mức, làm suy giảm chính giá trị văn hóa cốt lõi – vốn là nguồn gốc tạo ra sức hấp dẫn ban đầu. Sự phân hóa này cho thấy một thất bại thị trường: chưa có mô hình nào thực sự tối ưu hóa được cả hai loại giá trị, tạo ra những sản phẩm vừa có chiều sâu văn hóa, vừa khả thi về mặt kinh tế. Đây chính là một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến “khoảng trống ở giữa” đã được nhận diện.

3.3.3. Đánh giá hiệu quả hệ thống

Để trực quan hóa logic vận hành và hiệu quả của hai mô hình, lưu đồ phân tích dưới đây minh họa hai luồng quy trình song song, từ nguồn lực đầu vào đến kết quả đầu ra.

 

Hình 3.2: Lưu đồ phân tích đối sánh mô hình khai thác NTBDTT

khu vực công và tư nhân. Nguồn: NCS hệ thống hóa từ kết quả nghiên cứu

 

Lưu đồ trên không chỉ đơn thuần là một sơ đồ mô tả, nó còn là một ẩn dụ trực quan cho một trong những vấn đề mang tính cấu trúc nghiêm trọng nhất của hệ sinh thái du lịch văn hóa tại TP.HCM: sự tồn tại của một “khoảng trống ở giữa” (hollowed middle). Lưu đồ cho thấy hai con đường phát triển biệt lập, gần như không giao nhau. Một con đường được nuôi dưỡng bởi ngân sách nhà nước, dẫn đến các kết quả tích cực về mặt xã hội (tiếp cận đại chúng) nhưng lại yếu kém về mặt kinh tế (doanh thu thấp). Con đường còn lại được thúc đẩy bởi vốn tư nhân và nhu cầu thị trường, mang lại hiệu quả kinh tế (doanh thu, lợi nhuận) nhưng lại tiềm ẩn nguy cơ làm sai lệch giá trị văn hóa do thương mại hóa quá mức.

Sự phân cực này đã tạo ra một khoảng trống lớn trên thị trường. Một bên là các chương trình miễn phí, đại chúng của khu vực công. Một bên là các sản phẩm hoặc quá cao cấp, dành cho phân khúc hẹp, hoặc bị hàng hóa hóa, biến nghệ thuật thành dịch vụ phụ trợ với chất lượng không đảm bảo của khu vực tư nhân. Thứ đang thiếu vắng trầm trọng chính là một khu vực trung gian bền vững: những sản phẩm nghệ thuật có chất lượng cao, được đầu tư chuyên nghiệp, có bán vé với mức giá hợp lý và có khả năng tiếp cận rộng rãi. Đây mới chính là xương sống của một ngành công nghiệp văn hóa lành mạnh.

Nguyên nhân của “khoảng trống” này mang tính hệ thống. Khu vực công, với cơ chế vận hành và sứ mệnh của mình, không thể hoạt động hiệu quả trên thị trường thương mại tầm trung. Khu vực tư nhân, với áp lực lợi nhuận, lại nhận thấy việc đầu tư vào các sản phẩm văn hóa chất lượng cao, bán vé cho đại chúng là quá rủi ro so với việc nhắm đến thị trường cao cấp hoặc sử dụng nghệ thuật như một “gia vị” chi phí thấp. Việc “chẩn đoán” ra “khoảng trống ở giữa” này là một luận điểm cốt lõi, giải thích tại sao dù có nhiều hoạt động ở cả hai cực, toàn bộ hệ sinh thái vẫn thiếu tính bền vững và chưa đáp ứng được nhu cầu của một thị trường khán giả chất lượng cao, vốn sẽ được chứng minh sự tồn tại qua kết quả khảo sát ở mục 4.

4. Nhu cầu trải nghiệm nghệ thuật biểu diễn truyền thống của khách du lịch tại TP.HCM

Trong hệ sinh thái phức hợp giữa văn hóa và du lịch, việc khai thác NTBDTT không thể thành công nếu chỉ tập trung vào phía “cung” – tức là bản thân di sản và người nghệ sĩ, nghệ nhân. Một chiến lược phát triển bền vững và hiệu quả đòi hỏi một sự thấu hiểu sâu sắc, dựa trên dữ liệu thực chứng về “thị trường cầu” – chính là du

 

khách. Du khách không chỉ là người tiêu dùng cuối cùng mà còn là một bên liên quan (stakeholder) trung tâm, có vai trò quyết định đến sức sống và sự phát triển của các sản phẩm du lịch văn hóa. Những cảm nhận, kỳ vọng và nhu cầu chưa được đáp ứng của họ chính là những tín hiệu định hướng quan trọng, giúp các nhà quản lý văn hóa và các đơn vị khai thác du lịch điều chỉnh sản phẩm, cải thiện chất lượng dịch vụ và kiến tạo những giá trị mới.

Dưới đây là những phân tích thực chứng toàn diện dựa trên kết quả khảo sát 1072 du khách trong và ngoài nước đã có trải nghiệm với NTBDTT Nam Bộ tại TP.HCM. Mục tiêu cốt lõi là xây dựng một bức tranh đa chiều về thực trạng thị trường khán giả cho loại hình du lịch văn hóa đặc thù này, từ đó nhận diện các cơ hội và thách thức trong việc nâng cao trải nghiệm của họ. Các phân tích và bàn luận trong tiểu mục được soi chiếu qua lăng kính của các lý thuyết nền tảng của luận án. Du khách được nhìn nhận như một bên liên quan trọng yếu, có quyền lực định hình thị trường theo Lý thuyết các bên liên quan. Hành vi và cảm nhận của họ là một yếu tố cấu thành nên “môi trường” mà NTBDTT phải thích ứng để tồn tại trong bối cảnh đô thị đương đại, theo tinh thần của Lý thuyết Sinh thái học văn hóa. Sự sẵn lòng chi trả và những kỳ vọng về trải nghiệm của du khách sẽ được giải mã thông qua các nguyên lý của Lý thuyết Kinh tế học văn hóa, xem xét cách thức giá trị văn hóa có thể được chuyển hóa thành giá trị kinh tế. Cuối cùng, toàn bộ phân tích sẽ hướng đến việc cung cấp những luận cứ thực tiễn cho việc xây dựng các mô hình Du lịch bền vững, nơi lợi ích kinh tế, bảo tồn di sản và sự hài lòng của du khách có thể cùng tồn tại và cộng hưởng. Việc thấu hiểu sâu sắc “thị trường cầu” là tiền đề không thể thiếu để các nhà quản lý văn hóa và du lịch phối hợp xây dựng các sản phẩm và chính sách “cung” phù hợp, hiệu quả và bền vững.

4.1. Đặc điểm nhân chủng học của mẫu khảo sát

Để có thể hoạch định chiến lược khai thác NTBDTT gắn với phát triển du lịch một cách hiệu quả, theo NCS, việc đầu tiên và quan trọng nhất là phải trả lời được câu hỏi: “Khán giả của chúng ta là ai?”. Phân tích dữ liệu khảo sát cho phép phác họa một bức chân dung chi tiết về thị trường du khách, qua đó phá vỡ nhiều định kiến lâu nay cho rằng nghệ thuật truyền thống chỉ thu hút một nhóm đối tượng hạn hẹp, lớn tuổi.

Kết quả thống kê mô tả từ 1072 phiếu khảo sát hợp lệ cho thấy một thị trường khán giả trưởng thành, có trình độ và tiềm lực kinh tế vững chắc. Trái với quan niệm

 

phổ biến, nhóm khán giả chủ đạo không phải là người cao tuổi, mà tập trung ở độ tuổi trung niên và trưởng thành. Cụ thể, nhóm từ 46 – 60 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (44.5%), kế đến là nhóm 31 – 45 tuổi (40.7%). Hai nhóm này cộng lại chiếm đến 85.2% tổng số du khách được khảo sát. Trong khi đó, nhóm du khách trẻ (18 – 30 tuổi) và nhóm trên 60 tuổi chiếm tỷ lệ nhỏ hơn nhiều, lần lượt là 5.8% và 9.0%.



Hình 4.1: Độ tuổi của du khách được khảo sát

Phân tích về nghề nghiệp tiếp tục làm rõ hơn chân dung của phân khúc khán giả này. Dữ liệu cho thấy sự tập trung rõ rệt vào các nhóm ngành nghề có thu nhập ổn định và nền tảng tri thức. Nhóm “Cán bộ, công chức, viên chức/ Nhân viên văn phòng” chiếm tỷ lệ lớn nhất (35.9%), theo sau là nhóm “Kinh doanh tự do/Buôn bán” (29.7%). Đáng chú ý, nhóm “Chủ doanh nghiệp/Quản lý các cấp” cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể là 14.4%. Ba nhóm này cộng lại chiếm gần 80% tổng số du khách, cho thấy khán giả của NTBDTT là những người đã có sự ổn định về nghề nghiệp, có độ chín về nhận thức văn hóa và khả năng tài chính để chi trả cho các trải nghiệm du lịch có chiều sâu.


Hình 4.2: Nghề nghiệp của du khách được khảo sát

 

Đặc điểm này càng được củng cố khi phân tích về trình độ học vấn và thu nhập. Có đến 83.7% du khách có trình độ học vấn từ Trung cấp/Cao đẳng trở lên, trong đó nhóm có trình độ Đại học chiếm đa số với 45.9%. Về mặt kinh tế, có tới 86.6% du khách có mức thu nhập hàng tháng từ 10 triệu VNĐ trở lên, trong đó nhóm có thu nhập từ 20 triệu VNĐ trở lên chiếm một tỷ lệ rất đáng kể là 42.1%. Những con số này vẽ nên chân dung một phân khúc thị trường chất lượng cao, có nền tảng tri thức tốt và có khả năng chi tiêu, chứ không phải là một thị trường đại chúng, nhạy cảm về giá. Đây là một phát hiện nền tảng, có ý nghĩa định hướng chiến lược: thay vì phát triển các sản phẩm theo định kiến là “giá rẻ” hay “giản lược”, hướng đi đúng đắn phải là kiến tạo những trải nghiệm văn hóa tinh tế, có giá trị cao, tương xứng với tầm vóc của phân khúc khán giả này, bảng 4.1 khái quát toàn độ đặc điểm nhân chủng học của những du khách được khảo sát.

Bảng 4.1: Đặc điểm nhân chủng học của du khách trải nghiệm NTBDTT

(N=1072)

Tiêu chí Phân loại Tần số (N) Tỷ lệ (%)

Giới tính Nam 557 52

Nữ 463 43.2

Khác 52 4.8

Độ tuổi 18 – 30 tuổi 62 5.8

31 – 45 tuổi 436 40.7

46 – 60 tuổi 477 44.5

Trên 60 tuổi 97 9



Nghề nghiệp Cán bộ, công chức, viên chức/NVVP 385 35.9

Kinh doanh tự do/Buôn bán 318 29.7

Chủ doanh nghiệp/Quản lý các cấp 154 14.4

Công nhân/Lao động phổ thông 91 8.5

Hưu trí 69 6.4

Học sinh/Sinh viên 46 4.3

Khác 9 0.8

Trình độ học vấn Dưới THPT 36 3.4

THPT 138 12.9

Trung cấp/Cao đẳng 323 30.1

Đại học 492 45.9

Trên Đại học 83 7.7

Thu

nhập/tháng Dưới 5 triệu VNĐ 24 2.2

5 – < 10 triệu VNĐ 120 11.2

10 – < 20 triệu VNĐ 477 44.5

20 – < 40 triệu VNĐ 348 32.5

Từ 40 triệu VNĐ trở lên 103 9.6

Quốc tịch Việt Nam 620 57.8

Nước ngoài 452 42.2

Số lần đến

TP.HCM Lần đầu tiên 191 17.8

2 – 3 lần 207 19.3

 


Trên 3 lần 482 45

Sinh sống ở TP.HCM 192 17.9

Nguồn: Kết quả khảo sát

Bên cạnh đặc điểm nhân khẩu học, hành vi du lịch cũng cho thấy đây là một nhóm khán giả có kinh nghiệm và chủ động tìm kiếm trải nghiệm. Mẫu khảo sát có cơ cấu khá cân bằng giữa du khách nội địa (57.8%) và quốc tế (42.2%), cho thấy sức hấp dẫn của văn hóa bản địa đối với thị trường toàn cầu. Đáng chú ý, có tới 45% du khách đã đến TP.HCM trên 3 lần, và hơn 50% có tần suất đi du lịch “Thường xuyên” hoặc “Rất thường xuyên” trong năm. Điều này cho thấy họ không phải là những du khách lần đầu, chỉ tìm kiếm các điểm tham quan nổi tiếng, mà có xu hướng quay trở lại và tìm kiếm những trải nghiệm sâu hơn, ý nghĩa hơn.

Tuy nhiên, một trong những phát hiện có ý nghĩa chiến lược nhất của nghiên cứu nằm ở việc phân tích bối cảnh mà du khách tiếp cận NTBDTT (xem bảng bên dưới).

Bảng 4.2: Thống kê không gian trải nghiệm NTBDTT của du khách


Nơi trải nghiệm chương trình Phản hồi Percent of Cases (%)

N Tỷ lệ (%)

Nhà hát/Sân khấu chuyên nghiệp 136 8.9 12.7

Không gian công cộng 595 39.1 55.5

Khu du lịch, điểm tham quan 383 25.1 35.7

Khách sạn, nhà hàng, quán cafe 246 16.2 22.9

Lễ hội/sự kiện cộng đồng 163 10.7 15.2

Tổng 1523 100 142.1

Nguồn: Kết quả khảo sát

Dữ liệu cho thấy điểm chạm chính của du khách với NTBDTT hiện nay không phải là các không gian nghệ thuật chính thống. Chỉ có 12.7% du khách được khảo sát trải nghiệm NTBDTT tại nhà hát hoặc sân khấu chuyên nghiệp. Ngược lại, có đến 55.5% đã xem tại các không gian công cộng (công viên, phố đi bộ) và 35.7% tại các khu du lịch, điểm tham quan (câu khảo sát này được quyền chọn nhiều đáp án nếu du khách từng trải nghiệm ở nhiều không gian khác nhau). Tình trạng này không phải là ngẫu nhiên mà là kết quả của một chiến lược có chủ đích từ phía các nhà quản lý văn hóa. Bà Nguyễn Thị Hoài Phượng, Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm Văn hóa TP.HCM, cho biết: “Chúng tôi chủ trương đưa nghệ thuật truyền thống “hòa mình” vào đời sống, lồng ghép một cách tự nhiên vào các lễ hội, các sự kiện văn hóa – chính trị quan trọng... Cách làm này giúp tối ưu hóa khả năng tiếp cận khán giả để phát huy

 

nghệ thuật truyền thống” (trích biên bản phỏng vấn). Chiến lược này, tuy thành công trong việc tăng độ phủ sóng và khả năng tiếp cận, nhưng lại vô tình đẩy di sản vào một “bẫy trải nghiệm môi trường” (ambient experience trap). Khi được trình diễn trong những bối cảnh ồn ào, thiếu trang trọng và không được thiết kế chuyên biệt, NTBDTT có nguy cơ bị giản lược thành một trải nghiệm “ngẫu nhiên”, một thứ “nhạc nền” cho các hoạt động khác.



Hình 4.3: Không gian trải nghiệm NTBDTT của du khách

Phát hiện này, khi được soi chiếu qua lăng kính của Lý thuyết Sinh thái học văn hóa đã bộc lộ một nghịch lý sâu sắc. Một mặt, nó cho thấy khả năng thích ứng của NTBDTT với “hệ sinh thái” du lịch đô thị, nơi nghệ thuật phải tìm đến với du khách ở những không gian phi truyền thống. Mặt khác, sự thích ứng này lại đang đẩy NTBDTT vào một “cái bẫy trải nghiệm môi trường” (ambient experience trap). Khi được trình diễn trong những bối cảnh ồn ào, thiếu trang trọng và không được thiết kế chuyên biệt, NTBDTT có nguy cơ bị giản lược thành một trải nghiệm “ngẫu nhiên” (incidental), một thứ “nhạc nền” cho các hoạt động khác, thay vì là một sự kiện “điểm đến” (destination) mà du khách chủ động tìm kiếm và sẵn lòng chi trả cao. “Ngách sinh thái” này tuy giúp tăng cường khả năng tiếp cận, nhưng đồng thời lại làm suy giảm giá trị cảm nhận về tính nghệ thuật, tính nguyên bản và kìm hãm tiềm năng kinh tế của di sản. Đây chính là một trong những mâu thuẫn cốt lõi mà các chiến lược phát triển trong tương lai cần phải giải quyết.

4.2. Đánh giá thực trạng trải nghiệm của du khách

Để hiểu rõ hơn về sản phẩm du lịch NTBDTT hiện tại, việc phân tích chi tiết đánh giá của du khách đối với các khía cạnh khác nhau của trải nghiệm là vô cùng cần thiết. Dữ liệu khảo sát đã bộc lộ một sự phân hóa rõ rệt: trong khi du khách đánh giá rất cao những giá trị thuộc về lõi văn hóa và cảm xúc, thì sự hài lòng chung của họ lại bị

 

kìm hãm đáng kể bởi những yếu kém của các yếu tố “ngoại vi” liên quan đến môi trường dịch vụ và cơ sở vật chất.

Phân tích dữ liệu cho thấy sức mạnh lớn nhất của sản phẩm du lịch NTBDTT nằm ở khả năng mang lại giá trị gia tăng về tri thức và cảm xúc. Phát biểu “Trải nghiệm nghệ thuật truyền thống này giúp tôi hiểu biết hơn về văn hóa địa phương Nam Bộ” đạt điểm trung bình cao nhất là 3.61 trên thang đo 5 điểm. Theo sau đó là phát biểu “Việc thưởng thức nghệ thuật truyền thống Nam Bộ là một điểm nhấn đáng nhớ trong chuyến du lịch của tôi” với điểm trung bình là 3.59. Những con số này mang một ý nghĩa quan trọng: du khách tìm đến NTBDTT không chỉ để “xem” mà còn để “hiểu” và “cảm”. Trải nghiệm này được định vị như một hoạt động làm giàu thêm vốn văn hóa và tạo ra những ký ức sâu sắc, đáp ứng đúng xu hướng du lịch trải nghiệm (experiential tourism) trên toàn cầu. Dưới góc độ của Kinh tế học văn hóa, giá trị mà du khách nhận được không chỉ là giá trị sử dụng (xem một buổi biểu diễn), mà còn là giá trị biểu tượng và giá trị giáo dục. Các yếu tố kỹ thuật cốt lõi của buổi diễn như “Chất lượng biểu diễn của các nghệ sĩ” (Mean = 3.25) và “Nội dung chương trình hấp dẫn và lôi cuốn” (Mean = 3.24) được đánh giá ở mức khá thấp, cho thấy du khách đang cảm nhận chất lượng buổi biểu diễn mà họ được xem rất bình thường và chưa có gì đặc biệt.

Một trong những yếu tố quan trọng là cơ sở vật chất cũng không thể khả quan hơn, cụ thể, phát biểu “Cơ sở vật chất và không gian tổ chức buổi biểu diễn (sân khấu, âm thanh, chỗ ngồi) đạt chất lượng tốt” chỉ có điểm trung bình là 3.29. Con số này tuy vẫn trên mức trung bình nhưng lại thấp hơn đáng kể so với các đánh giá về giá trị văn hóa. Những phàn nàn của du khách không phải là những cảm nhận chủ quan, mà được xác thực bởi thực trạng từ chính các đơn vị cung cấp. Ông Phan Quốc Kiệt, Giám đốc NHTHT, thẳng thắn thừa nhận: “Dù Rạp Hưng Đạo mang giá trị lịch sử, nhưng trang thiết bị kỹ thuật đã không còn đáp ứng được yêu cầu của các phương thức dàn dựng sân khấu hiện đại. Đây cũng là một điểm nghẽn lớn trong việc nâng cao chất lượng nghệ thuật của các vở diễn” (Trích biên bản phỏng vấn). Bằng chứng này cho thấy “khoảng trống trải nghiệm” không chỉ là cảm nhận của khách hàng mà là một thực trạng cố hữu từ phía nhà hát. Theo NCS, khái niệm “cơ sở vật chất” cần được hiểu rộng hơn, không chỉ bao gồm những gì khán giả nhìn thấy trên sân khấu mà còn là điều kiện làm việc của nghệ sĩ, yếu tố ảnh hưởng gián tiếp đến chất lượng chương trình.

 

NNND Thanh Tuyết chia sẻ một thực tế đáng buồn: “… mỗi khi đi diễn các show ngoài trời như vậy, nghệ sĩ chúng tôi không có khu vực hóa trang, thay đồ riêng. Nhiều lúc phải ngồi lê lếch ở một góc nào đó để chỉnh trang lại trang phục... Nhìn rất tội nghiệp và làm giảm đi tính chuyên nghiệp của người nghệ sĩ” (Trích biên bản phỏng vấn).

“Điểm nghẽn” này càng trở nên rõ ràng hơn khi phân tích câu hỏi về yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến sự hài lòng. Kết quả cho thấy “Không gian và bầu không khí buổi biểu diễn” được lựa chọn bởi tỷ lệ du khách cao nhất, lên tới 32.3%, theo sau là “Mức độ tương tác và giao lưu” (26.9%) và “Hệ thống âm thanh, ánh sáng, sân khấu” (15.3%).



Hình 4.4: Yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến sự hài lòng của du khách

Sự kết hợp giữa dữ liệu định lượng và các phản hồi định tính đã cho thấy một “khoảng trống trải nghiệm” (experience gap) rất rõ ràng. Du khách nhận thức được giá trị của di sản, nhưng cảm nhận tổng thể của họ lại bị chi phối và hạn chế bởi chất lượng của không gian vật lý. Một du khách quốc tế (MS0017) chia sẻ: “Không gian biểu diễn đôi khi quá ồn ào và đông đúc... Rất khó để thực sự thưởng thức nghệ thuật”. Một du khách khác (MS0079) phàn nàn: “Âm thanh ở các không gian mở rất tệ, bị vang và lẫn tạp âm”. Thậm chí, một du khách (MS0101) còn nhận xét gay gắt: “Chất lượng của buổi biểu diễn thì tuyệt vời, nhưng địa điểm thì quá tệ. Đó là một sự không tương xứng”.

Như vậy, có thể thấy rằng rào cản lớn nhất kìm hãm sự phát triển và nâng cao giá trị của sản phẩm du lịch NTBDTT tại TP.HCM hiện nay không nằm ở chất lượng nghệ thuật nội tại, mà nằm ở hệ thống cơ sở vật chất, công nghệ sân khấu và thiết kế không gian trải nghiệm. Dưới góc độ Kinh tế học văn hóa, “khoảng trống trải nghiệm”

 

này đang trực tiếp làm suy giảm tổng giá trị cảm nhận của sản phẩm, từ đó ngăn cản các nhà tổ chức khai thác hết tiềm năng kinh tế mà giá trị văn hóa cốt lõi có thể mang lại. Việc đầu tư nâng cấp các yếu tố “ngoại vi” này không chỉ là một sự cải thiện nhỏ, mà là một đòn bẩy chiến lược có khả năng tạo ra tác động đột phá đến sự hài lòng chung của du khách.

Bảng 4.3: Đánh giá của du khách về các yếu tố cấu thành trải nghiệm

(N=1072)



Yếu tố đánh giá

Hạng ĐTB

(Mean) Độ lệch chuẩn (SD)

Giá trị văn hóa cốt lõi

Trải nghiệm giúp hiểu biết hơn về văn hóa địa phương (Q18) 1 3.61 0.73

Là một điểm nhấn đáng nhớ trong chuyến du lịch (Q19) 2 3.59 0.70

Các yếu tố cấu thành sản phẩm và dịch vụ

Cơ sở vật chất và không gian tổ chức (Q14) 3 3.29 0.74

Thời lượng chương trình phù hợp (Q13) 4 3.26 0.75

Chất lượng biểu diễn của nghệ sĩ (Q12) 5 3.25 0.74

Nội dung chương trình hấp dẫn và lôi cuốn (Q11) 6 3.24 0.76

Mức độ hài lòng chung với trải nghiệm (Q10) 6 3.24 0.76

Nguồn: Kết quả khảo sát

4.3. Giải mã những nhu cầu trải nghiệm nâng cao

Một trong những phát hiện quan trọng và mang tính đột phá nhất của nghiên cứu là việc nhận diện một sự chuyển dịch sâu sắc trong kỳ vọng của du khách. Khán giả đương đại không còn muốn là những người quan sát thụ động; họ khao khát được tham gia sâu hơn, được tương tác và trở thành người đồng kiến tạo (co-creator) cho chính trải nghiệm văn hóa của mình. Nhu cầu này biểu hiện rõ nét qua hai xu hướng chính: mong muốn tương tác con người và kỳ vọng vào sự tích hợp công nghệ số.

- Nhu cầu tương tác sâu và khám phá hậu trường:

Dữ liệu khảo sát cho thấy một xu hướng rất rõ ràng: du khách đang tìm kiếm một sự kết nối con người (human connection) và một cái nhìn “hậu trường” (behind the scenes) về thế giới nghệ thuật. Phát biểu “Tôi muốn được giao lưu và chụp ảnh lưu niệm với nghệ nhân/nghệ sĩ sau chương trình” đạt điểm trung bình rất cao là 3.61. Tương tự, mong muốn “được tham quan khu vực hóa trang và kho đạo cụ” cũng nhận được sự quan tâm lớn với điểm trung bình là 3.47.

 

Những con số này không chỉ là những sở thích đơn thuần, mà là minh chứng mạnh mẽ cho thấy du khách muốn phá vỡ “bức tường thứ tư” vô hình ngăn cách giữa sân khấu và khán đài. Các ý kiến từ câu hỏi mở đã làm rõ hơn nhu cầu này. Rất nhiều du khách đề xuất những hình thức tương tác cụ thể và sâu sắc. Một du khách quốc tế (MS0091) cho rằng: “Một buổi nói chuyện với nghệ sĩ sau buổi diễn là điều cần thiết cho một trải nghiệm văn hóa trọn vẹn”. Một người khác (MS0043) bày tỏ: “Một tấm vé thông hành vào hậu trường sẽ thật tuyệt vời. Tôi rất muốn được xem khu vực trang phục và đạo cụ”. Thậm chí, có những đề xuất còn mang tính trải nghiệm cao hơn như “tour một ngày làm nghệ sĩ - cho du khách trải nghiệm hóa trang, mặc thử trang phục” (MS0093) hay “một buổi tiệc trà thân mật với các nghệ sĩ sau buổi diễn sẽ là một kỷ niệm không thể nào quên” (MS0108).

Nhu cầu này phản ánh một sự chuyển dịch lớn trong tâm lý du lịch toàn cầu, từ việc tiêu thụ sản phẩm sang việc tham gia vào quá trình tạo ra trải nghiệm. Du khách hiện đại muốn trở thành một phần của câu chuyện, chứ không chỉ đơn thuần là người nghe kể chuyện. Nhu cầu “giao lưu với nghệ sĩ” hay “tham quan hậu trường” chính là biểu hiện của việc du khách muốn chuyển từ vai trò khán giả (người nhận giá trị) sang vai trò đối tác (người tham gia tạo ra giá trị), làm cho trải nghiệm của họ trở nên độc đáo và cá nhân hơn. Các chuyên gia cũng đồng tình với luận điểm này, nhà nghiên cứu Mai Mỹ Duyên gợi ý: “…có thể hướng dẫn du khách thao tác trên những nhạc cụ đơn giản... tập cho họ ca một bản nhạc ngắn 4 câu... chỉ trong vòng vài phút là các bạn đã có thể ca được” (Trích biên bản phỏng vấn). Trong khi đó, nhà nghiên cứu Lê Hồng Phước nhấn mạnh vai trò của việc giải thích bối cảnh: “phải giải thích về lịch sử ra đời, về giá trị văn hóa của nó... Khi khách đã hiểu được nội dung, tự nhiên họ nghe giai điệu sẽ cảm nhận được sâu sắc hơn” (Trích biên bản phỏng vấn).

Dưới góc độ Lý thuyết các bên liên quan, đây là một tín hiệu cho thấy du khách đang muốn chuyển vai trò từ một người tiếp nhận thụ động thành một bên liên quan tích cực, tham gia vào quá trình “đồng kiến tạo giá trị” (value co-creation). Việc đáp ứng nhu cầu này không chỉ làm tăng sự hài lòng mà còn giúp du khách hiểu và trân trọng hơn giá trị của NTBDTT, đồng thời mở ra những nguồn thu mới từ các dịch vụ gia tăng.

 

- Nhu cầu tích hợp công nghệ số để nâng cao trải nghiệm

Có lẽ phát hiện gây ngạc nhiên và có ý nghĩa chiến lược bậc nhất trong toàn bộ khảo sát là nhu cầu rất cao của du khách đối với việc ứng dụng công nghệ. Phát biểu “Tôi muốn được nâng cao trải nghiệm nghệ thuật truyền thống bằng các ứng dụng công nghệ số (như bảo tàng số, thực tế ảo VR, thực tế tăng cường AR…)” đạt điểm trung bình cao nhất trong tất cả các câu hỏi về mong muốn, với giá trị lên tới 3.71.

Phát hiện này bác bỏ hoàn toàn e ngại rằng việc đưa công nghệ vào nghệ thuật truyền thống sẽ làm mất đi “tính chân thực” (authenticity). Ngược lại, dữ liệu cho thấy du khách hiện đại không xem công nghệ và truyền thống là hai thái cực đối lập. Họ kỳ vọng công nghệ sẽ là một công cụ mạnh mẽ để làm giàu thêm và sâu sắc thêm trải nghiệm văn hóa. Các nghệ nhân trẻ đặc biệt nhạy bén với nhu cầu này. Tài tử trẻ Nguyễn Văn Nghiệp đề xuất “một màn hình LED nhỏ chạy phụ đề song ngữ, hoặc một ứng dụng trên điện thoại”, trong khi NNƯT Ngọc Đặng gợi ý “mỗi điểm diễn có một mã QR... Du khách chỉ cần quét mã là có thể truy cập vào một trang web nhỏ, có đầy đủ thông tin” (trích biên bản phỏng vấn).

Các đề xuất của du khách rất cụ thể và tinh tế, cho thấy một sự am hiểu về tiềm năng của công nghệ, cụ thể:

Để phá vỡ rào cản: Nhiều du khách quốc tế xem đây là yêu cầu cơ bản. Một du khách (MS0062) thẳng thắn: “Rào cản ngôn ngữ là vấn đề lớn nhất... Phải có phụ đề song ngữ trên màn hình. Đây là yêu cầu cơ bản cho bất kỳ buổi diễn tiêu chuẩn quốc tế nào”. Một người khác (MS0199) đề xuất: “Một ứng dụng dịch thuật thời gian thực hoặc ít nhất là tóm tắt các màn diễn sẽ thật tuyệt vời”.

Để làm sâu sắc thêm sự thấu hiểu: Du khách đề xuất dùng công nghệ để cung cấp thông tin theo ngữ cảnh. Ví dụ: “Nên có ứng dụng AR trên điện thoại, khi chiếu vào sân khấu sẽ hiện lên thông tin về nhân vật, bối cảnh” (MS0097) hay “Nên có mã QR ở ghế ngồi, quét là ra thông tin, hình ảnh, tiểu sử của các nghệ sĩ đang biểu diễn” (MS0012).

Để tăng cường sự choáng ngợp của sân khấu: Nhiều ý kiến cho rằng công nghệ có thể giải quyết điểm yếu về không gian biểu diễn. Một du khách (MS0087) đề xuất: “Sử dụng công nghệ 3D mapping để tạo ra những phông nền động thay vì tĩnh. Nó sẽ làm cho buổi diễn trở nên sống động hơn nhiều”.

 

Để mở rộng trải nghiệm vượt ra ngoài sân khấu: Du khách mong muốn có những sản phẩm số để có thể tiếp cận mọi lúc, mọi nơi, như “một bảo tàng ảo về ĐCTT và Cải lương” (MS0076) hay “xây dựng một nền tảng streaming (giống Netflix) cho sân khấu truyền thống” (MS0086).

Thoạt nhìn, việc du khách vừa tìm kiếm “tính chân thực” lại vừa đòi hỏi “công nghệ cao” có vẻ mâu thuẫn. Tuy nhiên, điều này có thể được lý giải bằng khái niệm “tính chân thực được thương lượng” (negotiated authenticity) trong các nghiên cứu về du lịch văn hóa hiện đại. Du khách quốc tế ngày nay đủ tinh tế để hiểu rằng nhiều trải nghiệm du lịch là được “dàn dựng” (staged). Do đó, họ không đòi hỏi một sự chân thực nguyên thủy. Thay vào đó, họ tìm kiếm một sự chân thực trong cảm xúc và trong sự thấu hiểu. Công nghệ, trong trường hợp này, không phải là “kẻ thù’ của tính chân thực, mà là công cụ để kiến tạo một trải nghiệm được cảm nhận là chân thực hơn. Đối với một du khách không biết tiếng Việt, việc không hiểu cốt truyện khiến trải nghiệm trở nên kém chân thực; phụ đề điện tử sẽ giúp họ kết nối với linh hồn của vở diễn và làm cho trải nghiệm trở nên chân thực hơn. Nhu cầu rõ ràng này là một “đơn đặt hàng” từ thị trường, thúc giục ngành văn hóa và du lịch TP.HCM phải mạnh dạn đổi mới, sáng tạo.

Tuy nhiên, có một khoảng cách lớn giữa nhu cầu của thị trường và khả năng đáp ứng của các đơn vị công lập. Trong khi Bà Nguyễn Thị Hoài Phượng cho biết đã “tập trung vào hình thức livestream”, thì Ông Phan Quốc Kiệt thừa nhận “chưa thể triển khai một cách bài bản bất kỳ dự án lớn nào về công nghệ thực tế ảo (VR), trí tuệ nhân tạo (AI) hay bảo tàng số” do rào cản về kinh phí (trích biên bản phỏng vấn). Nhu cầu mạnh mẽ về tương tác và công nghệ không chỉ đòi hỏi sự bổ sung các hoạt động nhỏ lẻ, mà nó báo hiệu một sự thay đổi mang tính cấu trúc trong mô hình kinh doanh của nghệ thuật biểu diễn phục vụ du lịch: chuyển từ mô hình “bán sản phẩm” sang mô hình “thiết kế và quản lý một hành trình trải nghiệm” (designing and managing an experience journey).

4.4. Sự khác biệt trong cảm nhận và kỳ vọng giữa các phân khúc thị trường

Thị trường du lịch văn hóa không phải là một khối đồng nhất. Việc phân tích sự khác biệt trong cảm nhận và nhu cầu giữa các nhóm du khách khác nhau sẽ giúp nhận diện các phân khúc thị trường mục tiêu và xây dựng những chiến lược sản phẩm,

 

marketing được “may đo” cho từng đối tượng, từ đó tối ưu hóa hiệu quả, vừa góp phần bảo tồn di sản vừa phát triển du lịch.

- Phân tích theo Quốc tịch:

So sánh giữa hai nhóm du khách Việt Nam (N=620) và du khách nước ngoài (N=452) cho thấy những khác biệt tinh tế nhưng có ý nghĩa quan trọng. Về mức độ hài lòng, du khách nước ngoài có xu hướng đánh giá cao hơn các yếu tố thuộc về “lõi nghệ thuật” như “Nội dung chương trình hấp dẫn” (Mean = 3.32 so với 3.18 của khách Việt). Ngược lại, du khách Việt Nam lại tỏ ra hài lòng hơn với các yếu tố “ngoại vi” như “Cơ sở vật chất và không gian tổ chức” (Mean = 3.30 so với 3.27). Sự khác biệt này có thể được lý giải rằng hai nhóm du khách đang tìm kiếm những giá trị khác nhau trong cùng một trải nghiệm. Du khách quốc tế, với tâm thế của “nhà thám hiểm văn hóa”, tập trung vào chính giá trị buổi diễn – thứ mà họ xem là tinh hoa bản địa. Trong khi đó, du khách Việt Nam, vốn đã quen thuộc với bối cảnh văn hóa, có thể tiếp cận trải nghiệm với tâm thế giải trí nhiều hơn, do đó họ quan tâm hơn đến các yếu tố tiện nghi.

Sự khác biệt càng trở nên rõ nét hơn khi phân tích về nhu cầu gia tăng. Du khách nước ngoài thể hiện một mong muốn mạnh mẽ hơn hẳn đối với tất cả các loại hình trải nghiệm tương tác và công nghệ. Điểm trung bình về mong muốn “giao lưu với nghệ sĩ” của họ là 3.67 (so với 3.56 của khách Việt) và đặc biệt, mong muốn “nâng cao trải nghiệm bằng công nghệ số” lên tới 3.82 (so với 3.63 của khách Việt). Song song đó, họ cũng có sự sẵn lòng chi trả cao hơn đáng kể nếu chất lượng được đảm bảo (Mean = 3.72 so với 3.50). Điều này cho thấy du khách quốc tế là một phân khúc thị trường có yêu cầu cao nhưng cũng có tiềm năng chi trả lớn. Họ không chỉ muốn xem, mà còn muốn hiểu và kết nối. Công nghệ và tương tác chính là chìa khóa để mở cánh cửa thấu hiểu đó, và họ sẵn sàng chi trả để có được chiếc chìa khóa này.

Bảng 4.4: So sánh nhu cầu và nhận thức giữa du khách Việt Nam và Quốc tế


Tiêu chí đánh giá Khách Việt

Nam (Mean) Khách Nước

ngoài (Mean) Chênh lệch

Đánh giá trải nghiệm

Nội dung chương trình hấp dẫn (Q11) 3.18 3.32 +0.14

Cơ sở vật chất và không gian tổ chức (Q14) 3.30 3.27 -0.03

Nhu cầu nâng cao trải nghiệm

Tham quan hậu trường, kho đạo cụ (Q15) 3.45 3.50 +0.05

Giao lưu, chụp ảnh với nghệ sĩ (Q16) 3.56 3.67 +0.11

Nâng cao trải nghiệm bằng công nghệ số (Q17) 3.63 3.82 +0.19

 


Nhận thức và sự sẵn lòng chi trả

Sẵn sàng chi trả nếu chất lượng đảm bảo (Q26) 3.50 3.72 +0.22

Nguồn: Kết quả khảo sát


- Phân tích theo mức thu nhập

Phân tích sâu hơn theo các biến nhân khẩu học khác, đặc biệt là thu nhập, tiếp tục cho thấy sự tồn tại của những phân khúc thị trường có giá trị. Dữ liệu cho thấy có một mối liên hệ rõ ràng giữa mức thu nhập và mức độ kỳ vọng. Nhóm du khách có thu nhập cao nhất (từ 40 triệu VNĐ/tháng trở lên) thể hiện sự mong muốn cao nhất đối với các trải nghiệm gia tăng. Điểm trung bình của nhóm này cho mong muốn “giao lưu với nghệ sĩ” là 3.81 và mong muốn “ứng dụng công nghệ số” là 3.83 - cao nhất trong tất cả các nhóm thu nhập. Song song đó, đây cũng là nhóm thể hiện sự sẵn lòng chi trả cao nhất cho các chương trình chất lượng, với điểm trung bình là 3.72.

Sự tương quan chặt chẽ giữa thu nhập cao, nhu cầu trải nghiệm cao cấp và sự sẵn lòng chi trả cao là một bằng chứng thống kê rõ ràng về sự tồn tại của một phân khúc “du lịch văn hóa cao cấp” (premium cultural tourism). Phân khúc này không nhạy cảm về giá (price-insensitive) mà nhạy cảm về trải nghiệm (experience- sensitive). Họ không chỉ sẵn sàng trả nhiều tiền hơn, mà còn đòi hỏi những trải nghiệm độc đáo, được cá nhân hóa, có chiều sâu và được hỗ trợ bởi công nghệ hiện đại. Đây là một cơ hội vàng để phát triển các dòng sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, như các gói VIP bao gồm tour tham quan hậu trường, gặp gỡ riêng với nghệ sĩ và quà tặng đặc biệt (MS0123), hay các chương trình biểu diễn riêng kết hợp ẩm thực tinh hoa (MS0415) mà chính du khách đã đề xuất. Việc bỏ qua phân khúc này đồng nghĩa với việc bỏ lỡ một nguồn doanh thu quan trọng và cơ hội để nâng tầm thương hiệu cho NTBDTT của TP.HCM.

4.5. Nhận thức của du khách về vai trò của nghệ thuật biểu diễn truyền thống trong phát triển du lịch văn hóa

Phần này làm rõ vai trò của du khách như một thành tố quan trọng trong quản lý văn hóa, đặc biệt khi phát triển du lịch gắn với NTBDTT. Kết quả khảo sát cho thấy du khách không chỉ là người tiêu dùng thụ động mà còn có nhận thức rõ về giá trị di sản và vai trò của nó trong phát triển du lịch văn hóa. Sự sẵn sàng chi trả và quan tâm đến chất lượng trải nghiệm chính là cơ sở thực tiễn để xây dựng mô hình quản lý văn hóa hiệu quả, cân bằng giữa bảo tồn và khai thác kinh tế.

 

- Luận cứ cho việc bảo tồn di sản gắn với du lịch bền vững

Kết quả khảo sát cho thấy một sự đồng thuận cao của du khách về những tác động tích cực mà du lịch văn hóa mang lại, qua đó củng cố mạnh mẽ cho định hướng phát triển du lịch bền vững. Các phát biểu về vai trò của du lịch NTBDTT đều nhận được điểm trung bình đồng ý ở mức cao. Cụ thể, du khách đồng tình rằng hoạt động này “góp phần bảo tồn và phát huy các loại hình nghệ thuật truyền thống” (Mean = 3.58), “giúp tạo thêm việc làm và thu nhập cho người dân địa phương” (Mean = 3.57), và “thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa du khách và người dân địa phương” (Mean = 3.57).

Những đánh giá này cho thấy du khách nhìn nhận việc tham gia và chi trả cho các hoạt động NTBDTT không chỉ để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, mà còn là một hành động có ý thức, góp phần vào sự phát triển chung của cộng đồng và bảo tồn di sản. Đây chính là minh chứng thực tiễn cho sự vận hành của các trụ cột kinh tế và văn hóa

- xã hội trong Lý thuyết Du lịch bền vững. Du lịch, khi được phát triển đúng hướng, có thể trở thành một công cụ hữu hiệu để đạt được các mục tiêu kép: vừa phát triển kinh tế, vừa bảo tồn văn hóa. Đáng chú ý, khi so sánh giữa hai nhóm quốc tịch, du khách nước ngoài có nhận thức về các tác động tích cực này còn cao hơn cả du khách Việt Nam trên tất cả các tiêu chí. Điều này hàm ý rằng, việc quảng bá các sản phẩm du lịch NTBDTT gắn với các câu chuyện về tính bền vững và du lịch có trách nhiệm (responsible tourism) có thể là một chiến lược marketing rất hiệu quả, đặc biệt với thị trường quốc tế.

- Luận cứ cho Kinh tế học văn hóa

Một trong những rào cản tâm lý lớn nhất trong việc thương mại hóa nghệ thuật truyền thống là lo ngại rằng khán giả không sẵn lòng trả tiền. Tuy nhiên, kết quả khảo sát đã đưa ra một câu trả lời mạnh mẽ và đầy lạc quan. Phát biểu “Tôi sẵn sàng chi trả cho các chương trình biểu diễn nghệ thuật truyền thống nếu chất lượng được đảm bảo” nhận được điểm trung bình khá cao là 3.59. Con số này cho thấy thị trường có một nhu cầu thực và một sự sẵn lòng chi trả (willingness to pay) rõ ràng. Vấn đề không nằm ở việc “có bán được vé hay không”, mà là “sản phẩm có đủ chất lượng để bán vé hay không”.

 

Bảng 4.5: Nhận thức của du khách về vai trò của du lịch văn hóa và sự sẵn lòng chi trả

Tiêu chí đánh giá Tổng thể

(Mean) Việt Nam

(Mean) Nước ngoài

(Mean) ĐLC

Nhận thức về tác động bền vững

Góp phần bảo tồn và phát huy di sản (Q22) 3.58 3.50 3.69 0.80

Tạo việc làm và thu nhập cho địa phương (Q23) 3.57 3.51 3.65 0.79

Thúc đẩy giao lưu văn hóa (Q25) 3.57 3.52 3.62 0.78

Nâng cao vị thế và giá trị văn hóa (Q24) 3.55 3.50 3.62 0.80

Sự sẵn lòng chi trả

Sẵn sàng chi trả nếu chất lượng đảm bảo (Q26) 3.59 3.50 3.72 0.81

Nguồn: Kết quả khảo sát

Phân tích sâu hơn theo quốc tịch càng củng cố thêm nhận định này. Du khách nước ngoài có sự sẵn lòng chi trả cao hơn đáng kể so với du khách Việt Nam (M = 3.72 so với 3.50). Những phát hiện này là một minh chứng thực tiễn cho các nguyên lý của Kinh tế học văn hóa, vốn xem các sản phẩm nghệ thuật không chỉ có giá trị nội tại mà còn có giá trị kinh tế có thể quy đổi thành tiền. Mức độ sẵn lòng chi trả của du khách chính là thước đo cho giá trị cảm nhận mà họ nhận được từ trải nghiệm văn hóa. Dữ liệu cho thấy giá trị này là rất cao. Đây là những luận cứ thực tiễn, cung cấp cho các nhà quản lý văn hóa và du lịch một cơ sở vững chắc để tự tin hơn trong việc xây dựng các mô hình kinh doanh tự chủ cho di sản, chuyển cuộc thảo luận từ câu chuyện “xin trợ cấp” sang câu chuyện “kêu gọi đầu tư”.

Toàn bộ phân tích thực chứng trong tiểu mục này đã vẽ nên một bức tranh toàn cảnh, đa chiều và giàu ý nghĩa về “thị trường cầu” cho sản phẩm du lịch NTBDTT tại TP.HCM. Những phát hiện từ dữ liệu không chỉ đơn thuần mô tả cảm nhận của du khách, mà còn cung cấp những luận cứ chiến lược, định hình một lộ trình hành động rõ ràng cho các nhà quản lý văn hóa và các bên liên quan trong hệ sinh thái du lịch của thành phố.

Thứ nhất, nghiên cứu đã phá vỡ định kiến về một thị trường khán giả lớn tuổi và co hẹp. Thay vào đó, dữ liệu cho thấy một phân khúc thị trường chất lượng cao, có trình độ học vấn, thu nhập ổn định và có nhu cầu thực sự đối với các trải nghiệm văn hóa có chiều sâu. Đây là một tín hiệu lạc quan, khẳng định NTBDTT không phải là một di sản đang “hấp hối”, mà là một tài sản văn hóa có sức sống và có một thị trường tiềm năng đang chờ được khai thác đúng cách.

 

Thứ hai, phân tích đã chỉ ra một “khoảng trống trải nghiệm” mang tính cấu trúc: du khách đánh giá rất cao giá trị văn hóa cốt lõi nhưng lại bị cản trở bởi chất lượng của các yếu tố ngoại vi như không gian, cơ sở vật chất và âm thanh. Đây chính là “điểm nghẽn” lớn nhất kìm hãm sự hài lòng và tiềm năng kinh tế của sản phẩm. Việc khắc phục điểm nghẽn này không phải là một sự lựa chọn, mà là một yêu cầu bắt buộc để nâng tầm sản phẩm.

Thứ ba, và có lẽ là quan trọng nhất, nghiên cứu đã giải mã được một sự chuyển dịch sâu sắc trong kỳ vọng của khán giả đương đại. Nhu cầu mạnh mẽ về tương tác sâu (giao lưu, tham quan hậu trường) và tích hợp công nghệ số (AR, VR, phụ đề) cho thấy du khách không còn muốn là người xem thụ động. Họ khao khát trở thành người đồng kiến tạo, muốn được tham gia, thấu hiểu và kết nối. Đây là một “đơn đặt hàng” rõ ràng từ thị trường, đòi hỏi một sự thay đổi trong tư duy từ “tổ chức biểu diễn” sang “thiết kế hành trình trải nghiệm”.

Cuối cùng, các phân tích đã cung cấp những luận cứ thực tiễn vững chắc cho các lý thuyết nền tảng của luận án. Nhận thức của du khách về vai trò của du lịch trong việc bảo tồn di sản đã củng cố cho định hướng Du lịch bền vững. Sự sẵn lòng chi trả cao nếu chất lượng được đảm bảo đã minh chứng cho các nguyên lý của Kinh tế học văn hóa, cho thấy tiềm năng tự chủ tài chính của NTBDTT là hoàn toàn khả thi.

Tựu trung lại, những phân tích về cảm nhận và nhu cầu của du khách không chỉ là một chương khảo sát thực trạng, mà còn là một bản luận cứ chiến lược. Nó chỉ ra rằng, thách thức lớn nhất của NTBDTT tại TP.HCM không phải là thiếu khán giả, mà là thiếu những sản phẩm đủ tầm vóc để đáp ứng một thị trường ngày càng tinh tế và đòi hỏi cao. Việc thấu hiểu sâu sắc những nhu cầu này chính là chìa khóa để mở ra một chương mới cho sự phát triển của du lịch văn hóa thành phố, nơi di sản không chỉ được bảo tồn mà còn thực sự “sống”, thăng hoa và tạo ra những giá trị bền vững cho tương lai.

5. Biện luận tính mới của đề tài

Với tinh thần kế thừa và học hỏi từ các công trình nghiên cứu nền tảng, kết quả nghiên cứu của đề tài đã bổ sung và làm sâu sắc hơn những hiểu biết về lĩnh vực nghiên cứu, thông qua việc vận dụng một khung phân tích mới và cung cấp những dữ liệu thực chứng có giá trị. Từ đó, luận án hy vọng sẽ đóng góp thêm một góc nhìn cho các cuộc thảo luận về quản lý văn hóa trong bối cảnh đương đại. Phần này sẽ tập trung

 

làm rõ ba đóng góp chính của đề tài: về cách tiếp cận nghiên cứu, về lý luận và chính sách và về các phát hiện thực tiễn.

5.1. Tính mới trong cách tiếp cận

Như đã trình bày tại mục 6, phần I (Đặt vấn đề), chuyên đề đã kiến tạo và vận dụng “Khung phân tích và hướng tiếp cận hệ sinh thái khai thác NTBDTT”. Tính mới của cách tiếp cận này không chỉ nằm ở việc sử dụng thuật ngữ “hệ sinh thái” một cách riêng lẻ, mà ở cách thức xây dựng và vận hành một khung phân tích đa chiều, được cấu thành từ sự hội tụ của các lý thuyết liên ngành, cho phép luận giải vấn đề một cách sâu sắc hơn.

Thứ nhất, cách tiếp cận này vượt qua các mô hình tuyến tính truyền thống (ví dụ: mô hình chuỗi giá trị) vốn thường xem xét các chủ thể một cách biệt lập. Thay vào đó, nó mô hình hóa toàn bộ lĩnh vực như một “mạng lưới ảnh hưởng” (web of influence) phức hợp, nơi các quyết định và hành động của một chủ thể (ví dụ: một chính sách của Nhà nước) có thể tạo ra những tác động lan tỏa, đa chiều và không lường trước đến các chủ thể khác (thu nhập của nghệ sĩ, chiến lược sản phẩm của doanh nghiệp, sự hài lòng của du khách). Việc truy vết và phân tích các mối liên kết chằng chịt này là một sự khác biệt có ý nghĩa so với các công trình trước đây.

Thứ hai, tính mới được thể hiện ở sự tích hợp của bốn lý thuyết nền tảng để tạo nên một lăng kính phân tích đa diện. Lý thuyết Sinh thái học văn hóa cung cấp phép ẩn dụ về một thực thể sống động phải thích ứng với môi trường. Lý thuyết Các bên liên quan giúp “lấp đầy” hệ sinh thái đó bằng các chủ thể cụ thể với những lợi ích và mâu thuẫn. Lý thuyết Kinh tế học văn hóa cung cấp công cụ để giải mã quá trình chuyển hóa giữa giá trị văn hóa và giá trị kinh tế. Cuối cùng, Lý thuyết Du lịch bền vững đóng vai trò như một khung quy chuẩn để đánh giá “sức khỏe” của toàn bộ hệ sinh thái. Sự tổng hòa này tạo ra một công cụ phân tích mạnh mẽ, có khả năng soi chiếu vấn đề từ nhiều góc độ.

Từ đó, đóng góp cốt lõi của cách tiếp cận này là làm thay đổi trọng tâm của quản lý văn hóa. Thay vì chỉ tập trung vào việc quản lý các thiết chế một cách riêng rẽ (quản lý nhà hát, quản lý câu lạc bộ…), cách tiếp cận hệ sinh thái hướng sự chú ý của nhà quản lý đến việc quản trị các giao diện (interfaces) – tức là quản lý các mối quan hệ, các điểm tương tác và các dòng chảy nguồn lực giữa các chủ thể. Đây là một sự chuyển dịch về tư duy quản lý, từ quản lý đối tượng sang quản lý mối liên kết, phù hợp

 

hơn với bản chất phức hợp và liên ngành của lĩnh vực công nghiệp văn hóa và du lịch đương đại.

5.2. Tính mới về lý luận và chính sách

Từ những phát hiện trên, luận án tiếp tục đóng góp vào diễn ngôn lý luận và thực tiễn quản lý thông qua việc cung cấp một phân tích đối sánh, dựa trên bằng chứng, lần đầu tiên được thực hiện một cách có hệ thống về hai mô hình cung ứng NTBDTT tại TP.HCM, từ đó đưa ra một đánh giá lại sâu sắc về hiệu quả của chính sách “xã hội hóa”.

Thứ nhất, luận án đã hệ thống hóa và kiến giải nghịch lý của mô hình cung ứng công. Các nghiên cứu trước đây có đề cập đến những khó khăn của các đơn vị công lập, nhưng luận án này đi xa hơn khi định danh và phân tích nghịch lý mang tính hệ thống: các đơn vị này hoạt động rất hiệu quả trong việc thực thi nhiệm vụ chính trị, phục vụ cộng đồng (thông qua các chương trình miễn phí với hàng chục ngàn lượt khán giả), nhưng lại gặp khó khăn trên thị trường thương mại. Nghịch lý này được luận giải không phải do chất lượng nghệ thuật, mà do cấu trúc vận hành bao cấp, hệ thống khuyến khích phi thị trường và một tư duy “định hướng sản xuất” thay vì “định hướng trải nghiệm”.

Thứ hai, luận án xây dựng một hệ thống phân loại các mô hình khai thác của khu vực tư nhân. Thay vì xem các hoạt động tư nhân là một khối đồng nhất, nghiên cứu đã nhận diện và phân loại thành bốn mô hình chiến lược riêng biệt: (1) Tích hợp không gian văn hóa - sinh thái; (2) Cộng hưởng ẩm thực; (3) Sân khấu chuyên nghiệp hóa; và (4) Sân khấu xã hội hóa. Việc xây dựng hệ thống phân loại này tự thân nó đã là một đóng góp học thuật mới, cung cấp một khung phân tích để hiểu rõ hơn các chiến lược thích ứng đa dạng của khu vực tư nhân trong môi trường đô thị.

Thứ ba, và quan trọng nhất, luận án sử dụng phân tích đối sánh này để đưa ra một đánh giá lại mang tính phản biện về chính sách “xã hội hóa”. Chính sách này, về mặt chủ trương, nhằm tạo ra một nền kinh tế văn hóa hỗn hợp, năng động. Tuy nhiên, dữ liệu của luận án cho thấy một hệ quả không mong muốn: sự hình thành một “khoảng trống ở giữa” (hollowed middle) của hệ sinh thái văn hóa. Một cực là các hoạt động miễn phí, mang tính đại chúng do nhà nước bao cấp. Cực còn lại là các sản phẩm tư nhân hoặc quá cao cấp, dành cho phân khúc hẹp, hoặc bị hàng hóa hóa, biến nghệ thuật thành dịch vụ phụ trợ (nhạc nền trong nhà hàng). Thứ đang thiếu vắng

 

chính là một khu vực trung gian bền vững: những sản phẩm nghệ thuật chất lượng cao, có bán vé, có khả năng tiếp cận rộng rãi – vốn là xương sống của một ngành công nghiệp văn hóa lành mạnh. Khu vực công đang gặp khó khăn trong việc lấp đầy khoảng trống này do những nghịch lý cố hữu. Khu vực tư nhân thì lại có xu hướng phân hóa về hai cực. Việc chẩn đoán “khoảng trống ở giữa” như một hệ quả không định trước của chính sách xã hội hóa là một đóng góp mới mẻ và có ý nghĩa sâu sắc đối với diễn ngôn về chính sách và quản lý văn hóa tại Việt Nam.

5.3. Tính mới về phát hiện thực tiễn

Luận án cung cấp một phân tích thực chứng dựa trên dữ liệu khảo sát về thị trường du lịch NTBDTT tại TP.HCM, từ đó mang lại hai phát hiện quan trọng.

- Phát hiện thứ nhất: Lượng hóa “Khoảng trống trải nghiệm”

Các nghiên cứu trước đây thường chỉ dừng lại ở việc nhận định chung chung về các “thách thức” hay “khó khăn”. Luận án đã lượng hóa vấn đề cốt lõi của thị trường, mà NCS định danh là “khoảng trống trải nghiệm”. Dữ liệu cho thấy một sự phân hóa rõ rệt: du khách đánh giá rất cao giá trị văn hóa nội tại của di sản, nhưng sự hài lòng chung của họ lại bị kéo xuống đáng kể bởi chất lượng yếu kém của các yếu tố dịch vụ ngoại vi.

Việc định danh và lượng hóa “khoảng trống trải nghiệm” này là một đóng góp mới mẻ và quan trọng. Nó tái định hình lại vấn đề trung tâm của NTBDTT tại TP.HCM. Vấn đề không phải là di sản đang “hấp hối” hay thiếu khán giả quan tâm, mà vấn đề thực sự nằm ở sự yếu kém trong khâu quản lý và cung ứng trải nghiệm văn hóa. “Khoảng trống” này trở thành một công cụ chẩn đoán mạnh mẽ, kết nối trực tiếp những thất bại của bên cung (các nhà hát công lập xuống cấp, các mô hình tư nhân thương mại hóa quá mức) với sự không hài lòng của bên cầu. Theo NCS, đây là một cách đặt vấn đề mới, chuyển trọng tâm từ “bảo tồn di sản” sang “quản trị trải nghiệm văn hóa”.

- Phát hiện thứ hai: giải mã những nhu cầu trải nghiệm nâng cao

Luận án đã phá vỡ định kiến lâu nay về một thị trường khán giả già cỗi và co hẹp. Đây không phải là một thị trường đại chúng, nhạy cảm về giá, mà là một thị trường tinh hoa, nhạy cảm về trải nghiệm.

Quan trọng hơn, nghiên cứu đã phát hiện ra những nhu cầu mới, chưa từng được ghi nhận một cách có hệ thống trong các nghiên cứu trước đây. Đó là mong

 

muốn được tương tác sâu và tích hợp công nghệ số, như đã phân tích trong nội dung chuyên đề. Phát hiện này cung cấp một lời giải đáp đương đại cho cuộc tranh luận kinh điển trong du lịch văn hóa về “tính chân thực” và “thương mại hóa”. Du khách đương đại trong kỷ nguyên mới không xem công nghệ là kẻ thù của tính chân thực. Ngược lại, họ xem sự thiếu hiểu biết mới là rào cản lớn nhất. Do đó, một công cụ kỹ thuật số như phụ đề đa ngữ hay ứng dụng thực tế tăng cường (AR) giúp họ giải mã được ý nghĩa, kết nối được với cảm xúc của vở diễn lại được cảm nhận là một yếu tố làm tăng tính chân thực, chứ không hề suy giảm. Phát hiện này không chỉ cung cấp một định hướng thực tiễn rõ ràng cho các nhà quản lý văn hóa, mà còn đóng góp một góc nhìn lý thuyết mới về khái niệm “tính chân thực được thương lượng” (negotiated authenticity) trong kỷ nguyên số.

 

KẾT LUẬN

Chuyên đề “Kết quả nghiên cứu và biện luận tính mới” đã hệ thống hóa và phân tích các dữ liệu thực chứng nhằm làm sáng tỏ thực trạng khai thác NTBDTT, cụ thể là ĐCTT và Cải lương, gắn với phát triển du lịch tại TP.HCM. Thông qua việc phân tích chính sách, đánh giá hoạt động của các đơn vị công lập, tư nhân và khảo sát nhu cầu của du khách, nghiên cứu đã phác họa một bức tranh đa chiều, nơi tiềm năng và nỗ lực vẫn song hành cùng những thách thức mang tính hệ thống.

Nghiên cứu cho thấy khoảng cách đáng kể giữa chủ trương và hiệu quả thực thi. Khu vực công làm tốt vai trò bảo tồn và quảng bá cộng đồng nhưng gặp trở ngại trong vận hành cơ chế thị trường; khu vực tư nhân tuy năng động và sáng tạo nhưng còn manh mún, thiếu liên kết, và tiềm ẩn nguy cơ thương mại hóa quá mức, làm suy giảm giá trị nguyên bản của di sản.

Phát hiện quan trọng từ phía cầu thị trường đã phá vỡ định kiến về lớp khán giả co hẹp, thay vào đó là sự hiện diện của một phân khúc du khách chất lượng cao, có trình độ và sẵn sàng chi trả cho trải nghiệm văn hóa. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra một “khoảng trống trải nghiệm” đáng lưu ý: du khách đánh giá cao giá trị di sản, nhưng mức độ hài lòng lại thấp do hạn chế về không gian biểu diễn, cơ sở vật chất và công nghệ sân khấu. Đồng thời, khán giả hiện đại thể hiện rõ nhu cầu tương tác sâu hơn với nghệ sĩ và kỳ vọng vào việc ứng dụng công nghệ số để nâng cao trải nghiệm, thay vì xem đó là yếu tố làm mất tính chân thực.

Tựu trung, thách thức lớn nhất của NTBDTT tại TP.HCM không nằm ở thiếu tiềm năng hay khán giả, mà ở việc chưa có những sản phẩm đủ tầm vóc, chất lượng để đáp ứng thị trường ngày càng tinh tế. NCS kỳ vọng các dữ liệu và phân tích trong chuyên đề sẽ đóng góp thiết thực vào tiến trình hoạch định chính sách, hướng đến một hệ sinh thái du lịch văn hóa bền vững – nơi di sản được bảo tồn, thăng hoa và cộng hưởng lợi ích giữa các bên liên quan.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2014), Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

2. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2020), Quyết định số 3767/QĐ-BVHTTDL ngày

11/12/2020 phê duyệt Đề án xây dựng thương hiệu quốc gia về du lịch văn hóa.

3. Đỗ Dũng (2003), Sân khấu Cải lương Nam Bộ 1918 - 2000, Nxb. Trẻ,

TP.HCM.

4. Đỗ Quốc Dũng (2025), “Kịch bản Văn học cải lương sau năm 1975”, trong Sân

khấu Cải lương TP.HCM 1975 – 2025, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.

5. Huỳnh Quốc Thắng (2025), “Nửa thế kỷ nhìn lại sân khấu cải lương TP.HCM”, trong Sân khấu Cải lương TP.HCM 1975 – 2025, Nxb Hội Nhà văn. Hà Nội.

6. Huỳnh Quốc Thắng (2025), “Sân khấu cải lương TP.HCM sau năm 1975 đến nay, nguyên nhân khủng hoảng và những vấn đề đặt ra”, trong Sân khấu Cải lương TP.HCM 1975 – 2025, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.

7. Lê Thị Hải Lý (2015), Mối quan hệ giữa văn hóa du lịch và du lịch văn hóa – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn ThS Du lịch, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG Hà Nội.

8. Nguyễn Đức Hiệp (2017), Nghệ thuật sân khấu: Hát bội, Đờn ca tài tử và Cải lương ở Sài Gòn và Nam Kỳ cuối thế kỷ 19 đến 1945, Nxb. Văn hóa – Văn nghệ, TP.HCM.

9. Nguyễn Mộng Long (2025), “Cải lương và công chúng hôm nay” trong Sân

khấu Cải lương TP.HCM 1975 – 2025, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.

10. Nguyễn Thị Hải Phượng (2018), “Nghệ thuật Đờn ca tài tử - Cải lương gắn liền với du lịch cộng đồng tại TP.HCM”, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Bảo tồn và Phát huy giá trị di sản nghệ thuật ĐCTT Nam Bộ trên địa bàn TP.HCM, tr. 35.

11. Nguyễn Tuấn Khanh (2018), Bước đường cải lương, Nxb Tổng hợp, TP.HCM.

12. Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang, Báo cáo tổng kết hoạt động các năm 2020,

2021, 2022, 2023, 2024.

 

13. Quốc hội (2017), Luật Du lịch số 09/2017/QH14 ngày 19/6/2017.

14. Quốc hội (2024), Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15 ngày 23/11/2024.

15. Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM (2022), Kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ trên địa bàn TP.HCM đến năm 2025.

16. Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM & Sở Du lịch TP.HCM (2020), Kế hoạch liên tịch số 5644/KHLT-SVHTT-SDL ngày 22/9/2020 về biểu diễn nghệ thuật truyền thống phục vụ phát triển du lịch.

17. Thanh Hiệp (2025), “Khuynh hướng quảng bá vở diễn Cải lương mang tính văn học từ năm 1975 đến năm 2024”, trong Sân khấu Cải lương TP.HCM 1975 – 2025, Nxb Hội Nhà văn.

18. Thủ tướng Chính phủ (2015), Quyết định số 14/2015/QĐ-TTg ngày 20/5/2015 quy định chế độ phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp và chế độ bồi dưỡng đối với người làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn.

19. Thủ tướng Chính phủ (2016), Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 8/9/2016 phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

20. Thủ tướng Chính phủ (2021), Quyết định số 1909/QĐ-TTg ngày 12/11/2021

phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030.

21. Thủ tướng Chính phủ (2024), Chỉ thị số 08/CT-TTg ngày 23/2/2024 về phát triển du lịch toàn diện, nhanh và bền vững thời gian tới.

22. Trung tâm Văn hóa TP.HCM, Báo cáo tổng kết hoạt động các năm 2020, 2021,

2022, 2023, 2024.

23. Ủy ban nhân dân TP.HCM (2015), Quyết định số 5338/QĐ-UBND ngày

21/10/2015 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW.

24. Ủy ban nhân dân TP.HCM (2021), Kế hoạch số 4311/KH-UBND ngày 20/12/2021 triển khai Đề án phát triển du lịch thông minh trên địa bàn TP.HCM giai đoạn 2021-2025.

25. Ủy ban nhân dân TP.HCM (2023), Quyết định số 4853/QĐ-UBND ngày 25/10/2023 phê duyệt Đề án Phát triển ngành công nghiệp văn hóa TP.HCM đến năm 2030.

 

26. Võ Thị Yến (2025), "Tác giả và khuynh hướng sáng tác kịch bản sân khấu cải lương Nam Bộ từ năm 1975 đến nay", trong Sân khấu Cải lương TP.HCM 1975 – 2025, Nxb Hội Nhà văn.

Tiếng Anh

27. Beardsley, Monroe C. (1981), Aesthetics: Problems in the Philosophy of Criticism (2nd ed.), Hackett Publishing, Indianapolis.

28. Krejcie, Robert V. & Morgan, Daryle W. (1970), “Determining Sample Size for Research Activities”, Educational and Psychological Measurement, 30(3), pp. 607-610.

29. Throsby, David (2001), Economics and Culture, Cambridge University Press, Cambridge.

30. UNESCO (2003), Convention for the Safeguarding of the Intangible Cultural Heritage, Paris.

31. UNWTO (2005), Definition of Cultural Tourism, World Tourism Organization, Madrid.

32. Le, Tinh & Chieu, Tuan (2025), “The promising future of Vietnam’s cultural industries”, VietNamNet, truy cập ngày 20/7/2025, từ https://vietnamnet.vn/en/the-promising-future-of-vietnam-s-cultural-industries- 2365812.html.

33. Nhan Dan Online (2024), “Ho Chi Minh City serves 23 million visitors in seven months”, Nhan Dan Online, truy cập ngày 20/7/2025, từ https://en.nhandan.vn/ho-chi-minh-city-serves-23-million-visitors-in-seven- months-post138204.html.

34. Tuoi Tre News (2025), “Ho Chi Minh City generates handsome tourism revenue in Q1”, Tuoi Tre News, truy cập ngày 20/7/2025, từ https://news.tuoitre.vn/ho-chi-minh-city-generates-handsome-tourism-revenue- in-q1-10385529.htm.


văn hóa học

Đăng nhận xét

Mới hơn Cũ hơn